Vi phạm di tích lịch sử, văn hóa danh lam thắng
cảnh – Thực trạng và giải pháp
Khoa Thị Khánh Chi
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Khái quát chung về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh. Nghiên cứu
và đánh giá toàn diện những hành vi vi phạm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh qua một số vi phạm di tích điển hình như: di tích chùa Phước Điền (chùa Hang) –
An Giang; di tích đền Độc Cước – Thanh Hóa; di tích Mộ và Đền thờ Trần Quý Khoáng
– Nghệ An; di tích núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị - Lạng Sơn. Đưa ra những nguyên
nhân khách quan và chủ quan của thực trạng vi phạm di tích đó. Kiến nghị một số giải
pháp nhằm hạn chế sự vi phạm di tích để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tại Việt Nam
Keywords: Pháp luật; Danh lam thắng cảnh; Văn hóa; Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Điều 34 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản
văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng
của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam,
thắng cảnh.
Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình
nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh”.
hành vi xâm hại di tích và tìm ra những biện pháp xử lý là một trong những nhiệm vụ cần thiết
và cấp bách hiện nay.
Nhận thức được tính thời sự và cấp bách của vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài “Vi phạm di
tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, thực trạng và giải pháp” cho luận văn thạc sĩ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta hiện nay, vấn đề về vi phạm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh hầu
như chưa có nhà khoa học nào quan tâm, nghiên cứu, chưa có công trình nghiên cứu khoa học
nào nghiên cứu trực tiếp, sâu và toàn diện về vấn đề này. Tuy nhiên, có những bài viết liên quan
đến vấn đề này như:
- Nguyễn Thế Hùng (2004), “Đôi điều về tu bổ di tích tín ngưỡng – tôn giáo”, Tạp chí di
sản văn hóa, số 6, tr 62-65, Hà Nội.
- Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính
đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí di sản văn hóa, số 15, tr10-16, Hà Nội.
- Đỗ Văn Trụ (2005), “Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của
nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc”, Tạp chí di sản văn
hóa, số 13, tr 20-23, Hà Nội.
- Nguyễn Thế Hùng (2007), “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và
phát triển đất nước”, Tạp chí di sản văn hóa, số 20, tr 27-31, Hà Nội.
- Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Truyền thống văn hóa Việt Nam qua di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh”, Tạp chí di sản văn hóa, số 25, tr 3-8, Hà Nội.
- Đoàn Bá Cử (2006), “Đôi điều về tu bổ di tích trong thời gian qua”, Tạp chí di sản văn
hóa, số 17, tr 69-72, Hà Nội.
- Hà Văn Tấn (2008), “Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 2, Cục Di sản văn hóa, tr 44-54,
Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Toàn (2008), “Tu bổ, tôn tạo di tích trong cuộc sống đương đại – Mấy vấn
đề đặt ra”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 4, Cục Di sản văn hóa, tr 69-76, Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước về di sản văn hóa và thực trạng vi phạm di tích
- Góp phần hoàn thiện các môn học về quản lý di sản văn hóa Việt Nam.
6. Bố cục của luận văn
Kết cấu đề tài ngoài phần giới thiệu mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương. Khái quát chung về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
Chương 2. Thực trạng vi phạm di tích
Chương 3. Giải pháp nhằm hạn chế vi phạm di tích, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và
bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ -VĂN HÓA, DANH LAM
THẮNG CẢNH
1.1. Khái niệm di tích
Di tích lịch sử - văn hóa (gọi chung là di tích) là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể. Từ
những khái niệm trên, ta có khái niệm di tích là “công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Trong
đó, di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”; cổ vật
được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có
từ 100 năm tuổi trở nên”; bảo vật quốc gia được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị
đặc biệt quý hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học”.
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên
nhiên và công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học.
1.2. Phân loại di tích
Căn cứ vào đặc điểm nội dung và hình thức thì di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh được phân ra thành 4 loại: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ học và
danh lam thắng cảnh.
