ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT KHOA THỊ KHÁNH CHI
VI PHẠM DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
DANH LAM THẮNG CẢNH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
7
1.2.2
Di tích kiến trúc nghệ thuật
8
1.2.3
Di tích khảo cổ học
8
1.2.4
Danh lam thắng cảnh
8
1.3
Vi phạm di tích
9
1.3.1
Khái niệm
9
1.3.2
Phân loại vi phạm di tích
11
1.4
Cơ sở pháp lý để ngăn chặn và xử lý vi phạm di tích
13
1.4.1
Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành
lập Đông Phương Bác Cổ học viện và Bảo tồn cổ tích trên toàn
cõi Việt Nam
14
1.4.2
Nghị định số 519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 quy định
các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích
Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM DI TÍCH
20
2.1
Thực trạng chung
20
2.2
Một số vi phạm di tích điển hình
32
2.2.1
Di tích chùa Phước Điền (chùa Hang)-An Giang
32
2.2.2
Di tích đền Độc Cước – Thanh Hóa
37
2.2.3
Di tích Mộ và Đền thờ Trần Quý Khoáng – Nghệ An
47
2.2.4
Di tích núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị - Lạng Sơn
65
2.3.
Nguyên nhân
84
2.3.1
Nguyên nhân khách quan
84
2.3.2
Nguyên nhân chủ quan
85
93
3.2.4
Tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là ở địa phương
94
3.2.5
Những biện pháp hỗ trợ, di dời những hộ dân ra khỏi di
tích
96
3.2.6
Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý di tích
97
3.2.7
Kiểm tra và hoàn thiện hồ sơ xếp hạng di tích
98
3.2.8
Xây dựng nhiều chế độ, chính sách về tài chính cho công tác
bảo vệ di tích
99
3.2.9
Đưa di tích đến với cộng đồng
99
3.2.10
Giải quyết giữa bảo tồn và phát triển
100
3.2.11
Nghiên cứu, phục dựng lại di tích
103
3.2.12
trị truyền thống mà cha ông ta đã để lại, ngày 29 tháng 10 năm 1957 Thủ
tướng Chính phủ Ban hành Nghị định số 519-TTg về việc bảo vệ di tích lịch
sử, cách mạng và danh thắng. Trải qua 27 năm thực hiện Nghị định 519-TTg,
Bộ Văn hoá - Thông tin đã xếp hạng được 187 di tích. Sau đó, ngày 04 tháng
4 năm 1984 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã công bố Lệnh số 14-
LCT/HĐNN7 ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá
và danh lam thắng cảnh.
Trong điều kiện hiện nay, khi đất nước đang tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc bảo vệ các di tích ngày càng trở nên quan
trọng. Luật Di sản văn hoá được Quốc hội khoá IX thông qua và có hiệu lực
2
từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
di sản văn hóa năm 2009 nhằm cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước về bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản văn hoá trong bối cảnh
đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Nghị quyết TW 5 khoá VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam đã chỉ ra rằng di sản văn hoá là bộ phận cấu thành cơ bản nhất
của văn hoá. Văn hoá là nền tảng tinh thần của toàn xã hội, vừa là mục tiêu
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Văn hoá thể hiện tâm
hồn và khí phách của người Việt Nam, nhân chứng của lịch sử Việt Nam, thể
hiện lòng tự hào của nhân dân Việt Nam về đất nước và con người, về truyền
thống hào hùng của dân tộc.
Tuy nhiên, hiện nay một phần không nhỏ các di tích đang bị xâm hại
dẫn đến di tích bị xuống cấp nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân như: chiến
tranh tàn phá, sự huỷ hoại của thời gian và khắc nghiệt của khí hậu. Bên cạnh
đó, sự thiếu ý thức của con người cũng làm cho các di tích bị biến dạng,
xuống cấp. Tình trạng vi phạm di tích đang diễn ra ở nhiều địa phương trong
cả nước.Việc đào bới, khai quật khảo cổ trái phép, lấn chiếm, xây dựng trái
phép, tu bổ, tôn tạo di tích không theo một quy hoạch nhất định đã làm cho di
- Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Truyền thống văn hóa Việt Nam qua di
tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh”, Tạp chí di sản văn hóa, số 25,
tr 3-8, Hà Nội.
