Tình trạng xâm phạm di tích lịch sử văn hóa thông qua vụ việc vi phạm di tích kiến trúc – nghệ thuật Đình Trong - Pdf 45

MC LC
PHN TH NHT: TNG QUAN V VIN VN HểA NGH THUT QUC
GIA VIT NAM VIT NAM

.................................................

I. LCH S HèNH THNH...................................................................................................

1. T Vin Ngh thut n Vin Vn húa Ngh thut Vit Nam.................
1.1. Thi k Vin mang tờn l Vin Ngh thut..............................................
1.2. Thi k Vin mang tờn l Vin Vn húa Ngh thut Vit Nam...............
1.3. Thi k Vin mang tờn l Vin Nghiờn cu Vn húa Ngh thut..........
1.4. Thi k Vin mang tờn l Vin Vn húa - Thụng tin...............................
1.5. Thi k mang tờn l Vin Vn húa Ngh thut Vit Nam.......................
II. C CU T CHC ..........................................................................................................
Phần thứ hai: mục đích, yêu cầu và cơ sở pháp lý của việc bảo
tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật

I. Mục đích, yêu cầu:.................................................
II. Cơ sở pháp lý:........................................................
Phần thứ BA: Nội dung tình huống vụ việc xâm phạm ...........
di tích kiến trúc - nghệ thuật đình trong.............................

I. Mô tả tình huống và diễn biến của tình huống:......
1. Lịch sử làng Hòa Mục và cụm di tích Đền Trong:.....
2. Diễn biến của tình huống:.....................................
2.1. Đề xuất của UBND Phờng Trung Hoà về việc xây
dựng .........................................................................
2.2. Diễn biến quá trình xây dựng Nhà văn hoá:.........
II. Xác định mục tiêu xử lý tình huống.......................
III. Phân tích nguyên nhân và hậu quả:.....................

hóa Nghệ thuật Việt Nam ngày nay. Vị trí của Viện được xác lập: "là cơ quan
giúp Bộ nghiên cứu những vấn đề thuộc về lý luận học thuật của các bộ môn
nghệ thuật: mỹ thuật (gồm cả mỹ nghệ), sân khấu, nhạc, múa, điện ảnh theo
đường lối, quan điểm nghệ thuật của Đảng và Nhà nước". Lãnh đạo Bộ đã
phân công nhà lý luận Hà Xuân Trường, Thứ trưởng Bộ Văn hóa trực tiếp
kiêm nhiệm làm viện trưởng, đồng thời điều động những nghệ sĩ, cán bộ
3


quản lý từ các trường, cục, vụ, viện như các ông Nguyễn Phúc, Trần Đình
Thọ, Nguyễn Đức Nùng, Trần Bảng, Nguyễn Đức Lộc, Phạm Đình Sáu, Tú
Ngọc, Đặng Đình Trung, Lê Huy về làm nhiệm vụ quản lý các ban chuyên
môn của Viện. Cùng với việc này, lãnh đạo Bộ và lãnh đạo Viện đã mở cửa
chiêu hiền đãi sĩ tập hợp lực lượng khoa học ở nhiều nơi, nhiều nguồn khác
nhau về Viện Nghệ thuật như các ông Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Từ Chi v.v... Đáng
lưu ý là định hướng thành lập Tổ chuyên san nghiên cứu nghệ thuật do nhà lý
luận Hà Xuân Trường làm chủ nhiệm, hoạ sĩ, nhà giáo Trần Đình Thọ làm
Tổng biên tập, ông Nguyễn Phúc làm uỷ viên thường trực Ban biên tập tờ
chuyên san. Hoạt động của Viện Nghệ thuật trong những ngày gian khổ, ác
liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi ngay vào quỹ đạo của
một Viện làm công tác nghiên cứu khoa học. Rồi các đề tài nghiên cứu văn
hóa nghệ thuật được triển khai. Một số các công trình được hoàn thành. Năm
1973, từ chuyên san Thông báo nghệ thuật lưu hành nội bộ, tạp chí Nghiên
cứu Nghệ thuật của Viện Nghệ thuật đã ra mắt bạn đọc số đầu tiên.
Năm 1976, đất nước thống nhất, Viện đón nhận số cán bộ của Sở Văn
hóa khu tự trị Tây Bắc, Việt Bắc để cóPhân viện Nghệ thuật Tây Bắc, Phân
viện Nghệ thuật Việt Bắc thuộc Viện Nghệ thuật. Ngày 25-8-1976, Bộ trưởng
Nguyễn Văn Hiếu ký quyết định chuyển ngành âm nhạc giải phóng thành
Viện Âm nhạc rồi bổ sung vào Ban Nghiên cứu Âm nhạc của Viện Nghệ
thuật. Cũng từ năm này, việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật ở Tây Nguyên