1.2.1. Di tích lịch sử bao gồm những công trình, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu
trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,
danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Di tích lịch sử
Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá quy định “Nghiêm cấm
các hành vi sau đây: Chiếm đoạt, làm sai lệch di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; huỷ
hoại, hoặc gây nguy cơ huỷ hoại di sản văn hoá; đào bới trái phép địa điểm khảo cổ, xây dựng
trái phép, lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử-văn hoá, danh lam thắng cảnh; mua bán, trao
đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử-văn hoá, danh lam
thắng cảnh và di vât, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc bất hợp pháp, đưa trái phép di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài”.
Những hành vi mà Luật di sản văn hoá và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản
văn hoá quy định là phải có giấy phép mới được thực hiện nhưng vẫn thực hiện mà không có
giấy phép. Ví dụ điển hình cho hành vi vi phạm này là Di tích Hồ Tịnh Tâm (Thừa thiên Huế).
Tại di tích này, một số hộ dân trong khu vực bảo vệ di tích Hồ Tịnh Tâm đã tiến hành cải tạo,
sửa chữa, xây dựng mới một số công trình trong khu vực di tích mà không có sự đồng ý bằng
văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chính quyền địa phương đã đình chỉ và bắt tháo
dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép. Nhưng đến nay, các công trình này không những
không bị tháo dỡ mà còn được hoàn thiện.
Những hành vi mà khi được cấp giấy phép rồi nhưng thực hiện không đúng với nội dung
trong giấy phép. Ví dụ điển hình cho hành vi vi phạm này là di tích đền Độc Cước, đền Cô Tiên,
tỉnh Thanh Hóa. Di tích này điển hình cho hai hành vi vi phạm chính đó là tu bổ tôn tạo không
đúng với những nội dung mà Cục Di sản văn hóa đã cho phép và xây dựng các công trình trong
khu vực bảo vệ II, phá vỡ cảnh quan môi trường di tích. Trong văn bản cho phép nêu rất rõ
“Không xây dựng lầu hóa vàng và lầu vọng cảnh; giữ nguyên hiện trạng môn lâu, không thay đổi
kết cấu và họa tiết trang trí trên các cấu kiện khi tu bổ môn lâu; tu bổ tôn tạo Tiền đường theo
hình thức, cấu trúc vì kèo hiện trạng, không tu bổ theo hình thức vì kèo của tòa Trung đường,
riêng phần kẻ cổ ngỗng ở hiên cần nghiên cứu tu bổ cho phù hợp với hình thức kết cấu bên trong,
phải đảm bảo được vững chắc, chống chịu được mưa bão; Hạng mục Trung đường: cần bảo tồn
tuyệt đối các mảng trạm khắc thế kỷ 17, 18; đánh dấu các cấu kiện thay mới, cấu kiện tu bổ và
cấu kiện bảo quản tái sử dụng trên các bản vẽ thiết kế tu bổ, tôn tạo, đồng thời bổ sung bản vẽ
nối, vá, thay cốt, ốp mang; Thống nhất phương án thay thế hệ thống vì kèo gỗ phần xây bằng
gạch không phù hợp của gian cuối hậu cung; Trước khi hạ giải các cấu kiện kiến trúc cần đánh
số và sau khi hạ giải cần đánh giá, phân loại tình trạng các cấu kiện kiến trúc để có phương án tu
Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM DI TÍCH
2.1. Thực trạng chung
Nhận thức của toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa, giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích
lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh nói riêng ngày càng được nâng cao. Bảo vệ di tích, phát
huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh
chống vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Hàng ngàn di tích
được xếp hạng và tu bổ trong mấy chục năm qua đã thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội
chăm lo và bảo vệ di tích. Về cơ bản hệ thống di tích của đất nước đã được bảo vệ, chăm sóc và
tu bổ bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng
ta chưa có nhiều điều kiện chăm lo, bảo vệ di tích nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn
còn nhiều di tích bị vị phạm chưa được giải tỏa. Phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ nhiều
chục năm nay nên việc giải quyết cần có quyết tâm và sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp.
Qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy một số vấn đề sau:
Cảnh quan môi trường truyền thống của một số di tích bị biến dạng một phần hay toàn bộ
do các công trình xây dựng xung quanh di tích không phù hợp với quy hoạch truyền thống của
khu di tích về vị trí, màu sắc, hình dáng, kiến trúc. Cảnh quan, môi trường xung quanh di tích là
một yếu tố quan trọng cấu thành di tích, do vậy, những công trình xây dựng bao quanh di tích có
quy mô quá lớn cả về chiều cao và diện tích sẽ làm chi di tích trở nên nhỏ bé và bị thu hẹp. Ví dụ
điển hình vi phạm tại di tích chùa Vua, chùa Linh Ứng (Hà Nội), chùa Giác Viên, chùa Phụng
Sơn (thành phố Hồ Chí Minh).
Một trong những hành vi xâm hại di tích phổ biến nữa đó là hiện tượng xây dựng mới, tu
bổ, tôn tạo di tích một cách tuỳ tiện, không có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hiện tượng tu bổ, tôn tạo và xây dựng mới di tích còn diễn ra phổ biến ở một số địa phương.
Điều này xuất phát từ quan điểm thích cái mới, cái to lớn, hoành tráng mà không hiểu được
những giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học, thẩm mỹ và kiến trúc. Những di tích này cần
phải được bảo tồn và lữu giữ lại cho các thế hệ mai sau, đặc biệt là giữ lại những yếu tố gốc cấu
thành di tích. Việc tu bổ tôn tạo phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và phải đúng
trình tự thủ tục theo luật định. Tu bổ, tôn tạo di tích có nghĩa là chúng ta dựa trên những cứ liệu
khoa học để giữ lại những yếu tố, những giá trị gốc của di tích cho các thế hệ mai sau. Hay nói
núi Sam thuộc ấp Vĩnh Tây 1, phường núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Khu di tích này
đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích quốc gia tại Quyết định số 92-VHTT/QĐ
ngày 10/7/1980. Chùa đã bị sư Thích Thiện Tài, trụ trì chùa này tự ý đập phá, di dời làm thay
đổi, biến dạng toàn bộ kiến trúc và nội thất chùa, có hành vi cố ý vi phạm trong tu sửa làm thay
đổi vật liệu và kiểu dáng công trình kiến trúc. Qua kiểm tra thực tế tại di tích nhận thấy di tích đã
bị vi phạm khá nhiều: gắn gạch men bệ thờ, lát nền gạch men, thay đổi mặt tiền nhà hậu tổ, Khu
vực Tây lang, khu vực hậu tổ, tùy tiện thay cửa sắt phá vỡ hiện trạng và làm hư hỏng các tranh
điển tích Phật, làm nhà tiền chế, lát gạch mới hiện đại, làm thêm phần mái ở giảng đường, làm
thêm phòng nghỉ mà không xin phép các ngành chức năng. Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch đã có rất nhiều công văn gửi Sở và Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang đề nghị
giải quyết dứt điểm tình trạng vi phạm tại di tích chùa Phước Điền và có phương án trả lại cảnh
quan và kiến trúc cũ cho di tích.
Qua sự việc vi phạm tại di tích chùa Phước Điền (chùa Hang), tác giả nhận thấy, người
trông coi, quản lý trực tiếp di tích mà không nhận thức và hiểu biết đúng đắn về pháp luật, hay
nói sâu hơn là không tâm huyết với di tích thì chắc chắn di tích sẽ bị xâm hại bằng cách này hay
cách khác. Việc nhận thức đúng đắn hoạt động tu bổ, tôn tạo, sửa chữa di tích là một vấn đề đòi
hỏi người quản lý, trông coi di tích phải nỗ lực, cố gắng, phối hợp với chính quyền các cấp để
bảo vệ và phát huy giá trị di tích tốt hơn.
