PHẦN MỞ ®Çu
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
nhập quốc tế, nguồn lực con người quyết định sự thành công của công cuộc phát
triển đất nước, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội. Phát triển giáo
dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò đặc biệt quan trọng. Những năm qua, sự
nghiệp giáo dục đã có những phát triển mới, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ
trong việc mở rộng quy mô, tăng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người. Bên
cạnh đó, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng cơ bản yêu
cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần vào thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển giáo dục của
nước ta còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với vị trí giáo dục là quốc sách hàng
đầu. Chất lượng giáo dục và đào tạo nhìn chung còn thấp, công tác quản lý giáo
dục còn kém hiệu quả.
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020 yêu cầu đổi
mới mạnh mẽ chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy giáo dục, phương
pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện. Nhất là trong
giai đoạn hiện nay, chúng ta đang thực hiện dạy học theo đối tượng, vùng miền
đối với các cấp học, bậc học, triển khai đề án phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ
em 5 tuổi... đòi hỏi phải ta thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm tăng cường các
điều kiện đảm bảo về chất lượng quản lý, giáo viên, về cơ sở vật chất, thiết bị dạy
học, về tài chính...Trong đó công tác quản lý giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt,
có tác dụng quyết định thành công của sự nghiệp giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy “Mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Trong quá
trình thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục được xem là “khâu đột
phá” mở đầu cho việc triển khai những chủ trương và giải pháp được quyết định.
1
trường học trên địa bàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
2
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trước thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các đơn vị trường học còn nhiều
hạn chế, tôi nghiên cứu đề tài "Thực trạng và các biện pháp xây dựng, phát
triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học" để tìm hiểu
nguyên nhân hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý và kịp thời đề xuất những giải
pháp thiết thực, sát thực tế, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội địa phương và
điều kiện của các đơn vị trường học.
4. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực trạng đội ngũ giúp cho các cấp quản lý giáo dục, cá nhân
cán bộ quản lý trường học nhìn nhận được những ưu điểm, tồn tại, từ đó xây dựng
kế hoạch đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo góp phần thực hiện thắng lợi chủ đề
năm học "Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục".
- Có chiến lược, tầm nhìn về công tác cán bộ, đáp ứng được yêu cầu đổi
mới giáo dục hiện nay. Từ đó, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác cán bộ, nhất
là đối với người đứng đầu đơn vị trường học nhằm đổi mới và nâng cao chất
lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Căn cứ pháp lý
3
Quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có hệ
thống, có mục đích, có kết quả) mang tính sư phạm của chủ thể quản lý đến tập
thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia mọi hoạt động của
nhà trường, làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu đến việc hoàn thành
các mục tiêu dự kiến.
a. Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm
vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học
sinh. Chủ thể quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường là Hiệu trưởng. Đối
tượng quản lý ở đây là cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường.
b. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt
động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo
dục.Thực chất của quản lý quá trình dạy học, giáo dục là: Tổ chức chỉ đạo, điều hành,
việc dạy của thầy và hoạt động của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật
chất, kỹ thuật, thiết bị cho dạy và học, nhằm đạt được mục đích giáo dục đào tạo.
2.2. Vị trí, nhiệm vụ của cán bộ quản lý
Hiệu trưởng là người được Nhà nước bổ nhiệm, có trách nhiệm và thẩm
quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường; chịu trách nhiệm
trước cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức chỉ đạo, điều hành toàn bộ các hoạt động
của nhà trường để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục đặt ra. Hiệu trưởng
có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; Thực
hiện các quyết nghị của Hội đồng trường; Xây dựng quy hoạch phát triển nhà
trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh
giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền; Thành lập
các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ
nhiệm tổ trưởng, tổ phó; đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có
1. Khái quát về giáo dục Mầm non, phổ thông
6
a. Quy mô phát triển giáo dục: Năm học 2010-2011 toàn huyện có 42 đơn
vị trường, 614 lớp, 12.335 học sinh (trong đó: Mầm non 14 trường/ 169 lớp/ 3858
học sinh; bậc Tiểu học 18/ 354 lớp/ 5539 học sinh; bậc THCS 10 trường/ 97 lớp/
3061 học sinh).