chuyên ngành trực thuộc và một phân viện tại thành phố Hồ Chí Minh cùng
tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, đội ngũ cán bộ nghiên cứu
của Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam khá đông đảo và hùng hậu. Nhiều
cán bộ của Viện là những nhà khoa học có uy tín, tên tuổi. Có thể kể đến về
5


văn hóa dân gian và âm nhạc dân tộc học với Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Lư
Nhất Vũ v.v...; về lý luận văn hóa với Lê Anh Trà, Hồ Sĩ Vịnh, Trường Lưu
v.v...; về mỹ thuật với Nguyễn Từ Chi, Nguyễn Du Chi, Chu Quang Trứ,
Thái Bá Vân, Trần Lâm Biền, Nguyễn Bá Vân v.v...; về âm nhạc với
Nguyễn Xinh, về sân khấu với Hoàng Chương, Trần Việt Ngữ, Đoàn Thị
Tình v.v...; về múa với Lâm Tô Lộc.
Một sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện là Viện được
chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh vào năm 1991. Đây cũng
là cơ sở đào tạo trên đại học duy nhất ở nước ta đào tạo phó tiến sĩ (nay là
tiến sĩ), tiến sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) về văn hóa nghệ thuật với hai mã số:
lịch sử văn hóa và nghệ thuật, mã số 5.03.13, nghệ thuật âm nhạc mã số
5.08.02. Hoạt động đào tạo trên đại học này có tác động rất lớn đến công tác
đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học của Viện cũng như của
ngành Văn hóa thông tin.
Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật tách ra thành cơ
quan thông tin lý luận của Bộ Văn hóa - Thông tin.
Năm 1995, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, ngày 1-3-1995,
Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 123/TTg về việc sắp xếp, tổ chức lại
các đơn vị trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin. Căn cứ vào quyết định này,
ngày 22-12-1995, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Trần Hoàn đã ký quyết
định 5775/QĐ-TC thành lập Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam trực thuộc Bộ
Văn hóa - Thông tin. Phục vụ cho việc liên kết giữa nghiên cứu khoa học và
đào tạo của các chuyên ngành, các viện chuyên ngành trực thuộc Viện Văn

thành viên Ban chủ nhiệm chương trình quốc gia có mục tiêu về văn hóa,
7


trực tiếp điều hành nhiệm vụ sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể
các dân tộc Việt Nam. Ngoài nhiệm vụ làm tư vấn cho lãnh đạo Bộ: đề xuất,
kiểm tra các địa phương thực hiện dự án, Viện còn trực tiếp tiến hành một
loạt các dự án sưu tầm, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể các dân
tộc Việt Nam. Bộ Văn hóa - Thông tin nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch cho xây dựng tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam một ngân hàng dữ
liệu (databank) về di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc Việt Nam.
Từ năm 2000, Viện chuyển nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc
mã số 5.08.02 cho Nhạc viện Hà Nội, Viện chỉ còn lại đào tạo tiến sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13.
1.4. Thời kỳ Viện mang tên là Viện Văn hóa - Thông tin
Ngày 16-7-2003, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị
ký quyết định 29/2003/QĐ-BVHTT đổi tên Viện thành Viện Văn hóa Thông tin. Ngày 08 - 07 - 2004, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Phạm
Quang Nghị ký quyết định 52/2004/QĐ-BVHTT quy định chức năng, nhiệm
vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Văn hóa - Thông tin. Vị trí của
Viện được xác định: "là đơn vị sự nghiệp khoa học, có chức năng nghiên
cứu, triển khai hoạt động khoa học và đào tạo sau đại học về văn hóa thông
tin". Từ vị trí và chức năng này, các phòng, ban nghiên cứu, hai phân viện
cùng tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Thông tin đã được thành lập. Năm 2006,
Bộ Văn hóa - Thông tin lại cho thành lập Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc
Á tại Viện.
Năm 2003, công tác đào tạo tiến sĩ của Viện có sự thay đổi. Từ một
chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Lịch sử Văn hóa và Nghệ thuật mã số 5.03.13,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép Viện đào tạo tiến sĩ Văn hóa học với 3
8