2.2.2. Di tích Đền Độc Cước – Thanh Hóa
Đền Độc Cước là một di tích kiến trúc nghệ thuật thế kỷ XVII, nằm trong quần thể di tích
thắng cảnh Sầm Sơn trên địa phận xã Trường Sơn, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một
trong những di tích được Bộ Văn hóa xếp hạng đợt đầu tiên tại Quyết định số 313-VH/VP ngày
28/4/1962. Di tích này điển hình cho hai hành vi vi phạm chính đó là tu bổ tôn tạo không đúng
với những nội dung mà Cục Di sản văn hóa đã cho phép và xây dựng các công trình trong khu
vực bảo vệ II, phá vỡ cảnh quan môi trường di tích.
Thứ nhất, là việc tu bổ, tôn tạo không đúng với những quy định đã nêu trong văn bản thỏa thuận.
Cục Di sản văn hóa nhận được tờ trình số 97-TT/UBND ngày 28/11/2006 đề nghị thỏa thuận
thiết kế kỹ thuật thi công tu bổ, tôn tạo đền Độc Cước. Sau khi nghiên cứu, xem xét hồ sơ thiết
kế kỹ thuật, Cục Di sản văn hóa đã đồng ý cho Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn nhưng lưu ý một
số vấn đề như: Không xây dựng lầu hóa vàng và lầu vọng cảnh; giữ nguyên hiện trạng môn lâu,
cùng độc đáo (thế kỷ XVII). Trước khi có công trình này, du khách có thể ngắm nhìn hòn Cổ
Giải (đầu rùa) và đền Độc Cước từ nhiều phía. Thế nhưng, từ khi khu du lịch văn hóa xây dựng,
mọi cảnh quan bị che lấp hoàn toàn, theo quy định độ cao khống chế của công trình là 5,5m so
với mặt đường Hồ Xuân Hương, nhưng Công ty Biển Nhớ vẫn phớt lờ những quy định trên, bỏ
qua dư luận và vi phạm nghiêm trọng Luật di sản văn hóa. Trong báo cáo kết luận Thanh tra của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa thì “quá trình xây dựng các hạng mục công trình
vui chơi, giải trí từ năm 2002 đến nay, Trung tâm Thương mại và Đầu tư không hề có báo cáo Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch để có sự thống nhất về vành đai bảo vệ di tích và sự ảnh hưởng của
các công trình đối với di tích theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và những quy định của
Luật di sản văn hóa, các hạng mục công trình xây dựng năm 2004 không có thiết kế được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt, công trình xây dựng không có giấy phép. Tất cả các hạng mục
nêu trên chỉ dựa trên bản vẽ tổng thể mặt bằng quy hoạch, mặt bằng hiện trạng, giới hạn khu đất
và bản phối cảnh tổng thể khu di tích văn hóa – vui chơi giải trí đền Độc Cước”.
Qua vụ việc vi phạm pháp luật về tu bổ, tôn tạo và xây dựng khách sạn Biển Nhớ tại đền
Độc Cước, tác giả nhận thấy rằng, việc ban hành pháp luật là quan trọng, nhưng để pháp luật có
hiệu lực trên thực tế và được áp dụng một nghiêm túc càng khó hơn. Hành vi vi phạm di tích có
thể được thực hiện từ nhiều phía, từ cá nhân, tổ chức, đến các nhà quản lý.
