Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG MỘT SỐ
KHU DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
d. Độ bốc hơi..................................................................................................................72
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
1
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
LỜI MỞ ĐẦU
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị trí
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt Nam là một nước được biết
đến với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản văn hoá
thế giới: Vịnh Hạ Long, Phong Nha, Kẻ Bàng, Thánh Địa Mĩ Sơn, Cố Đô Huế, Phố Cổ
Hội An, Nhã Nhạc Cung Đình Huế, . . . Cùng với điều kiện tự nhiên phong phú và đa
dạng Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách quốc tế. Một
trong những điểm đến thu hút lượng khách du lịch khá lớn hàng năm ở nước ta đó là
lượng môi trường một số khu du lịch trên địa bàn Đà Lạt” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp. Đề tài xoay quanh vấn đề về hiện trạng chất lượng môi trường tại khu du lịch,
và làm sao để vấn đề bảo vệ môi trường tại khu du lịch được tốt hơn? Do hạn chế về
mặt kiến thức và thời gian có hạn nên đề tài chỉ thực hiện được trên hai khu du lịch
Thác Datanla và khu du lịch thác Cam Ly.
Bố cục của luận văn gồm:
Lời mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Hiện trạng chất lượng môi trường tại hai khu du lịch
Chương 3: Hiện trạng quản lý môi trường tại hai khu du lịch
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại hai khu du lịch
Kết luận và kiến nghị
II.
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Khảo sát, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường và thực trạng công tác quản
lý môi trường tại khu du lịch thác Datanla và thác Cam Ly
III.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
-
Khảo sát, đo đạc các thông số môi trường đặc trưng: nước, chất thải rắn.
-
-
Khu du lịch Thác CamLy
2. Đối tượng nghiên cứu
-
Các thành phần môi trường
+ Các thông số đặc trưng trong môi trường nước: DO, COD, nitrat, photphat, TS,
TDS, TSS.
+ Chất thải rắn trong khu du lịch : thành phần, tính chất, nguồn phát thải.
-
Chương trình quản lý môi trường
V.
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Để giải quyết tốt các nội dung nghiên cứu đặt ra và phù hợp với đối tượng và phạm
vi nghiên cứu đề tài, trong quá trình thực hiện đã sử dụng đến các phương pháp nghiên
cứu sau:
-
Phân tích tổng hợp tài liệu
-
Phỏng vấn trực tiếp : các nhà quản lý khu du lịch, nhân viên khu du lịch, khách
I.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch
Tổng thống Mexico Gustavo Diaz Ordaz đã từng nói: “Thế giới đừng bao giờ coi
du lịch chỉ đơn thuần là một ngành kinh doanh, mà phải coi đây là một phương thức để
con người có thể biết và hiểu lẫn nhau; việc hiểu được nhau của con người là bản chất
quan trọng nhất của thế giới thực tại”.
Du lịch có thể được định nghĩa là ngành khoa học, nghệ thuật và ngành kinh doanh
bằng cách thu hút và chuyên chở khách thăm quan, cung cấp nơi ăn nghỉ và đáp ứng
nhu cầu và ước muốn của du khách một cách tốt nhất.
Bốn mối liên hệ khác nhau của du lịch được phân biệt như sau:
I.1.1 Khách Du Lịch (The Tourist)
Khách du lịch có nhiều nhu cầu khác nhau về tinh thần về vật chất và muốn nhận
được sự thoả mãn. Bản chất của những vấn đề này sẽ có quyết định rất lớn trong việc lựa
chọn những điểm đến và các hoạt động vui chơi khác.
I.1.2 Các công ty cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch (The business providing
tourist goods and services).
Những nhà kinh doanh coi du lịch là cơ hội để kiếm lời bằng cách cung cấp sản
phẩm và dịch vụ mà thị trường khách du lịch yêu cầu.
I.1.3 Chính phủ tại địa bàn du lịch (The government of the host community or
area)
Các nhà chính trị quan niệm ngành du lịch như một nhân tố thịnh vượng trong nền
kinh tế dưới thể chế của họ. Mối tương quan giữa chúng có quan hệ tới những thu nhập
mà công dân của họ nhận được từ ngành kinh doanh này. Các nhà chính trị cũng chú trọng
tới doanh thu về ngoại tệ có được từ du lịch quốc tế cũng như là khoản thuế thu được từ
tiêu dùng của du khách dù là trực tiếp hay gián tiếp.