quyết định số 1943/QĐ-BVHTTDL ngày 22-6-2011 của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thành lập Văn phòng xúc tiến xây dựng Trung tâm giao lưu
văn hóa Việt - Hàn trực thuộc Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.
40 năm trôi qua, từ Viện Nghệ thuật đến Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt
Nam là một chặng đường Viện đã qua nhiều lần thay đổi cơ cấu tổ chức, tên
gọi, nhưng tựu trung vẫn luôn luôn là một trung tâm nghiên cứu khoa học và
đào tạo sau đại học hàng đầu về văn hóa, nghệ thuật của ngành văn hóa, thể
thao và du lịch Việt Nam.

10


II. CƠ CẤU TỔ CHỨC

1. Lãnh đạo Viện:
Viện trưởng và các Phó Viện trưởng.
2. Các phòng chức năng:
a) Phòng Khoa học - Đào tạo - Hợp tác quốc tế;
b) Phòng Thông tin - Thư viện;
c) Phòng Tài vụ
d) Phòng Hành chính - Tổ chức.
3. Các ban chuyên môn:
a) Ban Nghiên cứu Chính sách và Phát triển văn hóa;
b) Ban Nghiên cứu Di sản văn hóa;
c) Ban Nghiên cứu Văn hóa sinh thái và Du lịch;
d) Ban Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật nước ngoài;
đ) Ban Nghiên cứu Lý luận và Lịch sử văn hóa nghệ thuật;
e) Ban Nghiên cứu Nghệ thuật;
g) Ban Nghiên cứu Văn hóa gia đình;
h) Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á;

và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, chăm lo công tác
bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác
dụng của di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các
công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh.

12


Nghiêm cấm các hành động lấn chiếm, xâm phạm
đến di tích lịch sử, cách mang, các di sản văn hoá, các công
trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh.
Để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử, văn
hoá và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền
thống dựng nớc và giữ nớc của nhân dân Việt Nam, góp
phần giáo dục tinh thần yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội và
lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác
nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn
hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con ngời
mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá
dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới. Tạo
điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ tập thể
trong việc bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và
danh lam thắng cảnh. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội
về giá trị và vai trò của di sản văn hoá trong phát triển và
huy động nguồn nhân lực, phát huy chủ thể văn hoá vào
việc bảo tồn di sản văn hoá giúp cho các thế hệ tơng lai có
điều kiện kế thừa và sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới làm
phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Đất nớc ta, theo thống kê có gần 4 vạn di tích trong đó
có 2795 di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đợc xếp hạng cấp quốc gia. Rất nhiều trong số hàng vạn di

khu vực bảo vệ của di tích đã đợc Nhà nớc xếp hạng cấp

14


quốc gia nh: Di tích thành cổ Nhà Mạc (Hoà Bình), Lăng mộ
Tuý Lý Vơng (Thừa Thiên Huế), di tích Cổ Loa (Hà Nội), Khu
di chỉ làng Vạc (Nghệ An), Đình Trong (Hà Nội) Có thể
thấy việc bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa là một công
việc lâu dài và khó khăn, đòi hỏi sự tham gia và hợp tác
không chỉ của riêng đội ngũ cán bộ làm văn hoá mà còn của
toàn thể cán bộ nhân dân trên cả nớc.
II.