2.2.3. Di tích Mộ và đền thờ Trần Quý Khoáng – Nghệ An
Tại xóm Đức Thịnh, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An có ngôi Đền Trung và
một ngôi mộ cổ. Ngôi mộ được xây bằng xi măng, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 600m
2
có
tường bao, đắp chữ “Trùng Quang Đế” và câu đối. Sát khuôn viên mộ là Đền Trung, tọa lạc trên
một mảnh đất rộng chừng 1.000m
2
. Năm 1962, ngôi đền bị phá dỡ, chuyển dịch về phía sau,
cách nền cũ khoảng 70m để làm kho của hợp tác xã. Đồ thờ của Đền được gửi vào nhà thờ họ
Trần cùng xóm (cách đền và mộ khoảng 500m). Về sau, nhà kho bị cháy, nay chỉ còn tường,
mái, xà, cột, trong đó có một số xà được chạm khắc, sơn son thếp vàng.
Khoảng cuối những năm 1990, một số người dòng tộc họ Trần trong xóm cho rằng Đền
Quý Khoáng thì chưa đủ tiêu chí để công nhận là di tích cấp quốc gia, mặt khác đền thờ đã được
dòng họ hợp nhất cùng nhà thờ để thờ phụng và đồng nhất quan điểm lập tờ trình xét di tích, mặc
dù giữa nhà thờ và đền thờ trước năm 1959 – 1960 là thờ ở hai nơi.
Kết luận là, Quyết định số 05/1999-QĐ-BVHTT ngày 12/02/1999 công nhận di tích lịch sử
cấp quốc gia Mộ và Đền thờ Trần Quý Khoáng phần đền thờ Trần Quý Khoáng trong hồ sơ
di tích khi kiểm tra chưa đúng với thực tế di tích vốn có, cần được xem xét lại và ra cuối cùng
Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ra quyết định Thu hồi Quyết định và Bằng công
nhận di tích lịch sử Mộ và Đền thờ Trần Quý Khoáng.
Như vậy, sau hơn 10 năm tồn tại là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, di tích này đã trở
lại vị trí ban đầu của nó.
Từ thực tế vụ việc nêu trên, chúng ta cần rút kinh nghiệm để chấm dứt điểm nóng khiếu nại
tố cáo về di tích hiện nay đang tiếp tục ở nhiều địa phương.
Việc xây dựng hồ sơ di tích, kiểm tra, thẩm định hồ sơ di tích tại thực địa cần được tiến
hành cẩn thận, đảm bảo tính khoa học, tránh tình trạng xảy ra sai phạm dẫn tới khiếu kiện của
nhân dân. Đây là một vi phạm di tích điển hình từ trước đến nay. Nó làm ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của di tích. Lỗi này hoàn toàn thuộc về các cấp chính quyền
từ trung ương đến địa phương trong việc nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di tích. Từ thực tế này
cho thấy, phải tuân thủ pháp luật nhưng cũng phải tính đến quyền lợi của nhân dân (ở đây là
quyền lợi và danh dự của cả một dòng họ).
2.2.4. Di tích Núi Tam Thanh và núi nàng Tô Thị - Lạng Sơn
Núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị nằm trong lòng thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Phía
Bắc hai dãy núi giáp với sông Kỳ Cùng nhìn sang nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ba mặt
còn lại được bao bọc bởi khu dân cư của thành phố Lạng Sơn. Hai dãy núi này có đặc điểm là
những núi thấp có nhiều mỏm núi nhô cao nhìn ra bốn bề xung quanh là thành phố Lạng Sơn và
sông Kỳ Cùng. Trong dãy núi Nhất Nhị Tam Thanh có động Nhất Nhị Tam Thanh, núi Nàng Tô
Thị với cảnh quan đẹp và những đoạn tường còn lại của Thành nhà Mạc do nhà Mạc xây dựng
bằng đá để bảo vệ biên cương phía Bắc.