Số trường, lớp học được phát triển một cách hợp lý, theo hướng thuận lợi
cho người học, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi ra lớp ngày càng cao, từng bước đáp ứng nhu
cầu học tập của người dân địa phương. Không còn trường phổ thông có nhiều cấp
học do đó dễ quản lý, tập trung vào chỉ đạo chuyên môn cho một cấp học, hướng
tới xây dựng trường chuẩn quốc gia; cơ sở vật chất trường, lớp học tuy đã được
quan tâm đầu tư, song chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng.
Như vậy, cùng với sự phát triển về trường, lớp, học sinh, biên chế giáo
viên, cán bộ quản lý nhà trường tăng lên hàng năm. Tuy nhiên, do thiếu nguồn
tuyển nên giáo viên Mầm non còn thiếu, nên CBQL, giáo viên của ngành học này
chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý, giảng dạy.
b. Chất lượng giáo dục
- Chất lượng giáo dục Mầm non: Tỷ lệ bé khoẻ, bé ngoan, bé sạch, bé
chăm đạt 92% trở lên; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 15%.
- Chất lượng giáo dục phổ thông:
+ Về học lực: Chất lượng giáo dục đại trà tương đối ổn định: Tỷ lệ lên lớp
hàng năm đạt từ 98% trở lên; học sinh xếp loại học lực khá, khá giỏi từ 35-42%, tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp tiểu học từ 98- 100%, trung học cơ sở từ 99- 100%. Giáo dục mũi
nhọn được quan tâm, số học sinh thi đỗ vào trường Trung học phổ thông Chuyên
của tỉnh, số học sinh đạt giải cấp khu vực, cấp tỉnh tăng hàng năm. Công tác phổ cập
giáo dục (PCGD) và công tác nâng cao chất lượng giáo dục được đẩy mạnh.
+ Về hạnh kiểm: Năm học 2010-2011 tỷ lệ học sinh được xếp loại hạnh
tưởng an phận. Công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên còn hình thức, tác dụng, hiệu
quả thấp, chưa đủ làm cho giáo viên giác ngộ phấn đấu vươn lên để tự hoàn thiện.
- Cơ sở vật chất trường học thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của
Giáo dục và Đào tạo trước quy mô phát triển nhanh của tất cả các ngành học, bậc
8
học, yêu cầu số lượng trường, lớp (tỷ lệ lớp học tạm hiện nay chiếm 35%) ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả giáo dục.
2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường học
Tính đến thời điểm tháng 01/2012 số lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuộc
phòng GD-ĐT huyện Tân Uyên quản lý như sau:
- Số lượng: 106 người, trong đó: Hiệu trưởng 42 (Mầm non 14; TH 18;
THCS, PT DTBT 10); Phó Hiệu 64 (MN 20; TH 30; THCS, PTDTBT 14).
2.1. Khái quát về cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý trường học năm học
2010-2011
- Cơ cấu giới: Cán bộ quản lý trường học là 89 đồng chí. Trong đó, cán bộ
quản lý nữ là 57 người, tỷ lệ 64%. Như vậy, tỷ lệ nữ là cán bộ quản lý trường học
hiện nay tương đối cao, đặc biệt là bậc MN, Tiểu học.
- Cơ cấu dân tộc: Cán bộ quản lý trường học là người dân tộc thiểu số có
05 đồng chí, tỷ lệ 5,6%. Tuy nhiên, Tân Uyên là huyện có 85% dân số là người
dân tộc thiểu số, vì vậy, vấn đề cơ cấu dân tộc, vùng miền là rất quan trọng, trong
khi đó số lượng cán bộ quản lý là người dân tộc ở địa phương còn quá ít.
- Về công tác phát triển đảng: Hiện có 72 cán bộ quản lý là đảng viên,
chiếm tỷ lệ 80,9%, trong đó có 4/42 Hiệu trưởng chưa là đảng viên. Khi xem xét
bổ nhiệm cán bộ quản lý thì tiêu chuẩn người được bổ nhiệm là đảng viên được
ưu tiên, đặc biệt là Hiệu trưởng.
- Về thâm niên cán bộ quản lý: Thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ nhất 5
năm là 55 người, tỷ lệ 61,8%; thâm niên quản lý nhiệm kỳ thứ 2 từ 5 đến dưới 10
năm là 27 người, tỷ lệ 30,3%; thâm niên quản lý tại một đơn vị nhiệm kỳ 3 từ 10
mới giáo dục phổ thông và Mầm non hiện nay.
- Về trình độ tin học : Trình độ tin học văn phòng: 54 người, tỷ lệ 60,67 %.
Như vậy, cứ 100 cán bộ quản lý thì có 40 người chưa ứng dụng thành thạo công
nghệ thông tin vào quản lý trường học.