- Đoàn Bá Cử (2006), “Đôi điều về tu bổ di tích trong thời gian qua”,
Tạp chí di sản văn hóa, số 17, tr 69-72, Hà Nội.
- Hà Văn Tấn (2008), “Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”, Một con đường tiếp cận di sản văn
hóa, tập 2, Cục Di sản văn hóa, tr 44-54, Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Toàn (2008), “Tu bổ, tôn tạo di tích trong cuộc sống
đương đại – Mấy vấn đề đặt ra”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập
4, Cục Di sản văn hóa, tr 69-76, Hà Nội. 4
3. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước về di sản văn hóa và thực trạng
vi phạm di tích hiện nay, với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
(bằng cách xây dựng và ban hành những văn bản quy phạm pháp luật) nhằm
hạn chế những hành vi vi phạm di tích và bảo vệ di tích những tác động xấu
từ con người và tự nhiên. Tìm ra những giải pháp thích hợp để ứng xử phù
hợp khi có những hành vi xâm phạm di tích.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Những hành vi vi phạm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh
của tổ chức, cá nhân; những hoạt động xây dựng và ban hành hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa.
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Vi phạm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng
cảnh trên địa bàn cả nước.
Phạm vi thời gian: Từ khi Luật di sản văn hóa có hiệu lực ngày
Chương 1: Khái quát chung về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh.
Chương 2: Thực trạng vi phạm di tích.
Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế vi phạm di tích, nâng cao hiệu quả
công tác quản lý và bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
6
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA,
DANH LAM THẮNG CẢNH
1.1. Khái niệm di tích
Trước khi tìm hiểu khái niệm di tích, phải hiểu về di sản văn hóa. Theo
quy định của Luật di sản văn hóa được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 thì di sản văn hóa
bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh
thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ
này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 28, tr 32.
Trong khái niệm này, thì di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật
thể và di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm tinh thần gắn
với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng
+ Di sản kiến trúc đô thị:
. Ý tưởng quy hoạch gắn kiến trúc với môi trường tự nhiên
. Cơ cấu đô thị
. Diện mạo kiến trúc đô thị
. Lối sống, nếp sống văn minh đô thị
+ Bộ phận di sản văn hóa phi vật thể gắn với di tích lịch sử - văn hóa
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm
mỹ, khoa học 28, tr 33.
1.2. Phân loại di tích
Căn cứ vào đặc điểm nội dung và hình thức thì di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh được phân ra thành 4 loại: di tích lịch sử, di tích kiến
trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ học và danh lam thắng cảnh.
1.2.1. Di tích lịch sử bao gồm những công trình, địa điểm gắn với sự
kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế
và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước, gắn với sự kiện lịch
8
sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Di tích lịch sử liên
quan tới sự kiện hoặc nhân vật lịch sử có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự
tiến bộ của lịch sử dân tộc. Đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được
đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm
nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi
chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau.
1.2.2. Di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm quần thể các công trình kiến
trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ
thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Giá trị của di tích kiến trúc nghệ
thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa
giữa kiến trúc với cảnh quan, ở những bức chạm khắc trên kết cấu gỗ, ở vẻ
huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
1.3. Vi phạm di tích
1.3.1. Khái niệm
Vi phạm di tích là những hành vi trái với quy định của Luật di sản văn
hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá và pháp luật
khác có liên quan làm thay đổi yếu tố gốc, làm sai lệch giá trị và làm biến đổi
cảnh quan, môi trường di tích.
