Báo cáo " Pháp luật về đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh " pot - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003 48
Nguyễn Quang Tuyến *
iệc quản lí và bảo vệ những di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
(gọi tắt là di tích lịch sử) có ý nghĩa rất quan
trọng nhằm giáo dục các thế hệ ngời Việt
Nam kế thừa và phát huy những truyền thống
văn hóa, lịch sử tốt đẹp của cha ông. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đ
chỉ rõ: "Bảo tồn và phát huy các di sản văn
hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật,
ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mĩ tục
của các dân tộc, tôn tạo các di tích lịch sử,
văn hóa và danh lam thắng cảnh, khai thác
các kho tàng văn hóa cổ truyền. Tiếp thu tinh
hoa và góp phần làm phong phú thêm nền
văn hóa của nhân loại. Đấu tranh chống sự
xâm nhập của văn hóa độc hại".
(1)
Trong
khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu ra
một số suy nghĩ xung quanh pháp luật hiện
hành về đất di tích lịch sử, văn hoá và danh
lam thắng cảnh (gọi chung là đất di tích)
nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp

- Danh lam thắng cảnh là những khu vực
thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình
xây dựng cổ, đẹp nổi tiếng.
Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực pháp lí
của pháp luật về quản lí và bảo vệ di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong
việc phát huy các giá trị vô giá của các di sản
lịch sử, văn hóa. Luật di sản văn hóa (Luật
DSVH) đ đợc Quốc hội khóa X kì họp thứ
9 thông qua ngày 29/6/2001. Luật DSVH ra
đời thay thế Pháp lệnh DTLS năm 1984, đáp
V

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học số 3/2003 49

ứng đòi hỏi của công tác quản lí và bảo vệ
các di tích lịch sử, văn hóa trong nền kinh tế
thị trờng. Theo Luật DSVH thì di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh là thành
tố của phạm trù di sản văn hóa và đợc quan
niệm nh sau:
- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình
xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có
giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

trờng thiên nhiên nói chung và cảnh quan
thiên nhiên nói riêng rất mạnh mẽ. Sự tác
động này của con ngời diễn ra theo hai
hớng tích cực và tiêu cực.
- Hớng tích cực, nếu sự tác động của
con ngời tuân theo những quy luật khách
quan của tự nhiên sẽ bảo đảm không phá vỡ
sự cân bằng hay không gây tổn hại đến vẻ
đẹp của tự nhiên. Ngợc lại, nó còn bổ sung
và làm cho cảnh quan thiên nhiên ngày càng
hoàn thiện, phong phú hơn. Đây chính là
quan điểm phát triển bền vững mà thế giới đ
thừa nhận một cách rộng ri.
- Hớng tiêu cực, nếu sự tác động của
con ngời vào cảnh quan thiên nhiên bất
chấp các quy luật khách quan thì sẽ làm biến
dạng, huỷ hoại thậm chí tàn phá những cảnh
quan này. Thực tế đ cho chúng ta nhiều bài
học đắt giá về vấn đề này.
Nh vậy, với nhận thức danh lam thắng
cảnh không chỉ là những cảnh quan thiên
nhiên mà còn bao hàm cả sự kết hợp giữa
cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến
trúc có giá trị khoa học và lịch sử sẽ giúp
chúng ta có những suy nghĩ rất thận trọng
trớc khi hành động nhằm bảo vệ tốt nhất
các danh lam thắng cảnh.
Thứ ba, Luật DSVH đa ra những tiêu
chí cụ thể nhằm xác định di tích lịch sử - văn
hoá và danh lam thắng cảnh. Điều này tạo

học về địa chất, địa mạo, địa lí, đa dạng sinh
học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên
nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về
các giai đoạn phát triển của trái đất (Điều 28
Luật DSVH).
Tóm lại, khái niệm di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh đợc Luật
DSVH đề cập phù hợp với các quy định về di
sản văn hóa của Tổ chức giáo dục, khoa học
và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và
đáp ứng đòi hỏi của công tác quản lí nhà
nớc về bảo vệ di sản văn hóa trong thời kì
"công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nớc
hiện nay.
2. Khái niệm đất di tích lịch sử, văn
hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi tắt
là đất di tích)
Trên thực tế, các di tích lịch sử, văn hoá
và danh lam thắng cảnh luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với đất đai, nơi trên đó có di tích và
vùng đất bao quanh, bảo vệ. Chính từ cách
tiếp cận này mà Pháp lệnh DTLS năm 1984
đ đa ra quy định về vùng đất bao quanh,
bảo vệ di tích. Theo đó: Mỗi di tích lịch sử,
văn hoá là bất động sản và danh lam thắng
cảnh có từ 1 đến 3 khu vực bảo vệ:
- Khu vực I là khu vực phải đợc bảo vệ
nguyên trạng.
- Khu vực II là khu vực bao quanh khu
vực I đợc phép xây dựng những công trình