- Về trình độ giao tiếp với người dân địa phương bằng Tiếng dân tộc: có
27 đồng chí giao tiếp bằng thành thạo tiếng dân tộc, chiếm tỷ lệ tỷ lệ 30,33 %.
10
Hiện toàn huyện có 88% học sinh các đơn vị trường học là người dân tộc thiểu số,
mà tỷ lệ cán bộ quản lý được biết tiếng dân tộc còn quá thấp, điều này gây khó
khăn cho các nhà trường trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,
chính sách của Đảng về công tác giáo dục.
- Về ngạch của cán bộ quản lý: Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày
25/11/2010, Thông tư số 08/2011/TT-BNV về việc hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định 06 quy định cán bộ quản lý các đơn vị trường học là công
chức. Tuy nhiên khi được giao biên chế hàng năm thì cán bộ quản lý các đơn vị
trường học là viên chức. Điều này có liên quan đến việc thực hiện chế độ, chính
sách cho cán bộ quản lý các đơn vị trường học.
2.3. Về năng lực quản lý, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản
lý trường học.
Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Đa số cán bộ quản lý trường học có lập
trường quan điểm chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trường, chính sách của
Đảng, pháp luật của nhà nước, thực hiện nghiêm túc các quy định về đạo đức nhà
giáo; gắn bó, say mê, tận tuỵ và có trách nhiệm cao với nhiệm vụ được giao; có
hiểu biết sâu, rộng về lĩnh vực quản lý, công tác và đời sống kinh tế - xã hội của
địa phương; có tinh thần đoàn kết, hợp tác với đồng nghiệp, cấp uỷ, chính quyền
địa phương và với các cấp quản lý giáo dục; có lối sống lành mạnh, giản dị, mẫu
mực của nhà giáo; Có ý thức tự phê bình, rèn luyện và tu dưỡng; Có uy tín tập thể
với nhân dân địa phương. Tuy nhiên, tinh thần say mê học tập sáng tạo để phát
54,2%-61,4%, còn lại là xếp loại trung bình.
3. Thực trạng công tác tổ chức, quản lý, xây dựng đội ngũ cán bộ quản
lý trường học huyện Tân Uyên
3.1. Việc quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý
Trong những năm qua, việc quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
cấp học của ngành Giáo dục và Đào tạo đã được quan tâm. Kết quả: 100 % trường
học đều có quy hoạch cán bộ quản lý nhiệm kỳ 2010-2015 và 2016-2020, cán bộ
được quy hoạch phần lớn bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, đặc biệt là cơ cấu dân tộc, cơ
cấu người địa phương, như vậy công tác quy hoạch đã mang tính lâu dài. Công tác
12
quy hoạch đã có tác dụng quan trọng trong việc lựa chọn bổ sung cán bộ quản lý và
đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, công tác quy hoạch chưa gắn liền với đào tạo
bồi dưỡng; ở một số đơn vị quy hoạch cán bộ chưa đồng thời với phân công, giao
việc cho cán bộ để thử thách rèn luyện bồi dưỡng. Hiệu quả công việc được giao là
thước đo quan trọng về tiêu chuẩn cán bộ trong quy hoạch (lãnh đạo trường có thể
giao cán bộ trong quy hoạch làm thư ký hội đồng, tổ trưởng chuyên môn hoặc tham
gia công tác đoàn thể: công đoàn, đoàn thanh niên, công tác đội...).
3.2. Việc lựa chọn, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ quản lý:
Công tác lựa chon bổ nhiệm cán bộ quản lý về cơ bản thực hiện theo quy
trình đề ra, góp phần lựa chọn bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý vừa vững vàng về
chuyên môn, vừa đảm bảo năng lực quản lývà phẩm chất chính trị, đạo đức, lối
sống. Tuy nhiên, công tác xem xét bổ nhiệm lại cán bộ quản lý, công tác luân
chuyển cán bộ quản lý chưa được chú trọng.
3.3. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý trường học chưa được quan
tâm đúng mức. Cụ thể: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ yếu đào tạo nâng cao trình
độ chuyên môn theo hình thức tự học, chưa có chế độ chính sách đãi ngộ của nhà
nước; số cán bộ quản lý có trình độ trung cấp chính trị trở lên thấp.
Cơ cấu cán bộ quản lý là người dân tộc thiểu số, công tác phát triển đảng
trong trường học chưa được quan tâm.