Hiện tượng vi phạm di tích còn diễn ra khá phổ biến dưới nhiều hình
thức như: lấn chiếm đất đai di tích; xây dựng công trình trái phép làm ảnh
hưởng đến cảnh quan sinh thái nhân văn xung quanh di tích; tu bổ, tôn tạo
không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khai quật, trục vớt
trái phép các địa điểm khảo cổ, tổ chức dịch vụ văn hóa, khai thác di tích trái
với quy định của pháp luật, thậm chí cá biệt có nơi hiện tượng thương mại
hóa di tích còn khá phổ biến. Điển hình là 42 điểm xây dựng chùa trái phép
tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây (nay là Hà
Nội, xem ảnh 1.1). Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch) đã phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây giải quyết dứt điểm
tình trạng hiện tượng xây dựng chùa và dẹp bỏ được những chùa đã được xây
10
trái phép nêu trên. Cũng là một hiện tượng vi phạm di tích, tại chùa Tây
Phương, người dân đã san, gạt đất đồi để xây lều quán bán hàng gây mất cảnh
quan và mỹ quan môi trường xung quanh di tích (xem ảnh 1.2). Đây là hệ quả
của việc buông lỏng quản lý của chính quyền xã, huyện nên mới xảy ra những
hiện tượng vi phạm nêu trên. Bên cạnh đó, phải kể đến sự thiếu hiểu biết của
một bộ phận không nhỏ nhân dân trong việc bảo vệ và phát huy di tích. Ảnh 1.1: Chùa xây dựng trái phép tại
di tích thắng cảnh Hương Sơn, Hà Tây (nay là Hà Nội)
được hoàn thiện.
Những hành vi mà khi được cấp giấy phép rồi nhưng thực hiện không
đúng với nội dung trong giấy phép. Ví dụ điển hình cho hành vi vi phạm này
là di tích đền Độc Cước, đền Cô Tiên, tỉnh Thanh Hóa với hai hành vi vi
phạm: là tu bổ tôn tạo không đúng với những nội dung mà Cục Di sản văn
hóa đã cho phép và xây dựng các công trình trong khu vực bảo vệ II, phá vỡ
cảnh quan môi trường di tích. Trong văn bản cho phép nêu rất rõ “Không xây
dựng lầu hóa vàng và lầu vọng cảnh; giữ nguyên hiện trạng môn lâu, không
thay đổi kết cấu và họa tiết trang trí trên các cấu kiện khi tu bổ môn lâu; tu bổ
tôn tạo Tiền đường theo hình thức, cấu trúc vì kèo hiện trạng, không tu bổ
theo hình thức vì kèo của tòa Trung đường, riêng phần kẻ cổ ngỗng ở hiên cần
nghiên cứu tu bổ cho phù hợp với hình thức kết cấu bên trong, phải đảm bảo
được vững chắc, chống chịu được mưa bão; Hạng mục Trung đường: cần bảo
tồn tuyệt đối các mảng trạm khắc thế kỷ 17, 18; đánh dấu các cấu kiện thay
mới, cấu kiện tu bổ và cấu kiện bảo quản tái sử dụng trên các bản vẽ thiết kế
tu bổ, tôn tạo, đồng thời bổ sung bản vẽ nối, vá, thay cốt, ốp mang; Thống
nhất phương án thay thế hệ thống vì kèo gỗ phần xây bằng gạch không phù
hợp của gian cuối hậu cung; Trước khi hạ giải các cấu kiện kiến trúc cần đánh
số và sau khi hạ giải cần đánh giá, phân loại tình trạng các cấu kiện kiến trúc
để có phương án tu bổ, tôn tạo thích hợp nhằm bảo tồn tối đa yếu tố gốc của
di tích; Vật liệu gỗ đưa vào tu bổ, tôn tạo phải được ngâm, tẩm chống mối
mọt theo quy trình; Đèn chiếu sáng chỉ mang tính chất bảo vệ di tích, hình
13
thức cần đảm bảo phù hợp với cảnh quan và tính thâm nghiêm của di tích”.
Tuy nhiên, đến khi kiểm tra, tất cả các hạng mục nêu trong văn bản cho phép
của Cục Di sản văn hóa gần như không được thực hiện hoặc thực hiện không
đúng với những nội dung đã thỏa thuận. Kết quả là di tích bị biến dạng, các
yếu tố gốc cấu thành di tích không giữ được mà thay vào đấy là những sản
phẩm mới, kiến trúc mới, cấu kiện mới. Điều này đồng nghĩa với việc di tích
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà không quên tới việc bảo vệ các di sản văn hoá của dân tộc.