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
+ Khách du lịch trong nước ra nước ngoài (Outbound Tourism): Gồm những người
đang sống trong một quốc gia đi viếng thăm nước ngoài.
• Du lịch của người dân trong nước (Internal Tourism):
Gồm những người đang sống trong một quốc gia đi thăm quan trong nước.
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
6
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
• Du lịch trong nước (Domestic Tourism):
Gồm Inbound Tourism cộng với Internal Tourism. Đây là thị trường cho các cơ sở
lưu trú trong nước và các nguồn thu hút khách du lịch của một quốc gia.
• Du lịch quốc gia (National Tourism):
Gồm Outbound Tourism cộng với Internal Tourism. Đây là thị trường cho các đại lý
lữ hành và các hãng hàng không.
Du lịch là một tổng thể các hoạt động, dịch vụ và các ngành công nghiệp đem lại
hoạt động du lịch. Du lịch liên quan đến giao thông đi lại, nghỉ ngơi, ăn uống, mua
sắm, giải trí, những tiện nghi du lịch, và những dịch vụ hiếu khách khác dành cho
những khách lẻ hay đoàn đi du lịch. Nó bao gồm tất cả những nhà cung ứng và các
dịch vụ dành cho khách. Du lịch là toàn bộ ngành công nghiệp du lịch thế giới, khách
sạn, vận chuyển, và tất cả các thành phần khác, gồm cả chương trình xúc tiến phục vụ
nhu cầu và mong muốn của du khách. Cuối cùng, du lịch là tổng các tiêu dùng của du
khách trong vùng lãnh thổ của một nước hoặc vùng thuộc chính phủ hoặc khu vực
mát mẻ, không khí trong lành. Đặc biệt của địa hình đồi núi (Sa Pa, Tam Đảo, Lang
Biang…) địa hình kiểu Karstơ (Hạ Long, Phong NhaĐây là một trong những nhân tố quan trọng kiểm soát về mặt môi trường tự nhiên,
ảnh hưởng đến đất đai, động thực vật... Thông thường thì những nơi có khí hậu và thời
tiết đặc trưng,dễ chịu thì sẽ có sức lôi cuốn du khách ở những nơi khác hơn là những
nơi có thời tiết khắc nghiệt. Nói chung thì mỗi loại hình du lịch khác nhau thường đòi
hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Ví dụ như khách du lịch biển sẽ ưa thích
những điều kiện khí hậu như: số giờ nắng trong ngày nhiều; không có mưa hoặc mưa ít
trong thời vụ du lịch; nhiệt độ của không khí trung bình; nhiệt độ nước biển từ 20 C
đến 25 C. Không chỉ vậy, mà tổ hợp của sự thay đổi theo mùa rõ rệt của các đới nhiệt
độ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển và các hoạt động của ngành du lịch. Sự thay đổi
này sẽ quyết định tính đa dạng của các loại hình vui chơi giải trí của khu du lịch. Trong
việc đáp ứng các nhu cầu và thỏa mãn của du khách thì khu du lịch có càng nhiều khả
năng cung cấp các dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng thì càng thu hút được nhiều du
khách hơn. Ngoài ra điều kiện thời tiết và khí hậu còn ảnh hưởng đến việc thực hiện
các chuyến du lịch hoặc các hoạt động về du lịch.
Những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt, khô hạn cũng gây ảnh
hưởng xấu đến hoạt động du lịch.
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
8
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
Một nhân tố cũng không kém phần quan trọng trong du lịch là chất lượng không khí
9
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
Trong phát triển du lịch, các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên có ý
nghĩa rất lớn vì ở đó có sự tập trung đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật
đặc hữu, quý hiếm. Một trong những mục tiêu xây dựng hệ thống vườn quốc gia nói
trên là bảo vệ các khu cảnh quan tự nhiên, phục vụ mục đích khoa học, giáo dục và du
lịch sinh thái. Tuy nhiên những điểm du lịch ở các khu bảo tồn cũng tiềm ẩn nhiều
nguy cơ độc hại từ các loại côn trùng độc, rắn độc, cá độc… có thể gây nguy hiểm đến
tính mạng của du khách. Vì vậy mà các khu du lịch này cũng cần có những thiết bị,
dụng cụ để bảo vệ du khách khỏi những nguy hiểm đó.