Cơ sở pháp lý:

Từ khi Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là Nớc
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - thành quả của cuộc
đấu tranh kiên cờng, anh dũng của nhân dân ta dới sự lãnh
đạo của Đảng, Bác Hồ thì hệ thống pháp luật XHCN của Nhà
nớc Việt Nam mới bắt đầu hình thành.
Tại điều 12, Hiến pháp 1992 quy định Nhà nớc quản
lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng nâng cao pháp chế
XHCN. Do đó những mối quan hệ quan trọng đã đợc Nhà
nớc xác định và đã ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh
thì trong mọi trờng hợp phải dựa vào các quy định của
pháp luật để giải quyết.
Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng
nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp
phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên

11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật di sản văn hoá.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nớc về di sản văn
hoá.
Bộ Văn hoá - Thông tin thay mặt Chính phủ thực thi
toàn bộ công tác bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử, văn
hoá nói riêng, các di sản văn hoá nói chung, Cục Di sản văn
hoá là cơ quan trực thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin, có chức
năng giúp Bộ trởng quản lý Nhà nớc về di sản văn hoá và chỉ
đạo, hớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ đối với các hoạt
động bảo vệ và phát huy di sản văn hoá.
Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và
quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nớc về di
sản văn hoá ở địa phơng theo phân cấp của Chính phủ.
16


17


Phần thứ BA: Nội dung tình huống
vụ việc xâm phạm
di tích kiến trúc - nghệ thuật đình trong

I. Mô tả tình huống và diễn biến của tình
huống:
1. Lịch sử làng Hòa Mục và cụm di tích Đền
Trong:
Làng Hòa Mục (nay thuộc phờng Trung Hòa, quận Cầu
Giấy Hà Nội) đã tồn tại từ hơn 1000 năm nay. T th k th 5,

nc
xpMục
hng quc gia nh

ỡnh

ngoi, ỡnh trong (chớnh l hnh cung th ba ch em h Phm) v n th
Dc Anh. Ngoài ra lng cũn cú bn nh th h ni ting v hng chc ngụi
nh c trờn di 200 tui.
Cụm di tích Đình Trong (tức đình Hoà Mục), Đình
Ngoài và đền Dục Anh là cụm di tích thờ chung 3 vị thành
hoàng đó là 3 chị em ruột: Phạm Uyển, Phạm Miễn, Phạm
Huy, từng có công giúp Phùng
Hng đánh Cao Chính Bình
lấy lại Tống Bình (tức Hà Nội
ngày nay).
Cụm Di tích Đình Trong,
Đình Ngoài và Đền Dục Anh
mang trên mình một bề dày lịch sử trên 300 năm. Cũng
giống nh nhiều ngôi đình, đền, chùa khác của Việt Nam,
nó đã bị phôi phai đi bởi thời gian và bị lu lạc đi bởi trải
qua những chặng đờng lịch sử. Cụm di tích đình, đền
19


Hoà Mục vẫn đứng vững trong một không gian thoáng đãng,
một cảnh quan khá hữu tình. Với kết cấu theo một quẩn thể
di tích, nó đã tạo cho cụm di tích sự gắn bó khăng khít,
càng tăng thêm phần giá trị về mặt nội dung lịch sủ, cũng
nh về kiến trúc nghệ thuật.