Với giá trị, ý nghĩa lịch sử to lớn và với cảnh quan đẹp gắn liền với sự tích Nàng Tô Thị
chờ chồng, mà hai khu vực này được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp
hạng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia tại Quyết định số 313-VH/VP ngày
và chống Mỹ, nên các di tích không thể tránh khỏi sự huỷ hoại của bom đạn kẻ thù. Trong khi
đó, thời gian và công sức của cả dân tộc trong giai đoạn đó đều dồn hết vào việc giải phóng dân
tộc thống nhất đất nước nên không có điều kiện để trùng tu, tôn tạo và bảo vệ di tích.
Sự khắc nghiệt của khí hậu làm cho các di tích khó chống chọi lại với thời gian. Mưa bão, lũ lụt
đã làm cho một số di tích biến mất chỉ tròn một thời gian ngắn. Hầu hết số di tích còn lại đều bị
xuống cấp và có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Một số di tích với kiến trúc chủ yếu làm bằng gỗ
nên rất hay bị hoả hoạn do khí hậu hanh khô gây nên. Tuy nhiên, cũng có những di tích bị cháy
do thiếu ý thức của con người.
2.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Ngoài nguyên nhân khách quan nêu trên, vấn đề nhận thức của toàn xã hội về vấn đề bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá còn rất hạn chế, chưa nhận thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng
của di tích, chưa đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Vì thế, di tích không được quan
tâm và bảo vệ, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm hại di tích.
Mặc dù Luật di sản văn hoá và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá quy
định rất rõ về quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hoá nhưng xem ra nhận thức giữa các cấp, các ngành chưa được nhất quán, đồng
bộ. Cấp thành phố chưa quan tâm đúng mức, cấp quận, huyện chưa phát huy hết khả năng, còn
trông chờ ỷ lại vào thành phố. Cấp phường, xã còn e ngại, né tránh sự va chạm. Vì thế, di tích
vẫn bị xuống cấp do các hành vi vi phạm trực tiếp hoặc gián tiếp của con người gây ra.
Luật Di sản văn hoá quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trong việc quản lý di sản văn hoá. Nhưng trên thực tế, việc sắp xếp,
tổ chức về cơ cấu, bộ máy của các cấp quận, huyện còn chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
của từng cơ quan trong việc quản lý và bảo vệ di tích. Việc thực thi pháp luật còn rất lung túng
dẫn đến tình trạng khi di tích bị xâm hại không được xử lý, giải quyết kịp thời. Vì thế, dẫn đến
tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc xử lý vi phạm di tích.
Khảo sát di tích ở Hà Nội và một số tỉnh, thành phố khác tác giả nhận thấy những hộ dân ở
tại di tích từ hàng chục năm nay vì nhiều lý do khác nhau (nhập cư vào Hà Nội không có nhà ở,
do nhà bị phá huỷ trong chiến tranh…). Đây là hậu quả mà lịch sử để lại, chúng ta phải giải
quyết hợp tình, hợp lý.
Việc di dời các hộ dân đang sinh sống tại đất di tích không phải một sớm, một chiều, vì quỹ
nhà nước về di tích và danh lam thắng cảnh theo hướng mở rộng xã hội hóa, thu hút sự tham gia
rộng rãi của nhân dân vào việc bảo vệ và phát huy di tích, gắn với quản lý nhà nước bằng pháp
luật.
3.2. Các giải pháp nhằm hạn chế vi phạm di tích
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về di sản văn hóa
3.2.2. Nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ và phát
huy giá trị di tích
3.2.3. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa
3.2.4. Tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là ở địa phương
- Công tác kiểm kê và xếp hạng di tích
- Chính sách đầu tư cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh.
- Đào tạo nguồn nhân lực
3.2.5. Những biện pháp hỗ trợ, di dời những hộ dân ra khỏi di tích
3.2.6. Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý di tích
3.2.7. Kiểm tra và hoàn thiện hồ sơ xếp hạng di tích
3.2.8. Xây dựng nhiều chế độ, chính sách về tài chính cho công tác bảo vệ di tích
3.2.9. Đưa di tích đến với cộng đồng
3.2.10. Giải quyết giữa bảo tồn và phát triển
3.2.11. Nghiên cứu, phục dựng lại di tích
3.2.12. Tăng cường các biện pháp xử phạt hành chính
KẾT LUẬN
Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ
họp thứ 9 thông qua đã khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy
các di sản văn hóa. Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa là
nhân, công nhân phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay.