Một số bộ phận cán bộ quản lý có hiệu quả quản lý thấp, do ý thức tự học
hỏi, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý còn hạn chế,
đặc biệt là chưa có những hiểu biết cần thiết về quản lý tài chính và kỹ năng ứng
dụng công nghệ thông tin, tiếng dân tộc vào công tác quản lý; không chịu tìm tòi,
sáng tạo, cải tiến trong quản lý, năng lực còn hạn chế không đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục mà chưa được luân chuyển hoặc thay thế.
Một số cán bộ quản lý do ngại va chạm, thiếu sâu sát, coi nhẹ công tác
kiểm tra, đánh giá nên chưa chú trọng nên hiệu quả quản lý chưa cao.
14
Những nguyên nhân của các yếu kém:
Công tác xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý trường học chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, bài bản nên chưa có giải pháp thiết
thực để triển khai, thực hiện.
Chưa mạnh dạn luân chuyển cán bộ quản lý; việc đào tạo bồi dưỡng cập
nhật kiến thức, kỹ năng chưa được quan tâm tổ chức...Đồng thời mỗi cá nhân cán
bộ quản lý cũng chưa cố gắng trong việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến
thức quản lý, kiến thức về khả năng sử dụng công nghệ thông tin để sử dụng có
hiệu quả trong quản lý trường học. Một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý bằng
lòng với hiện tại, hạn chế về tầm nhìn, thiếu năng động sáng tạo trong quản lý.
Đảng bộ cơ sở, chi bộ các đơn vị trường học chưa quan tâm đến công tác
phát triển đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong nhà trường. Chính vì vậy,
công tác cán bộ chưa mang tính Đảng lãnh đạo toàn diện.
III. CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỌC
1. Xây dựng kế hoạch phát triển mạng lưới trường, lớp học giai đoạn
vọng phát triển và cần được tiếp tục rèn luyện, thử thách trong thực tiễn hoặc đào
tạo, bồi dưỡng để chuẩn bị nguồn nhân sự cho chức danh quy hoạch.
- Quy hoạch là tạo nguồn cán bộ cho thời kỳ sau với những yêu cầu mới. Do
vậy, trong quy hoạch phải bao gồm cả cán bộ đương chức và cán bộ mới được
giới thiệu lần đầu. Đối với chức danh lãnh đạo, quản lý mà theo quy định hiện
hành một cán bộ không giữ quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp, thì không quy hoạch các
đồng chí đã giữ chức danh đó 2 nhiệm kỳ liên tiếp tại một đơn vị. Các đồng chí
này nếu còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện thì đưa vào quy hoạch giữ các chức vụ
khác hoặc ở đơn vị khác.
- Quy hoạch cán bộ phải gắn với công tác đánh giá cán bộ. Việc đánh giá
đúng đội ngũ cán bộ, viên chức không chỉ để tuyên dương, khen thưởng, phê
bình... mà điều quan trọng hơn là để làm cơ sở phát hiện nhân tố tích cực, tiêu
biểu trong đội ngũ cán bộ từ đó lựa chọn đưa vào quy hoạch.Chính vì vậy, công
16
tác đánh giá cán bộ phải được thực hiện đúng quy trình, phải có thái độ nhìn nhận
khách quan, công tâm, mang tính mô phạm.
- Quy hoạch cán bộ phải gắn với sự phân công, mạnh dạn giao việc cho cán
bộ trong quy hoạch. Sự trưởng thành từ thực tiễn công việc là yếu tố quan trọng
và cần thiết để xem xét bổ nhiệm cán bộ quản lý khi có nhu cầu.
- Quy hoạch cán bộ phải gắn chặt với việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Nếu
chỉ có quy hoạch mà không chú ý đến đào tạo, bồi dưỡng để cán bộ tự thân vận
động thì cán bộ được quy hoạch khó định hướng phấn đấu, chậm trưởng thành.
2.2. Về quy trình thực hiện: Công tác quy hoạch cán bộ có ý nghĩa quan
trọng, mang tính giáo dục cao, đó là kế hoạch về sự tuyển chọn, sử dụng và đào tạo,
bồi dưỡng con người bằng công việc, qua công việc, giúp cho việc bổ nhiệm cán bộ
quản lý trường học được chủ động. Nhờ có công tác quy hoạch mà đội ngũ cán bộ
kế cận, dự nguồn được đào tạo bồi dưỡng về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản
lý, phẩm chất đạo đức để sẵn sàng cho việc bổ nhiệm khi có nhu cầu. Nghị quyết
nghiệm, những điển hình quản lý giỏi của các trường để học viên được trao đổi,
học tập kinh nghiệm.