xung quanh khu đất đã xây dựng nhà ở, đổ rác thải, nớc
thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trờng.
Các ban, ngành, đoàn thể phờng Trung Hoà mong
muốn công trình nhà văn hoá đợc xây dựng sẽ góp phần
giữ gìn vệ sinh môi trờng trong khu vực, mang lại cho nhân
dân một địa điểm rộng rãi để giải trí (đặc biệt đối với
ngời già và trẻ em), ngoài ra còn hỗ trợ thêm cho hoạt động
sinh hoạt văn hóa, tín ngỡng của Đình Trong. Công trình nhà
văn hóa sẽ đợc xây dựng phù hợp với kiến trúc và cảnh quan
khu vực ngôi Đình.
Trên cơ sở kiến nghị của phờng Trung Hòa, UBND quận
Cầu Giấy đã chỉ đạo các Phòng Tài nguyên môi trờng, Ban
Quản lý dự án quận và Phòng VHTT-TDTT tiến hành kiểm tra,
khảo sát thực tế. Sau khi xem xét cụ thể, các phòng, ban đã
thống nhất với đề nghị của phờng Trung Hoà đề xuất với
lãnh đạo UBND quận đầu t xây dựng Nhà văn hoá phờng
Trung Hoà (NVH) tại khu vực tổ 29, 30 của phờng. Đơn vị thi
công là Công ty xây dựng dân dụng Hà Nội.

21


2.2. Diễn biến quá trình xây dựng Nhà văn hoá:
Ngày 10/10/2005, UBND Quận Cầu giấy ra quyết định
số 1384/QĐ-UB về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật
dự án đầu t Nhà văn hoá phờng Trung Hoà. Công trình đã
bắt đầu đợc xây dựng.
Tháng 12/2005, nhân dân Hoà Mục - Trung Hoà đã
viết đơn gửi Ban Quản lý di tích và danh thắng Thành phố
Hà Nội về việc xây dựng nhà văn hoá nằm trong khu vực

Đến đây sự việc tởng chừng nh đã rõ ràng, ý kiến chỉ
đạo của các cơ quan có chức năng quản lý nhà nớc đối với
khu di tích đã đợc ban hành. Theo thông lệ, các bên liên
quan sẽ dừng thi công để bàn bạc và tìm biện pháp tháo gỡ,
tránh xâm hại khu di tích và gây lãng phí cho ngân sách
Nhà nớc (công trình đã đợc xây xong tầng 1).
Tuy vậy, ngày 09/3/2006, Ban Quản lý dự án quận Cầu
Giấy có công văn số 102/CV-BQL đề nghị Công ty xây dựng
dân dụng Hà Nội khẩn trơng triển khai thi công, tiếp tục
xây dựng công trình NVH phờng Trung Hoà để đảm bảo
tiến độ.
Ngày 01/4/2006, Cục Di Sản Văn hoá lại tiếp tục nhận
đợc đơn kiến nghị khẩn cấp của những ngời cao tuổi và
23


nhân dân làng cổ Hoà Mục, phờng Trung Hoà về sự việc
nêu trên.
Ngày 11/4/2006, Bộ Văn hoá - Thông tin có công văn số
1223/BVHTT-DSVH gửi đ/c Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội
đề nghị chỉ đạo cơ quan chuyên môn thực hiện đúng quy
định của Nhà nớc và của Thành phố đối với việc bảo vệ di
tích theo đúng quy định của Luật Di Sản Văn hoá và Nghị
định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 hớng dẫn thi hành,
đồng thời yêu cầu chính quyền phải quan tâm làm tốt
công tác t tởng cho quần chúng nhân dân tại địa phơng.
Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội có công văn số 37/VHTT
ngày 10/4/2006 gửi Đ/c Chủ tịch UBND Quận Cầu Giấy và
công văn số 39/VHTT ngày 17/4/2006 gửi UBND Thành phố
Hà Nội về việc xây dựng nhà văn hoá phờng liên quan đến

công văn số 2077/BVHTT-DSVH đề nghị đ/c Chủ tịch UBND
Thành phố Hà Nội chỉ đạo các cấp khẩn trơng đình chỉ
việc thi công và giải quyết dứt điểm vụ việc trên theo quy
định của Luật Di Sản Văn hoá, không để tình trạng khiếu
kiện kéo dài làm ảnh hởng đến di tích và làm mất niềm tin
của nhân dân.
Điều đáng ngạc nhiên là UBND Quận Cầu Giấy và UBND
phờng Trung Hoà đã giải quyết vụ việc không theo sự chỉ

25


Trích đoạn Các phơng án giải quyết vụ việc:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status