TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
LÊ THỊ HIỀN
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA MỘT SỐ
NHÓM ĐỘNG VẬT KHÔNG XƢƠNG SỐNG
CỠ LỚN TẠI THỦY VỰC THUỘC ĐỊA PHẬN
XÃ NGỌC THANH - THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học
HÀ NỘI - 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
======
LÊ THỊ HIỀN
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA MỘT SỐ
NHÓM ĐỘNG VẬT KHÔNG XƢƠNG SỐNG
CỠ LỚN TẠI THỦY VỰC THUỘC ĐỊA PHẬN
XÃ NGỌC THANH - THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu, các số liệu trình bày trong khóa luận là do nghiên cứu, thực tiễn đảm
bảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong
các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo,… nào khác.
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Lê Thị Hiền
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 1
3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 1
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn...................................................... 2
4.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................ 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................ 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .................................................... 3
1.1. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS cỡ lớn ở nước trên thế giới .................. 3
1.2. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS cỡ lớn ở nước tại Việt Nam ................. 8
1.3. Khát quát điều kiện tự nhiên ở xã Ngọc Thanh – thị xã Phúc Yên – tỉnh
Vĩnh Phúc ........................................................................................................ 11
1.3.1. Vị trí địa lý .................................................................................... 11
ĐVN
: động vật nổi
ĐVĐ
: động vật đáy
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng các taxon thuộc các bậc phân loại của nhóm ĐVKXS cỡ
lớn tại khu vực nghiên cứu .............................................................................. 18
Bảng 3.2. Số lượng loài ĐVKXS cỡ lớn theo mùa tại xã Ngọc Thanh, thị xã
Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ............................................................................... 24
Bảng 3.3. Thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn theo mùa tại khu vực nghiên cứu
......................................................................................................................... 27
DANH MỤC H NH
Hình 2.1. Sơ đồ các điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu ....................... 13
Hình 3.1. Tỷ lệ (%) số lượng loài theo các bộ, lớp thuộc nhóm ĐVKXS cỡ
lớn tại khu vực nghiên cứu .............................................................................. 19
Hình 3.2. Số lượng loài ĐVKXS cỡ lớn theo mùa tại xã Ngọc Thanh, thị xã
Phúc Yên,tỉnh Vĩnh Phúc ................................................................................ 25
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Động vật không xương sống (ĐVKXS) cỡ lớn là một trong những
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học đa dạng về loài của nhóm
ĐVKXS cỡ lớn là cơ sở cho việc bảo vệ tính đa dạng của nhóm sinh vật này
tại địa phận xã Ngọc Thanh.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu về động vật sau này tại địa phận xã Ngọc Thanh - thị xã Phúc
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm bảo
tồn, xây dựng quy hoạch, khai thác hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên
thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu.
2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS cỡ lớn ở nƣớc trên thế giới
Trong các tài liệu để lại của thời cổ Ai Cập, cổ Trung Quốc cũng như
cổ La Mã, Hy Lạp để lại, đã thấy có những tư liệu về đời sống thủy sinh vật
được con người sử dụng. Tuy nhiên, thủy sinh học chỉ thực sự trở thành khoa
học từ giữa thế kỷ XIX, có thể kể đến các công trình của Muller (1845),
Forel (1892-1895) [9].
Sau khi Công ước đa dạng sinh học (ĐDSH) được 157 nước ký kết tại
Rio de Janeiro (1992), việc nghiên cứu, bảo tồn ĐDSH đã được đẩy mạnh ở
nhiều góc độ khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, phần lớn các nhóm ĐVKXS nước
ngọt đã được quan tâm nghiên cứu như Thân mềm chân bụng (Gastropoda),
Thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), Giáp xác (Crustacea), Côn trùng thủy
sinh (Insecta)... [29] Merrittvà Cummins (1996) cũng đã phân loại đến giống
côn trùng thủy sinh và bán thủy sinh ở Bắc Mỹ. Công trình nghiên cứu này
giống của họ Baetidae ở châu Á [32].
Để bảo tồn và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông, từ năm
2003, Ủy ban sông Mê Kông đã tiến hành chương trình quan trắc ĐDSH ở
nhiều khu vực khác nhau trên lưu vực sông Mê Kông như Thái Lan, Lào,
Campuchia và cả ở Việt Nam... Trong các báo cáo kỹ thuật hàng năm cho
thấy, nhóm động vật nổi (ĐVN) và động vật đáy (ĐVĐ) là hai nhóm
ĐVKXS được các tác giả quan tâm nghiên cứu. Năm 2007, chỉ tính riêng
kết quả nghiên cứu ở vùng hạ lưu, với 20 điểm thu mẫu, về ĐVN đã thu
được 118 loài, thuộc 61 giống, 31 họ thuộc các nhóm Crustacea (Copepoda,
Brachiopoda, và Ostracoda), Eurotatorea, Protozoa. Eurotatorea chiếm ưu
thế (có tới 30 giống, thuộc 15 họ chiếm 54.5% tổng số giống ĐVN).