thắng cảnh theo quy định của pháp luật
(Điều 42). Và không chỉ dừng lại ở việc đa
ra khái niệm về đất di tích, Luật đất đai năm
1987 còn quy định chế độ quản lí và sử dụng
loại đất này.
(2)
Tuy nhiên, Luật đất đai năm
1987 ra đời trong những năm đầu của công
cuộc đổi mới đất nớc nên một số quy định
không còn phù hợp với sự thay đổi nhanh
chóng của tình hình phát triển kinh tế - x
hội của đất nớc. Vì vậy, Luật đất đai năm
1993 đ ra đời, thay thế cho Luật đất đai năm
1987 đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn
quản lí, sử dụng đất đai nói chung và đất di
tích nói riêng trong nền kinh tế thị trờng.
Theo đó, đất di tích đợc quan niệm nh sau:
Đất có di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh đ đợc xếp hạng phải đợc bảo
vệ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật.
Trong trờng hợp đặc biệt cần thiết phải sử
dụng đất có di tích lịch sử, văn hoá, danh
lam thắng cảnh vào mục đích khác thì phải
đợc phép của cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền (Điều 69). So sánh với khái niệm đất
di tích đợc đề cập trong Luật đất đai năm
1987 thì đất di tích mà Luật đất đai năm
1993 quy định có nội hàm thu hẹp và cụ thể
hơn, chỉ còn là di tích lịch sử, văn hoá, danh

khu vực bảo vệ I của di tích, có thể xây dựng
những công trình phục vụ cho việc phát huy
giá trị di tích nhng không làm ảnh hởng tới
kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi
trờng sinh thái của di tích.
Trong trờng hợp không xác định đợc
khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu
vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do chủ
tịch UBND cấp tỉnh quyết định, đối với di
tích quốc gia do bộ trởng Bộ văn hóa -
thông tin quyết định, đối với di tích quốc gia
đặc biệt do Thủ tớng Chính phủ quyết định.
2. Việc xây dựng các công trình ở khu
vực bảo vệ II quy định tại điểm b khoản 1
Điều này đối với di tích quốc gia và di tích
quốc gia đặc biệt phải có sự đồng ý bằng văn
bản của bộ trởng Bộ văn hóa - thông tin,
đối với di tích cấp tỉnh phải có sự đồng ý nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003 52

bằng văn bản của chủ tịch UBND cấp tỉnh.
3. Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1
Điều này đợc xác định trên bản đồ địa
chính, kèm theo biên bản khoanh vùng bảo
vệ và phải đợc các cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền xác nhận trong hồ sơ di tích"
(Điều 32). Bên cạnh, việc xác định các khu

cổ có giá trị thuộc di tích là 533.270 m
2
.
(3)

Thực trạng của việc thực hiện pháp luật
về đất di tích cho thấy các hành vi xâm phạm
các quy định về quản lí, sử dụng đất di tích
đang ngày càng gia tăng. Điều này thể hiện ở
những điểm cụ thể sau đây:
Thứ nhất, các hành vi xây dựng, cơi nới,
lấn chiếm, sang tên, chuyển nhợng nhà đất
do ngời dân ở trong khu di tích gây ra. Do
nguyên nhân lịch sử mà hầu hết các di tích ở
các khu đô thị đều có một số hộ dân ở. Đầu
tiên là do nhà chùa cu mang cho ở nhờ
tránh thiên tai lũ lụt, sơ tán chiến tranh hoặc
đi vùng kinh tế mới về. Một số hộ khác đợc
chính quyền địa phơng cho ở tạm thời hoặc
một số khác tự ý vào ở, lâu dần chính quyền
địa phơng và nhà chùa không đòi lại đợc.
Trong quá trình sinh sống, nhân khẩu của
các gia đình tăng lên dẫn đến nhu cầu về nhà
ở và tách hộ cũng tăng theo, từ đó phát sinh
việc tự động cơi nới, mở rộng diện tích hoặc
sửa chữa nhà, lấn chiếm đất làm cho khu di
tích bị xâm hại và biến dạng. Theo con số
thống kê thì Hà Nội là địa phơng có nhiều
di tích nhất trong cả nớc, cụ thể là: "Trong
số 1.952 di tích có tới 384 di tích bị lấn

(quận Hoàn Kiếm) nay chỉ còn lại một vài
bia đá và tháp tổ nằm rải rác, xen kẽ trong
nhà dân v.v
Thứ hai, các hành vi vi phạm đất di tích
lịch sử do các hộ dân ở khu vực liền kề khu
di tích lấn, chiếm xây nhà ở. Do tốc độ phát
triển đô thị hóa nhanh chóng và sự tác động
của kinh tế thị trờng làm cho giá đất đô thị
tăng lên một cách "chóng mặt" cũng nh tình
trạng khan hiếm đất đô thị (nhất là ở các khu
vực trung tâm, mặt tiền các đờng phố
chính). Vì thế, ngời dân ở khu vực liền kề
đất di tích cũng đua nhau xây nhà, lấn chiếm
đất, trong đó có đất di tích. Ví dụ: Có những
nhà dân xây ban công đè lên hoặc trùm lên
mái nhà chùa nh di tích chùa Quang Minh
(quận Đống Đa Hà Nội). Thậm chí có những
hộ xây nhà ngay lối cửa chính đi vào di tích,
khiến một số di tích phải đóng cửa chính và
phải đi cửa phụ nh di tích chùa Đồng
Quang, chùa Sét (quận Hai Bà Trng Hà
Nội)v.v
Thứ ba, hành vi xâm phạm đất di tích do
cơ quan nhà nớc đặt trụ sở trong khu di tích.
Hiện tợng xâm phạm đất di tích còn do một
số cơ quan nhà nớc, đơn vị bộ đội, trờng
học, lớp mẫu giáo, UBND phờng và thậm
chí cả chợ cũng đợc đặt trong khu di tích.
Ví dụ, ở Hà Nội có một trờng tiểu học đặt
trong khu di tích chùa Hàm Long, di tích