Nhà nước ta chủ trương đặt toàn bộ các di tích dưới sự bảo hộ của pháp luật.
Tư tưởng đó được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể trong Sắc lệnh số 65/SL ngày 23
tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và bảo
tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Nội dung Sắc
lệnh nêu rõ “Cấm phá huỷ đình, đền, chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự
khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ đình chùa được bảo tồn” 13.
Sắc lệnh đã khẳng định quan điểm và nhận thức đúng đắn của Chính phủ đối
với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến thiết đất
nước. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ đã không cho phép chúng ta mở
rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ di tích của đất nước.
Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ
cứu nước, nhiều Chỉ thị, Thông tư của Chính phủ, của Bộ Văn hoá liên tiếp
được ban hành nhằm tăng cường bảo vệ các di tích lịch sử- văn hoá của đất
nước như: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 1999-VG ngày 15 tháng 5
năm 1958 về việc cấm đào bới mộ cổ; Thông tư của Thủ tướng số 442-TTg
ngày 09 tháng 11 năm 1960 về việc bảo vệ các di sản văn hoá, ngăn chặn hoạt
động xuất khẩu cổ vật trái phép; Ngày 13/12/1963 Thủ tướng Chính phủ có
Chỉ thị về bảo vệ và quản lý những sách tài liệu văn hoá bằng chữ Hán, chữ
Nôm; Tiếp theo ngày 29 tháng 4 năm 1966 có Thông tư về việc bảo vệ di tích
lịch sử, di tích nghệ thuật và hang động được sử dụng vào công tác sơ tán
phòng không. Có thể nói, văn bản pháp lý được ban hành trong giai đoạn này
đã bám sát với hoạt động thực tiễn chung của đất nước.
15
1.4.2. Nghị định số 519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 quy định thể
lệ về bảo tồn di tích.
Một văn bản pháp lý quan trọng khác có giá trị nền tảng cho hoạt động
bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung là Nghị định số 519-
đoạn này, kinh tế của đất nước còn cực kỳ khó khăn bởi toàn đảng, toàn dân
tập trung vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh và dần đi vào ổn định. Mặc
dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận với nhau rằng, khi đưa Pháp lệnh đi vào
thực tiễn mới xuất hiện những hạn chế sau: chỉ có Bộ trưởng Bộ Văn hoá –
Thông tin (nay là Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) căn cứ vào đề
nghị của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị
hành chính tương đương ra quyết định công nhận là di tích. Có nghĩa là chỉ có
một cấp có thẩm quyền quyết định công nhận di tích. Điều đáng lưu ý nhất ở
Pháp lệnh là chỉ có 2 cấp quản lý di tích đó là Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, không
phân cấp cho các cấp hành chính khác quản lý di tích. Các di tích được Bộ
trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch) công nhận gọi chung là di tích quốc gia. Tuy nhiên, số lượng di tích
được phát hiện trong quá trình điều tra, kiểm kê, đăng ký là rất lớn, nhu cầu
các địa phương được công nhận và đặt di tích dưới sự bảo hộ của pháp luật là
rất cấp bách nhưng chỉ một cấp là Bộ Văn hoá – Thông tin mới có thẩm
quyền quyết định công nhận thì không còn phù hợp nữa, không đáp ứng kịp
thời nhu cầu của địa phương, đôi khi còn gây hiền hà cho nhân dân, đặc biệt
là công tác bảo vệ và phát huy giá trị của di tích chưa được đảm bảo, hiện
tượng vi phạm di tích bắt đầu gia tăng không ngừng, những hành vi như lấn
chiếm đất đai di tích, xin vào ở nhờ di tích do hoàn cảnh khó khăn nhưng mãi
vẫn không chịu ra khỏi di tích khi có điều kiện, xây dựng những công trình
dân dụng phục vụ sinh hoạt hàng ngày của những hộ dân sống trong di tích
bắt đầu có dấu hiệu tăng dần. Việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
trong thời gian qua đã đưa đến những thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế,
cấu trúc xã hôị Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh
17
lam thắng cảnh lại ra đời trong điều kiện cơ chế quản lý hành chính, quan liêu
bao cấp. Do đó, nhiều quy định đến nay không còn phù hợp với những thay
năm 2001 là một minh chứng cụ thể về sự tiến bộ vượt bậc trong tư duy sáng
tạo của ngành Di sản văn hoá Việt Nam. Những nội dung cơ bản của Luật đã
bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước là:
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập
và làm việc theo pháp luật. Do đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước được thể chế hoá, pháp điển hoá một cách chính xác trong các điều,
khoản của Luật. Đồng thời các điều, khoản của Luật cũng đã xác định rõ vai
trò và trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền về văn hoá nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong
lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nói chung và di tích nói
riêng.