Trongđó, Brachionidae (Eurotatorea), Difflugiidae (Protozoa) và Lecanidae
4
(Eurotatorea) là những nhóm có mức độ ĐDSH ở bậc họ cao với 14, 12 và 9
họ [40].
Đặc biệt, từ năm 2002 đến năm 2008, một dự án mang tên:
“Freshwater Animal Diversity Assessment (FADA)” được thực hiện bởi 163
nhà khoa học trên thế giới như: Darren, PeterNg., et al. (nghiên cứu về
Crustacea: Decapoda: Brachyura) [19], De Grave, Cai, Anker A. (Crustacea:
Decapoda: Caridea) [20],
De Moor, Ivano(Insecta: Trichoptera) [21], Helen et al. (Insecta:
Ephemeroptera) [23], Polhemus, Polhemus (Insecta: Heteroptera)... [37]
nhằm đánh giá tổng quan về mức độ ĐDSH ở bậc giống và loài động vật,
thực vật trong các hệ sinh thái nước ngọt trên thế giới. Kết quả nghiên cứu
cho thấy đã mô tả 125.531 loài động vật nước ngọt, chiếm 9,5% tổng số loài
động vật được công nhận trên toàn cầu (1.324.000 loài). Trong đó, Insecta
chiếm ưu thế với: 75.874 loài (chiếm 60.4%), động vật có xương sống:
Platythelphusidae,
Potamidae,
Gecarcinucidae và Parathelphusidae. Trong công trình này, các tác giả đã đề
cập tới nguồn gốc, quá trình đa dạng hóa và chủng loại phát sinh của các
loài cua nước ngọt. Họ cũng kiến nghị việc thành lập nhiều hơn nữa các khu
bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia nhằm bảo tồn sinh cảnh cho các loài
cua nước ngọt đang bị suy kiệt. Số lượng loài Isopoda nước ngọt trên thế
giới đã được George Wilson (2008) tổng kết với gần 950 loài, con số này
chỉ bằng gần 9% so với số lượng loài ước đoán. Tác giả cũng chỉ ra các mối
đe dọa đến ĐDSH nhóm Isopoda, sẽ có nhiều loài bị tuyệt chủng trước khi
được miêu tả mà nguyên nhân chủ yếu là do sự phá hủy sinh cảnh, ô nhiễm
môi trường,.... Về nhóm Amphipoda, thường gặp ở nhiều sinh cảnh nước
ngọt từ hồ, ao, sông và thủy vực nước ngầm. Hiện nay, có khoảng 7.000 loài
đã được mô tả trên toàn thế giới, trong đó 900 loài sống ở nước ngọt. Trong
số 4 phân bộ (Gammaridea, Caprellidea, Ingolfiellidea và Hyperiidea ) thì
phân bộ Gammaridea có số loài nhiều nhất, trong đó những loài nước ngọt
thuộc vào 17 họ và 152 giống (Catherine Yule, 2004). Väinölä et al. (2008)
đã tổng kết được 1.870 loài Amphipoda nước ngọt trên thế giới (tính đến
năm 2005). Các tác giả cũng bàn luận về địa lý sinh vật của nhóm này. Bên
6
cạnh đó, một số khu vực có độ đa dạng cao về Amphipoda nước ngọt đã
được xác định: hồ Baikal (Nga), khu vực Australia [41].
Nhóm thân mềm (Mollusca), có thể kể đến các công trình nghiên cứu
về thân mềm ở khu vực Malaysia từ những năm 1889 của Aldrich, tiếp đến
là Benthem Jutting (1949, 1960), Berry (1963, 1974), Brandt (1968, 1974),
khu vực này [14].
Nhóm côn trùng nước (Insecta), một trong những nhóm ĐVKXS
nước ngọt đa dạng nhất. Trên thế giới, nhóm này đã được nghiên cứu từ khá
sớm. Các tác giả tiêu biểu có thể kể đến như Merrit và Cummins (1996) với
các nghiên cứu về côn trùng ở Mỹ, John, Yang Lianfang và Tian Lixin
(1994) ở Trung Quốc, Jäch và Ji (1995, 1998, 2003) với công trình nghiên
cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera) ở Trung Quốc, McCafferty ở Anh
(1983).... [25, 26, 27, 28, 29, 30]. Có thể nói, các công trình về côn trùng
nước luôn chiếm tỷ lệ lớn trong các nghiên cứu về ĐVKXS nước ngọt trên
thế giới từ trước nay với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học.