I.2.6 Tai biến môi trường
Tai biến môi trường là các sự cố hay các rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của
con người, hoặc do biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường
nghiêm trọng. Ví dụ như: hạn hán, bão lụt, động đất…và các sự cố môi trường do con
người gây ra như: rò rỉ hóa chất độc hại, cháy nổ, sử dụng bom nguyên tử….bất kỳ loại
tai biến nào cũng có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho du lịch nếu chúng làm thay
đổi các điều kiên tự nhiên, xã hội và làm xáo trộn các hoạt động du lịch. Tai biến môi
trường sẽ làm giảm chất lượng môi trường du lịch, ảnh hưởng đến tính mạng du khách,
tác động xấu đến tâm lý du khách, làm cho họ cảm thấy bất an khi lưu lại điểm du lịch
đó. Vì vậy, cùng với những biện pháp và nỗ lực chung để hạn chế các tai biến môi
trường như sự sẵn sàng trong tình trạng đối phó với thiên tai, cũng cần có những
nghiên cứu đánh giá và quan trắc mang tính khoa học cao nhằm thành lập các bản đồ,
sơ đồ phân vùng tai biến các nguy cơ, sự cố nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong
các họat động phát triển du lịch. Ngoài ra còn cần phải xây dựng các hệ thống cảnh
báo, dự báo sớm các chỉ thị về tai biến để làm cho du khách thực sự an tâm. Hơn nữa,
ích trước mắt, còn về lâu dài đây chính là mối nguy hại đe dọa đến sự sống còn của
môi trường. Cho nên chủ trương của Tổng cục du lịch Việt Nam hiện nay khuyến
khích các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tập trung vào phát triển du lịch bền vững
hay còn gọi "du lịch sinh thái ", " du lịch xanh". Ở đây hàm hai ý nghĩa, đó là khái
niệm về tính " liên tục" và khái niệm về tính" bảo tồn ". Để làm được điều đó thì phải
có chiến lược lâu dài về việc bảo vệ môi trường xã hội nói chung và môi trường du lịch
nói riêng.
Phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác và phát triển tài
nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái đồng thời
bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục những nguồn tài
nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du lịch nào đó, chúng ta
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
11
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc trưng thế mạnh của khu vực đó,
đồng thời phải có quyết định đúng đắn trong việc có ứng dụng những yếu tố trên.
I.3.2 Phát triển bền vững du lịch dưới góc độ môi trường
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) thì : " phát triển du lịch bền vững là việc phát
triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu về hiện tại của du khách và người
dân bản địa, trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên
cho phát triển du lịch trong tương lai ".
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
hơn đó là sức khoẻ, đời sống của con người cũng như sự suy tồn và phát triển của các
sinh vật khác trên trái đất. Để phần nào khắc phục được những bất cập trên thì cần
đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa phát triển du lịch với các kế hoạch, các phương án quy
hoạch phát triển các ngành kinh tế khác theo một nội dung thống nhất trong phát triển
kinh tế xã hội chung của từng vùng nghiên cứu và cho toàn lãnh thổ của đất nước.
Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc xem xét tỷ trọng của ngành du lịch, đánh giá
thực trạng cũng như dự kiến khả năng phát triển trên quan điểm kiểm soát, khống chế
chung, xuất phát từ khía cạnh quản lý khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và môi
trường du lịch.
Du lịch và môi trường có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, cũng như mối quan hệ
giữa con người và môi trường. Môi trường cung cấp nơi cư trú và các điều kiện cho
cuộc sống con người và muôn loài sinh vật; môi trường cũng là nơi tiếp nhận, lưu trữ
và xử lý những gì mà con người và các sinh vật khác thải ra. Chừng nào còn giữ được
sự cân bằng giữa các quá trình đó thì sự sống trong thiên nhiên và cuộc sống của con
người vẫn có thể tiếp tục duy trì bình thường. Nhưng nếu sự cân bằng đó bị phá vỡ mà
chủ yếu do con người gây ra, thì việc duy trì sự sống và cuộc sống bị đe doạ.
I.4 Du lịch sinh thái
Đây là loại hình du lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh
trên phạm vi toàn thế giới. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới
(Ecotorism society): "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên
nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Cùng
với khai thác tài nguyên du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển
của môi trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày
càng phát triển, kèm theo sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô
nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên
du lịch ngày càng bị cạn kiệt, mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
lịch dựa vào những hình thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi
trường tự nhiên và nền văn hoá bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc
điểm của môi trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn có văn hoá cổ điển, vùng, khu
du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối với
môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại.
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
14
Khóa Luận Tốt Nghiệp
II.