* Bồi dưỡng các kỹ năng trong quản lý : Kỹ năng thực hiện các chức năng
quản lý là cách thức hoàn thành hành động thực hiện các chức năng quản lý của
người cán bộ quản lý. Cụ thể:
- Kỹ năng quản lý: Kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng tổ chức công việc; kỹ
năng phân công chuyên môn, lập thời khoá biểu; kỹ năng quản lý tài chính; kỹ
năng về quản lý dạy học và giáo dục; kỹ năng quản lý học sinh.
- Kỹ năng nhân sự: Đó là những kỹ năng hoà nhập với mọi người trong lao
động chung, kỹ năng động viên từng người và tập thể. Cụ thể: Kỹ năng giao tiếp;
Kỹ năng phát biểu; Kỹ năng điều khiển cuộc họp; Kỹ năng khích lệ và thuyết
phục; Kỹ năng phát, nhận và xử lý thông tin…
- Kỹ năng nhận thức: Đây là khả năng tư duy về công việc, khả năng định
hướng công việc nắm bắt mối liên quan giữa các công việc. Đây là sự tổng hợp
các kiến thức của người cán bộ quản lý giáo dục. Cụ thể: Nhận thức về các mục
tiêu giáo dục; nhận thức về đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục; nhận
thức về xã hội hoá giáo dục; nhận thức về công tác dân chủ ở cơ sở...
19
* Bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức xã hội nhằm nâng cao nhận thức
chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ quản lý là công việc
thường xuyên và cần thiết.
* Bồi dưỡng kiến thức Tin học nhằm giúp cho người quản lý áp dụng được
công nghệ thông tin trong quản lý, trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý ở các
đơn vị trường học khác trong cả nước qua mạng, đem lại sự tự tin, hoà nhập và
thích ứng với sự phát triển xã hội
* Bồi dưỡng Tiếng dân tộc nhằm giúp cho cán bộ quản lý hoà nhập với
người dân địa phương, thuận lợi cho công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục,
xã hội hoá giáo dục trên địa bàn.
4. Thực hiện tốt quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển và thôi
bổ nhiệm cán bộ quản lý trường học.
4.1. Về quan điểm chỉ đạo:
Đảm bảo các nguyên tắc bổ nhiệm cán bộ theo các văn bản hướng dẫn của
cấp trên. Căn cứ vào nhu cầu số lượng và chất lượng cán bộ quản lý từng trường
để tiến hành bổ nhiệm mới, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm hoặc luân chuyển cán bộ
quản lý đáp ứng nhu cầu bổ nhiệm của nhà trường và sự phấn đấu của cán bộ.
Công tác bổ nhiệm cần đảm bảo: Lựa chọn được người tiêu biểu, có đủ năng lực
phẩm chất, đảm nhận cương vị mới trên nguyên tắc tập trung dân chủ; động viên
khuyến khích những người có năng lực, từ đó tạo điều kiện bồi dưỡng cán bộ kế
cận dự nguồn; bổ nhiệm góp phần củng cố uy tín, niềm tin của cán bộ giáo viên
nhà trường; cán bộ quản lý đã hết nhiệm kỳ 5 năm nhất thiết phải bổ nhiệm lại
hoặc không bổ nhiệm lại.
4.2. Về quy trình bổ nhiệm
Bước 1. Căn cứ Điều lệ trường học, nhu cầu thực tế của đơn vị, tập thể lãnh
đạo, cấp ủy chi bộ nhà trường thảo luận, thống nhất số lượng, lập Tờ trình đề nghị
bổ nhiệm, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổng hợp danh sách chung toàn ngành.
21
Lãnh đạo, cấp ủy chi bộ, công đoàn ngành, các bộ phận chuyên môn thảo
luận, thống nhất về số lượng, nhân sự, dự kiến phân công công tác đối với cán bộ
đề nghị bổ nhiệm.
Trình Ban Thường vụ ( hoặc Thường trực huyện ủy), Lãnh đạo UBND
huyện (bằng văn bản) xin chủ trương, số lượng và dự kiến phân công công tác đối
với cán bộ đề nghị bổ nhiệm.