1.2. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS cỡ lớn ở nƣớc tại Việt Nam
Nghiên cứu thủy sinh học ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ những
năm cuối thế kỷ XVIII. Xét trên tính chất và nội dung nghiên cứu, có thể
chia quá trình phát triển của thủy sinh học ở Việt Nam sau giai đoạn cổ đại
thành hai giai đoạn, với hai giai đoạn lịch sử:
Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám: bắt đầu cuối thế kỷ XVIII tới
năm 1945 với nội dung chủ yếu mang tính chất điều tra cơ bản khu hệ động
vật biển và nước ngọt nội địa. Các công trình nghiên cứu chính phải kể đến
là Crosse và Fisher (1863), Fisher (1891), Fisher và Dautzenberg (1905,
1908) là những tài liệu rất cơ bản về trai ốc nước ngọt Việt Nam. Bên cạnh
đó cũng cần kể đến các công trình của một số tác giả khác như Morlet
(1891), Bavay và Dautzenberg (1900-1901), Rolle (1904), Demange (1912),
8
Hass (1910, 1924-1925, 1929), Prashad (1928)… Martens (1902) cũng có
những đóng góp về lĩnh vực này [9].
Về tôm, cua nước ngọt, mức độ nghiên cứu có ít hơn. Những công
trình đã biết là của Rathbun (1902 - 1906), De Man (1904), Balss (1914) về
mới thuộc giống Somanniathelphusa ở Việt Nam [15]. Cũng trong năm này,
cùng với Caivà Peter Ng., Nguyễn Xuân Quýnh đã mô tả 1 loài tôm mới cho
miền Bắc Việt Nam với tên khoa học là Caridina clinata [42].
Đến năm 2001, các nhóm giáp xác nước ngọt đã được Đặng Ngọc
Thanh, Hồ Thanh Hải bổ sung và hoàn thiện việc định loại, mô tả vùng phân
bố trong “Động vật chí Việt Nam, tập 5” [8].
Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu về ĐVKXS ở nước của Hoàng
Đức Huy (2001) [24], Nguyễn Thị Mai (2002) [2], Đặng Ngọc Thanh và Hồ
Thanh Hải (2005) [1] , Nguyễn Văn Vịnh (2003, 2005, 2006) [34, 35, 36].
Cho đến nay, đã xác định được trên 800 loài ĐVKXS nước ngọt.
Trong đó, đáng lưu ý là thành phần loài Giáp xác (Crustacea), có 54 loài và
8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Riêng hai nhóm tôm, cua có 59
loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô
tả. Trong tổng số 155 loài trai ốc, có 51 loài (32,9% tổng số loài), 4 giống
lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc trưng cho Việt Nam
hay vùng Đông Dương [9].
Cùng với các nghiên cứu về đa dạng ĐVKXS ở nước tại các thủy vực
nước ngọt, trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam cũng đã
quan tâm đến việc nghiên cứu sử dụng sinh vật chỉ thị để đánh giá chất
lượng nước. Trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh
và cộng sự (1985, 1995, 2000, 2001, 2004, 2006) nghiên cứu về khu hệ
ĐVKXS ở sông Tô Lịch, sông Nhuệ, Hà Nội; thành phần ĐVKXS trong các
thủy vực có nước thải ở Hà Nội từ 1981-1995; nghiên cứu xây dựng khoá
định loại đến họ các nhóm ĐVKXS ở nước ngọt phục vụ cho việc nghiên
cứu đánh giá chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị. Đồng thời, các tác giả đã
10
công bố một quy trình quan trắc và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng việc
sử dụng sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ lớn [3, 4, 5, 6, 33].
biển trung bình từ 25m - 300m, cao nhất là đỉnh Tam Tương 396m, ở các
đỉnh núi cao, sườn dốc 20 - 300m, còn lại là độ dốc dưới 200m. Địa hình
nhìn chung chịu sự chi phối của 4 dãy núi chạy dọc theo hướng Đông Bắc
và Tây Nam, bị chia cắt thành thung lũng hẹp.
1.3.3. Đặc điểm khí hậu
Theo tài liệu thu thập của trạm khí tượng thuộc Trung tâm Khoa học
sản xuất lâm nghiệp Đông Bắc Bộ (đặt tại văn phòng Trung tâm) cách
hiện trường nghiên cứu dưới 200m thì khu vực nghiên cứu nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió
chính là gió mùa Đông - Bắc và gió Đông - Nam.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,6oC, nhiệt độ tối cao trung
bình là 31,50(tháng 6). Lượng mưa trung bình quân năm 1456,6mm, phân
bố không đều trong năm.
Gió mùa Đông Bắc là gió chính hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau, gió mùa Đông Nam thường thổi từ tháng 4 đến tháng 10 mang theo
hơi nước, ẩm. Thời gian này cũng chính là mùa mưa nóng ảnh hưởng thuận
lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển.