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
TÁC ĐỘNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN MÔI TRƯỜNG
Hoạt động du lịch luôn luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên
môi trường tự nhiên như cảnh đẹp hùng vĩ của núi sông biển….các giá trị văn hoá,
nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo nên những môi trường nhân
tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hoá…trên cơ sở của một hay
tập hợp các đặc tính của môi trường tự nhiên như một hang động, một quả đồi, một
khúc sông, một khu rừng…hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Việc thu hút du khách, tạo nên công ăn việc làm cho người dân, kích thích sự phát
triển của các làng nghề thủ công truyền thống, cải thiện đời sống cộng đồng người dân
địa phương…là hệ quả tích cực của tác động du lịch đến môi trường. trong quá trình
Khóa Luận Tốt Nghiệp
-
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại các điểm
du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện môi trường cho
cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh công
cộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa xử lí rác và nước thải được cải thiện,
dịch vụ môi trường được cung cấp. Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong
khu dân cư nếu như các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ được áp dụng
-
Đối với các làng chài ven biển trong khu vực được xác định phát triển thành các
khu du lịch biển.
-
Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống chưa được sử dụng hiệu
quả. Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh kinh
tế tại các khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát
nước được sử dụng.
-
Du lịch phát triển đưa đến sự kiểm soát ở các điểm du lịch nhằm bảo vệ môi
16
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
máy, xe máy…cũng như hoạt động của du khách tại các điểm du lịch tạo nên những
hậu quả trước mắt cũng như lâu dài
-
Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên nhiên, những
khu đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một số loài thực vật và động vật dần
dần bị mất nơi cư trú. Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ
cành, săn bắn chim thú tại những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm
sút cả số lượng lẫn chất lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch.
-
Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ cành, săn bắn chim thú tại
những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng lẫn chất
lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch.
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
17
thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng
sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc.
•
Địa hình
Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ
yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng
đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật ...
và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc
xuống nam.
-
Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao
từ 1.300m đến hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m).
-
Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m).
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
18
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Nhóm đất glây (gleysols)
•
Nhóm đất mới biến đổi (cambisols)
•
Nhóm đất đen (luvisols)
•
Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols)
•
Nhóm đất xám (acrisols)
•
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols)
•
Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo
độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng
12 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt
vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn.
•
Dân tộc, dân cư
Dân số toàn tỉnh có đến 31/12/2005 là 1.169.851 người, trong đó dân số nông thôn
649.412 người, chiếm 61,47%. Mật độ dân số 118 người/km2
Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc
khác nhau cư trú và sinh sống, trong đó đông nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến
người K’Ho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa
chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% ..., còn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt
ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh.
Lễ hội, rượu cần và dệt thổ cẩm là nét đặc trưng cho văn hóa dân tộc thiểu số tại
Lâm Đồng.
Từ Tp. Hồ Chí Minh, đi ô tô theo quốc lộ 20 chừng 300km là đến Đà Lạt. Con
đường sẽ đưa du khách lên cao dần, cao dần và khi chạm vào Đà Lạt ở thác Prenn thì
trước mặt du khách đã là ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành phố Đà
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
20
Khóa Luận Tốt Nghiệp
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
Lạt, du khách sẽ khám phá một "bảo tàng" của các thác nước, những hồ đẹp, thung
Khoa Môi Trường_Đại Học Đà Lạt
III.2 Vai trò của Du lịch đối với phát triển kinh tế của Đà lạt
Với lợi thế về khí hậu, địa hình cảnh quan thiên nhiên cùng nền văn hóa phong phú, lâu
đời, mang đậm bản sắc tây nguyên, kết hợp các lợi thế về vị trí địa lý và khí hậu đã tạo
nên cho Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng ưu thế về phát triển du lịch.
Du lịch đóng góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế Đà Lạt.