Bước 2. Giới thiệu nhân sự, lấy phiếu tín nhiệm
* Đối với nhân sự tại chỗ: Trên cơ sở nguồn cán bộ trong quy hoạch và
nhận xét, đánh giá cán bộ, Hiệu trưởng cùng tập thể Ban giám hiệu nhà trường,
kiến; xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có); thảo luận, nhận xét,
đánh giá và quyết định nhân sự (bằng hình thức bỏ phiếu kín, nhân sự đề nghị bổ
nhiệm phải được đa số các thành viên trong tập thể lãnh đạo tán thành).
Ủy ban nhân dân huyện ra thống báo nhân sự được bổ nhiệm trong năm.
Bước 5. Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo ra quyết định bổ nhiêm cán bộ
theo nhiệm kỳ 5 năm.
Trong công tác bổ nhiệm cán bộ quản lý cần tránh những các yếu tố chủ
quan phiến diện, không nên coi vấn đề đề bạt bổ nhiệm là một hình thức trả ơn,
thưởng công. Cán bộ được bổ nhiêm phải có đủ hồ sơ theo yêu cầu, được tập thể
tín nhiệm, được sự nhất trí hiệp y của Đảng bộ nơi công tác, được Hội đồng xét
duyệt của UBND huyện phê duyệt.
Thực hiện tốt việc bổ nhiệm lại (khi hết thời gian giữ chức vụ bổ nhiệm là 5
năm), thôi bổ nhiệm (cán bộ xin thôi bổ nhiệm vì các lý do khác nhau hoặc không
hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao) và chú ý công tác luân chuyển cán
bộ quản lý một cách hợp lý: Trong một đơn vị trường, nếu cán bộ quản lý cứ giữ
nguyên chức trong nhiều năm, không thay đổi sẽ kìm hãm sự phát triển của nhà
trường, làm tăng tính trì trệ, bảo thủ của cá nhân cán bộ quản lý, đồng thời không
kích thích tính tích cực, năng động, sáng tạo của cán bộ quản lý. Việc xem xét bổ
nhiệm lại cần tiến hành khách quan, vô tư và căn cứ vào kết quả quản lý đơn vị
của người cán bộ đó trong cả nhiệm kỳ công tác. Trường hợp cán bộ quản lý có
23
biểu hiện yếu kém, trì trệ, không được quần chúng tín nhiệm thì cần phải cần
mạnh dạn thôi bổ nhiệm, luân chuyên công tác hợp lý.
5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá đối với cán bộ
quản lý trường học
Thanh tra , kiểm tra có vai trò rất quan trọng trong cán bộ quản lý, nhằm
kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
của cán bộ quản lý và tìm nguyên nhân để sớm đưa ra những biện pháp khắc phục
giúp cán bộ quản lý có quyết định đúng đắn, khách quan đảm bảo cho công tác
quản lý có hiệu quả.
- Thông qua thanh tra, kiểm tra cơ quan quản lý cấp trên có thể đánh giá
đúng đắn hơn đội ngũ cán bộ quản lý để từ đó có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo
nghiệp vụ, chuyên môn cho cán bộ quản lý, giúp cho quy trình bổ nhiệm lại, thôi
bổ nhiệm được thực hiện chính xác và khách quan hơn.
Vì vậy, thanh tra, kiểm tra, đánh giá góp phần thiết thực xây dựng đội ngũ
cán bộ quản lý trường học ngày một tốt hơn.
6. Thực hiện tốt chế độ chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả
các cuộc vận động, phong trào thi đua.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII đã chỉ rõ: “Nhận thức sâu sắc về giáo dục đào tạo cùng với khoa học công
nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho
giáo dục đào tạo là đầu tư cho phát triển. Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi
đối với giáo dục đào tạo, đặc biệt là chính sách tiền lương".
Như vậy, muốn phát triển tốt sự nghiệp giáo dục đào tạo phải thường xuyên
chăm lo và có các chính sách đãi ngộ thích hợp đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục. Cụ thể:
- Chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ cho giáo viên, cán bộ quản lý để họ có
điều kiện thuận lợi về kinh tế, yên tâm công tác lâu dài tại đơn vị.
- Có những chính sách để thu hút được những nhân tài, các giáo viên giỏi
làm quản lý để phát huy được năng lực của cán bộ; thực hiện các chính sách ưu
tiên đối với cán bộ quản lý giỏi, cán bộ nữ. Như vậy mới có thể xây dựng được
đội ngũ cán bộ quản lý có chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
- Đảm bảo chế độ chính sách để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý.
Phải có kinh phí chi thường xuyên để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
25