1.3.4. Đất đai
Nền địa chất bao gồm các đá mẹ phiến thạch, phấn sa, sa thạch có
những tảng thạch anh xen kẽ nhau tạo thành 1 lớp phủ phong hóa không
đều. Chủ yếu là đất feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến
thạch sét, sa thạch. Tầng đất từ mỏng đến trung bình, ít nơi có tầng dày trên
1m. Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét, đất bị xói mòn mạnh, thường có
kết von từ 20 - 70%.
12
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
cây cỏ. Suối là một điểm du lịch. Dòng nước chảy bình thường, chịu tác
động của con người nhưng ít.Độ che phủ khoảng 50%, có chỗ 5-10%.
Điểm 2 (S2): Điểm thu mẫu cách hang dơi 50m. Suối có chiều rộng
4-5m, có chỗ chỉ hơn 1m, sâu khoảng 15-30cm. Độ che phủ 0-5%. Xung
quanh suối là rừng cây. Nước chảy bình thường, nền đáy chủ yếu là tảng đá
bình thường, có nhiều đá nhỏ, giữa suối có nhiều cỏ mọc.
Điểm 3 (S3): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Đồng Chằm. Độ rộng
của suối 2-3m, độ sâu 50-60cm, có chỗ 10-30cm. Xung quanh suối có nhiều
cây bóng mát, độ che phủ 80-95%. Nước chảy bình thường, nền đáy chủ yếu
là đá nhỏ,có chỗ có đá tảng lớn và sỏi. Suối ở cạnh nhà dân, có nuôi vịt.
Điểm 4 (S4): Điểm thu mẫu là đập tràn 1. Độ che phủ gần như là 0%.
Suối có dòng nước chảy mạnh, nền đáy chủ yếu là bùn, cát. Chiều rộng của
suối 5-6m.
Điểm 5 (S5): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Tân An, là hệ thống
mương dẫn nước phục vụ cho tưới tiêu. Nền đáy chủ yếu là sỏi và cát. Hai
bên bờ là cỏ dại.
Điểm 6 (S6): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Tân An. Suối có chiều
rộng hơn 1m, độ sâu trung bình 20-50cm. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đá có
nhiều rêu bám vào,có cả sỏi và bùn. Xung quanh suối là cỏ dại, độ che phủ
0-5%, có chỗ 85-95%.
Điểm 7 (S7): Điểm thu mẫu ở suối thuộc thôn Tân An. Suối có chiều
rộng 1,5-2m, sâu 40-60cm. Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, cũng có lẫn ít đá to,
14
sỏi và bùn. Xung quanh là cỏ dại, độ che phủ khoảng 70-85%. Chịu tác động
của nhà dân,vịt nuôi.
Điểm 8 (S8): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Bình Khê. Suối có độ
rộng 70cm, độ sâu trung bình 20-30cm. Nền đáy chủ yếu là đá, sỏi. Xung
những động vật đáy ven bờ.
Vật mẫu được thu bằng vợt ao (Pond net) và vợt tay (Hand net)
bằng cách sục vợt vào các đám cỏ, cây bụi thủy sinh ven bờ hoặc các đám
cây thủy sinh sống nổi trên mặt nước.
Phương pháp thu mẫu
Tiến trình thu mẫu được thực hiện theo phương pháp của Edmunds và
cộng sự (1976), Mc Cafferty (1981), Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự
(2001), Nguyen and Bae (2003, 2005, 2006). Thu mẫu định tính được thực
hiện ở cả nơi nước chảy, cũng như nơi nước đứng. Khi thu mẫu, dùng vợt
đưa qua các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các đám lá trôi nổi trên bề mặt
nước. Đối với các loại côn trùng sống trên mặt nước, dùng vợt đưa nhanh
trên mặt nước. Đối với một số loài sống bám vào các tảng đá, dùng phương
pháp đạp nước ở nền suối hoặc nhấc các tảng đá lên tìm kiếm và dùng panh
mềm để nhặt mẫu (tránh làm nát mẫu), ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng
chảy hẹp thì việc thu mẫu được thực hiện bằng vợt cầm tay.
Xử lý mẫu
Mẫu sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất. Nhặt qua mẫu
ngay tại thực địa.
Sử dụng panh, thìa và khay nhôm để nhặt vật mẫu.
Mẫu thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 800, ghi etiket đầy
đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm
Động vật học, khoa Sinh - KTNN, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.
Tại mỗi điểm nghiên cứu, các đặc điểm sinh cảnh, hoạt động của
người dân trên sông, hoạt động kinh doanh, sản xuất... cũng được chụp hình
và ghi chép lại.
16