mất hoàn toàn. Mặc dù trên giấy tờ vẫn gọi
là đất di tích".
(5)

Hệ thống pháp luật về đất di tích mới
dừng lại ở các quy định mang tính nguyên
tắc. Việc thiếu các quy định chi tiết, cụ thể
về đất di tích đ gây khó khăn cho công tác nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 3/2003 54

quản lí và sử dụng loại đất này. Đồng thời,
thiếu những cơ sở pháp lí cần thiết để giải
quyết các tranh chấp về đất di tích hoặc xử lí
các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lí và sử dụng đất di tích. Trên thực tế khi xảy
ra các tranh chấp về đất di tích hoặc xử lí các
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí và
sử dụng loại đất này, các cơ quan nhà nớc
có thẩm quyền phải áp dụng hoặc vận dụng
các quy định ở các văn bản pháp luật khác
nhau để giải quyết nên hiệu quả của công tác
này không cao.
4. Một số kiến nghị góp phần hoàn
thiện pháp luật về đất di tích lịch sử, văn
hóa và danh lam thắng cảnh
Đối với đất di tích, tuy chiếm diện tích
không lớn so với tổng quỹ đất của quốc gia

Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật đất đai năm 1998 đề
cập thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hơng hỏa của dòng họ. Trên
thực tế, một số các nhà thờ họ, thánh thất tôn
giáo, nhà chùa đ hoặc sẽ đợc xếp hạng di
tích lịch sử nên việc thiếu các quy định nói
trên sẽ ảnh hởng đến hiệu quả của công tác
quản lí nhà nớc đối với loại đất này. Đồng
thời, cần bổ sung các quy định về các trờng
hợp giao đất mới cho nhà chùa, nhà thờ,
thánh thất tôn giáo.
Thứ ba, chúng tôi cho rằng quy định về
đất di tích của Luật đất đai năm 1987 hợp lí
hơn quy định về loại đất này trong Luật đất
đai năm 1993. Luật đất đai năm 1993 quy
định: "Đất có di tích lịch sử, văn hóa và
danh lam thắng cảnh đ đợc xếp hạng phải
đợc bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định của
pháp luật"(Điều 69). Nh vậy, theo quy định
của điều này thì chúng ta có thể hiểu chỉ
những đất có di tích đ đợc xếp hạng thì
mới đợc pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên hiện
nay, số di tích đ đợc xếp hạng trên tổng số
4 vạn di tích trong cả nớc là con số rất
khiêm tốn. Việc khoanh vùng, xếp hạng di
tích cần phải mất nhiều năm nữa mới hoàn
thành. Do đó, nếu những di tích cha đợc
xếp hạng không đợc bảo vệ ngay từ bây giờ


chuyển nhợng trái phép đất di tích, xây
dựng các công trình trái phép trong khu vực
di tích. Đối với các trờng hợp cố tình vi
phạm, tái phạm hoặc vi phạm gây hậu quả
nghiêm trọng đối với các di tích thì cần phải
lập hồ sơ, truy tố và xét xử theo quy định của
pháp luật.
Nhà nớc cần có chính sách để giải
quyết vấn đề lấn chiếm, trả lại nguyên
trạng các di tích. Có chế tài xử phạt
nghiêm minh các hành động bao che không
ngăn chặn các hành vi lấn chiếm đất di tích
theo thẩm quyền.
Thứ năm, đất di tích có tính lịch sử và
mang ý nghĩa tâm linh rất lớn, đây là đặc
điểm khác biệt so với các loại đất khác. Vì
vậy, pháp luật đất đai cần bổ sung các quy
định để giải quyết những vấn đề lịch sử của
loại đất này. Tuy nhiên, cần xem xét, cân
nhắc kĩ về đối tợng và phạm vi điều chỉnh
của vấn đề này. Bởi lẽ, đây là vấn đề nhạy
cảm và phức tạp, đ và đang gây ra nhiều
khiếu kiện, tranh chấp. Nếu pháp luật không
có những quy định để giải quyết dứt điểm
tình trạng này thì các khiếu kiện và tranh
chấp về những vấn đề lịch sử xung quanh
loại đất này vẫn còn tiếp tục xảy ra.
Thứ sáu, nội dung quy hoạch, sử dụng
đất di tích ở các địa phơng cần đảm bảo
tính thống nhất với quy hoạch của ngành văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status