Bảng1: Tăng trưởng và đóng góp trong mức tăng trưởng GDP của Lâm Đồng
Chỉ tiêu
1. tăng trưởng kinh tế GDP(%)
Tổng số
2006
2007
2008
2009
12,2
Ước
2010
13,3
Bình quân
2006-2010
14,5
10,2
20,6
19,4
2. Đóng ghóp tăng trưởng GDP(%)
- Khu vực nông,lâm nghiệp,thủy sản
7,4
7,2
4,4
5,0
4,7
7,7
- Khu vực công nghiệp-xây dựng
7,1
3,2
5,2
4,2
4,8
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ đóng góp của các ngành theo giá trị sản xuất
Bảng 2: Kết quả hoạt động du lịch trong giai đoạn 2006 – 2010
Chỉ tiêu
ĐVT
1. Lượng khách
Ngàn lượt
Năm
2006
1.848
Khách quốc tế
Khách nội địa
2. Ngày lưu trú bình quân
3. Doanh thu xã hội từ du lịch
4. Đầu tư
Khu, điểm du lịch
Cơ sở lưu trú
Vận chuyển và hạ tầng du lịch
5. Tổng cơ sở lưu trú
Khách sạn 1-5 sao
Số phòng
6. Công suất sử dụng phòng
Lao động ngành trực tiếp
Ngàn lượt
Ngàn lượt
2.300
2009
2.500
120
2.080
2,3
3.000
900
250
600
50
767
69
12.000
57,5
6.000
120
2.180
2,3
3.220
900
250
550
100
675
79
11.000
Nhìn chung du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng trong thời gian qua đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể, xứng đáng là ngành kinh tế trọng điểm của thành phố Đà lạt nói
riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung.
III.3 Hiện trạng du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng
Nếu xét về lượng khách, số lượt khách đến Lâm Đồng có tăng theo từng năm. Cụ
thể, năm 2006 đạt trên 1,7 triệu lượt khách, năm 2007 đạt 2,2 triệu lượt, 6 tháng đầu
năm 2008 đạt xấp xỉ 1,2 triệu lượt khách. Tuy vậy, nếu xét trên bình diện chung, những
dịp lễ tết, khách đến Đà Lạt - Lâm Đồng suy giảm, lượng khách không tấp nập và đông
đúc như những năm về trước, nhiều khách sạn ở khu vực trung tâm vẫn trống phòng
Thời gian gần đây, chỉ có khu biệt điện Trần Lệ Xuân được coi là điểm du lịch mới
xuất hiện, Thung Lũng Vàng là điểm đến mang tính sinh thái thú vị, máng trượt tại
thác Datanla đem lại cảm giác phiêu lưu cùng một số môn thể thao mạo hiểm phục vụ
khách nước ngoài.
Vấn đề đặt ra ở đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hấp dẫn du lịch Đà Lạt
là gì và cách khắc phục nó.
Thực tế, thế mạnh về khí hậu và cảnh quan vẫn không thể giúp Đà Lạt - Lâm Đồng
ghi điểm với du khách trong thời gian gần đây. Một khi điều kiện hạ tầng còn chưa đáp
ứng, dịch vụ du lịch không mới lạ, không đặc sắc, không cạnh tranh được với các điểm
du lịch khác trong nước… thì việc giữ chân khách và thu hút thêm khách trong nước
còn khó khăn, chưa kể đến khách quốc tế. Sự bình bình và thiếu đột phá, chỉ tận dụng
lợi thế có sẵn sẽ không tạo nên sức mạnh cho Đà Lạt - Lâm Đồng
Một nguyên nhân quan trọng và đang là vấn đề bức xúc cho các nhà quản lý du lịch
nói riêng và ban lãnh đạo thành phố nói chung đó là tình trạng xuống cấp nặng nề về
môi trường của một số khu du lịch.
Việc xây dựng cơ sở lưu trú du lịch sẽ kéo theo những tác hại,ảnh hưởng nguồn
nước, gây tiếng ồn, phá vỡ cảnh quan, tạo nước thải, rác thải. Đặc biệt phát thải CO 2
của khách du lịch gấp 5 lần so với hàng năm của cư dân trong nước công nghiệp. Bên
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
phía bắc, một dòng khác từ hồ chảy ra ở phía nam luồn dưới một cây cầu, ở gần bến
xe. Chân cầu là đập ngăn dòng suối lại để điều hoà mực nước hồ. Cả hai dòng suối đều
mang tên Cam Ly. Dòng chảy ra lượn về phía tây, khi cách hồ 2km phải vượt qua một
đoạn suối bị chặn ngang bởi những tảng đá hoa cương lớn, thác Cam Ly có với độ cao
khoảng 30m
Theo truyền thuyết mà các già làng ở đây kể lại thì tên Cam Ly có nguồn gốc từ
tiếng K'Ho. Khi dòng Cẩm Lệ chảy ngang qua một ngôi làng của một bộ tộc người Lạt,
GVHD: Ths. Bùi Nguyễn Lâm Hà
SVTH: Cao Thị Thanh Thuận
25