Luật di sản văn hoá đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt
các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với
di sản văn hoá, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành
vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử
phạt các hành vi vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành có
liên quan ở trung ương và uỷ ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn di sản
văn hoá. Những quy định của Luật di sản văn hoá được xây dựng theo hướng
cởi mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi
trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và
thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời góp phần mở rộng giao lưu
văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế.
Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật di sản văn hoá áp dụng vào thực
tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh nhiều hạn chế như chưa xử
lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, vì thế dẫn đến tình trạng
thương mại hoá di tích rất nhiều, di tích ngày càng có xu thế biến dạng bởi
những hoạt động thương mại tưởng chừng như đóng góp vào ngân sách của
19
20
Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM DI TÍCH
2.1. Thực trạng chung
Nước ta là một nước đang phát triển, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá
nặng nề, nên sau khi giành được độc lập, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước ta là
ổn định và phát triển kinh tế. Di tích của Việt Nam phần lớn làm bằng chất
liệu hữu cơ, lại bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, thiên tai và do sự vô tình
hay cố ý của con người trong suốt một thời gian dài. Sự phát triển kinh tế
càng mạnh, dân số tăng càng nhanh thì nhu cầu khai thác xây dựng càng lớn.
Những năm gần đây, Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa hội
nhập kinh tế, sức ép của toàn cầu hoá đối với văn hoá truyền thống ngày càng
lớn. Những sức ép do sự tác động tiêu cực của sự phát triển cộng với sự
xuống cấp hàng loạt của các di tích, nhận thức chung của cộng đồng về bảo
vệ di tích vẫn còn bị hạn chế. Chính vì vậy, một số lượng lớn di tích của nước
ta đang bị xuống cấp nghiêm trọng, đang chịu sự tác động của sự biến đổi môi
trường tự nhiên và xã hội. Qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy một số vấn
đề sau:
Cảnh quan môi trường truyền thống của một số di tích bị biến dạng một
phần hay toàn bộ do các công trình xây dựng xung quanh di tích không phù
hợp với quy hoạch truyền thống của khu di tích về vị trí, màu sắc, hình dáng,
kiến trúc…Nên khi các công trình này hoàn thành đưa vào sử dụng thì ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường cảnh quan di tích. Cảnh quan, môi trường xung
quanh di tích là một yếu tố quan trọng cấu thành di tích, do vậy, những công
trình xây dựng bao quanh di tích có quy mô quá lớn cả về chiều cao và diện
tích sẽ làm di tích trở nên nhỏ bé và bị thu hẹp. Điển hình là vụ xây dựng nhà
tại di tích chùa Vua (Hà Nội). Cục Di sản văn hóa đã nhận được rất nhiều đơn
thư của nhân dân kiến nghị về việc một hộ dân sống đối diện với di tích chùa
Vua xây một ngôi nhà rất cao làm phá vỡ cảnh quan môi trường xung quanh
di tích, làm ảnh hưởng lớn tới kiến trúc và không gian văn hoá của di tích, hay
chùa Phúc Long, chùa Bộc (Hà Nội, xem ảnh 2.1.1, 2.1.2, 2.1.5). Như vậy,