Những hành vi lấn chiếm đất tại di tích cũng đang dần được kiểm soát bởi hệ thống văn bản
pháp luật ngày càng được hoàn thiện và việc tuyên truyền giáo dục pháp luật về di sản văn hóa
đến với người dân ngày càng đạt hiệu quả cao. Tăng cường công tác quản lý di tích từ trung
ương đến địa phương và đặc biệt là đưa người dân cùng với chính quyền địa phương vào quản lý
cùng thực hiện hoạt động quản lý di tích. Gắn trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng vào
công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và di tích nói riêng. Việc di dời
những hộ dân đang sống trong di tích cũng đã và đang được triển khai tại một số tỉnh thành phố
trong cả nước và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn trong
công tác di dân ra khỏi di tích, nhưng sẽ từng bước tháo gỡ và sẽ đạt được kết quả như mong
muốn. Di tích sẽ bảo tồn được những giá trị gốc và được giữ gìn cho các thế hệ mai sau.
References
1. Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính
đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 15, tr 10-16, Hà Nội.
2. Đặng Văn Bài (2007), “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển”, Tạp chí Di sản
văn hóa, số 19, tr 11-14, Hà Nội.
3. Đặng Văn Bài (2007), Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Bảo tồn di tích và cuộc sống
đương đại”, Hà Nội.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ
năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền Văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (2001), Quyết định số 1706/QĐ-BVHTT ngày
24/7/2001 phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn
hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Bộ trưởng Bộ văn hóa – Thông tin (2003), Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày
06/2/2003 về việc ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi, NXB chính trị quốc gia,
Hà Nội.
7. Bộ trưởng Bộ văn hóa – Thông tin (2004), Quyết định số 13/2004/QĐ-BVHTT ngày
01/4/2004 ban hành về việc ban hành “Định mức dự toán bảo quản, tu bổ và phục hồi ”,
19. Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Truyền thống Việt Nam qua di tích lịch sử văn hóa và danh
lam thắng cảnh”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 25, tr 3-8, Hà Nội.
20. Nguyễn Thế Hùng (2004), “Đôi điều về tu bổ di tích tín ngưỡng – tôn giáo”, Tạp chí Di
sản văn hóa, số 6, tr 62-65, Hà Nội.
21. Nguyễn Thế Hùng (2007), “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và
phát triển đất nước”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 20, tr 27-31, Hà Nội.
22. Doãn Minh Khôi (2010), “Bảo tồn di tích trong không gian phát triển đô thị”, Tạp chí Di
sản văn hóa, số 31, tr 102-103, Hà Nội.
23. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật di sản văn hóa, NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003) Luật Xây dựng, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai, Hà Nội.
27. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Khoáng sản, Hà Nội.
28. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật di sản văn hóa, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Hà Văn Tấn (2008), “Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 2, tr 44-54, Nhà xuất bản
Thế giới, Hà Nội.
30. Thủ tướng Chính phủ (1957), Nghị định số 519/TTg quy định thể lệ về bảo tồn di tích, Hà
Nội.
31. Thủ tướng Chính phủ (2002), Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18/02/2002 về tăng cường
các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn trục vớt, đào bới trái phép
di chỉ khảo cổ học, Hà Nội.
32. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 19/2003/QĐ-TTg ngày 28/1/2003 phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đến năm 2005, Hà Nội.
33. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31/7/2007 phê duyệt
Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006-2010, Hà Nội.
34. Nguyễn Hữu Toàn (2008), “Tu bổ, tôn tạo di tích trong cuộc sống đương đại – Mấy vấn đề