Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hoá, hành chính kinh tế của cả
khu vực phía Nam, nơi tập trung rất nhiều cơ sở y tế đầu nghành nơi chăm sóc sức
khoẻ cho dân cư thành phố và cả khu vực Phía Nam.Bệnh viện là nơi chữa trò
bệnh cho người dân nhưng chất thải trong các quá trình hoạt động của bệnh viện
mang rất nhiều nguy cơ gây bệnh, đặc biệt là nước thải. Hiện tại có khoảng 100
bệnh viện, trung tâm y tế thuộc sở y tế TP. HCM và các bộ ngành đóng trên đòa
bàng thành Phố, nhưng chỉ có khoảng 50% trong số này có hệ thống xử lý nước
thải.
Hầu hết nước thải của các bệnh viện là không đạt tiêu chuẩn khi trực tiếp
thải ra môi trường, hàm lượng BOD, COD, SS khá cao, nước thải chứa nhiều mầm
bệnh, vi khuẩn và một số hoá chất gây bệnh, gây tác hại nghiêm trọng đến môi
trường nếu không được xử lý. Theo quyết đònh số 35/1999/QĐ của thủ tướng
Chính Phủ về việc phê duyệt đònh hướng phát triển thoát nước đô thò Việt Nam
đến năm 2020 đã đề ra mụch tiêu là “ Xử lý cục bộ nước thải bệnh viện và nước
thải công nghiệp trước khi xả vào cống chung Thành phố.
Như vậy vấn đề cấp bách hiện nay là đối với tất cả các bệnh viện phải có
hệ thống xử lý nước thải nhằm đáp ứng theo yêu cầu của chính phủ và nhằm đáp
ứng cho công tác bảo vệ môi trưỡng trong giai đoạn này. Khu Điều trò Kỹ Thuật
Cao Bệnh viện Bình Dân hiện đang có một hệ thống xử lý nước thải dựa theo tiêu
chuẩn TCVN 5945- 1995, nhưng do ngày càng có nhiều tiêu chuẩn quy đònh chặt
chẽ hơn về chất lượng nguồn nước sau khi thải ra môi trường vì vậy với đề tài
“Khảo sát đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý nước thải Bệnh viện Bình Dân
khu điều trò kỹ thuật cao. Đề xuất phương án cải tạo – thiết kế hoàn chỉnh hệ
thống xử lý. Theo tiêu chuẩn 6772 -2000” la øcần thiết trong giai đoạn hiện nay.
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
1
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Hy vọng với đề tài này sẽ góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm nước thải
Loại nước thải: nước thải y tế.
Công suất 300 m
3
/ngày.
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
2
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Vò trí thực hiện: Khu điều trò Kỹ Thuật Cao Bệnh viện Bình Dân.
Thời gian thực hiện: 1/10/2006 đến 27/12/2006
I. 5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phương pháp luận:
Đầu tư xây dựng mới khu khám bệnh và điều trò kỹ thuật cao nhằm nâng
cao chất lượng khám, chữa bệnh và ứng dụng kỹ thuật cao vào khám chữa bệnh
cho mọi người dân. Bên cạnh đó, dự án còn giúp giải quyết tình trạng thiếu
giường bệnh cũng như tạo điều kiện cho các bác só, các nhà nghiên cứu, sinh viên
có thể thực hành và tiếp cận các trang thiết bò y tế hiện đại vào khám và chữa
bệnh. Mặt khác, đầu tư mở rộng nhằm phát triển Bệnh viện Bình Dân thành một
trung tâm chuyên khoa đầu ngành về Ngoại khoa Tổng quát và Niệu của Thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
Nếu lượng nước thải từ Khu điều trò Kỹ Thuật cao Bệnh viện Bình Dân
không được xử lý trước khi thải ra môi trường thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi
trường và đời sống của người dân xung quanh. Do hầu hết các bệnh viện tại
Thành Phố Hồ Chí Minh nói chung và khu Điều trò Kỹ Thuật Cao Bệnh Viện
Bình Dân nói riêng đều nằm trong khu vực dân cư.
2. Phương pháp cụ thể:
Nghiên cứu tài liệu: Đọc và phân tích các số liệu về tình hình nước
thải y tế và các hệ thống xử lý nước thải bệnh viện trong sách, tạp
chí khoa học, các báo cáo các thông số nước thải ở các bệnh viện và
trung tâm y tế dự phòng ở TP.HCM.
Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải tại các bệnh viện ở TP. HCM.
tham gia phong trào vệ sinh phòng bệnh, sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền
giáo dục cho nhân dân những kiến thức trong việc giữ gìn sức khỏe. Các viện vi
trùng học tiếp tục sản xuất các loại vắc – xin phòng các bệnh tả, đậu mùa, thương
hàn, đảm bảo tiêm chủng cho toàn dân các vùng tự do, vùng sau lưng đòch. Kêu
gọi các bệnh viện các trường đại học, trung học, được di chuyển vào sâu trong
rừng, sơ tán phân tán vào nhà dân hoặc được xây dụng trong các hang động để
không làm gián đoạn công tác cấp cứu, khám chữa bệnh, công tác đào tạo cán
bộ.
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
5
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Các phòng bào chế vẫn tiếp tục sản xuất thuốc thông thường bằng nguyên
liệu tại chỗ và các loại thuốc tê, thuốc mê góp phần vào việc xử lý vết thương
chiến tranh một cách tốt nhất.
Thời kỳ 1945-1975:
a. Giai đoạn 1945-1954: Vào thời điểm này, nước ta tạm thời bò chia cắt thành 2
miền. Ở miền Bắc, ngành Y tế cách mạng bắt tay xây dựng lại, khắc phục hậu
quả chiến tranh, từng bước đi lên. Năm 1950, lần đầu tiên những lọ pê-ni-xi-lin
được sản xuất từ phòng bào chế Trường Đại học Y Khoa ở Việt Bắc đã mang lại
nhiều kết quả trong việc chống nhiễm trùng các vết thương. Ở chiến trường miền
Nam xuất hiện phương pháp trò liệu Filatov, toa thuốc Nam căn bản góp phần to
lớn để giải quyết các khó khăn về thuốc.
b. Giai đoạn 1954-1975: Năm 1961, lần đầu tiên chúng ta sản xuất được vắc –
xinsabin phòng bệnh bại liệt. Ngày nay chúng ta có quyền tự hào đã thanh toán
được đậu mùa (1987) và bệnh bại liệt (2000). Đây cũng là giai đoạn đế quốc Mỹ
tiến hành chiến tranh đã dẫn đến tình trạng dòch bệnh và tệ nạn xã hội gia tăng,
trước đó ngành Y tế đã xác đònh được con đường thích hợp là phải chuyển hướng
hoạt động của ngành từ thời bình sang thời chiến, làm thế nào để công việc cấp
cứu, mổ xẻ được tiến hành ngay tại chỗ nhằm đáp ứng được công tác cấp cứu tốt
nhất, hiệu quả nhất.
cho nhân dân, hệ thống bệnh viện tư nhân và nước ngoài phát triển khá mạnh mẽ,
hiện nay có 13 bệnh viện thuộc diện này và hàng chục phòng khám đa khoa đi
vào hoạt động chính thức.
Hàng năm, thành phố đào tạo lực lượng bác só đều tăng. Tuy nhiên, tỉ lệ bác
só/10. 000 dân ( Biểu đồ 2.1 ) vẫn còn khiêm tốn mà lượng bệnh nhân điều trò ngày càng
đông ( Biểu đồ 2.2 ).
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
7
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tỉ lệ bác sỉ/10. 000 dân qua các năm.
Nhận xét:
Mỗi năm, số lượng bác só tăng. Đặt biệt, năm 2003, tỉ lệ bác só /10000 dân
tăng đột biến. Điều này chứng tỏ, thành phố đang cần một lượng lớn bác só, nhằm
đáp ứng nhu cầu chữa trò cho người dân. Như vậy trong tương lai thành phố cần
thêm nhiều cán bộ y tế.
Biểu đồ 2. 2: Biểu đồ số bệnh nhân điều trò nội trú
Từ năm 2001-2003, lượng bệnh nhân đến điều trò nội trú tăng nhanh. Như
vậy người dân càng quan tâm đến sức khỏe của mình hơn. Do đó, thành phố cần
mở rộng hoặc xây thêm các cơ sở khám và chữa bệnh mới. Vấn đề đáp ứng nhu
cầu khám và chữa trò của 5660000 người ( UB Dân số Gia đình và trẻ em thành
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
8
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
phố, 2004) là một điều không dễ dàng. Trong khi đó số lượng giường bệnh không
nhiều (Bảng 2.1).
bảng 2.1 Tổng số lượng giường bệnh của các bệnh viện và trung tâm y tế.
Tên Bệnh viện TT Y Tế Tổng cộng
số lượng giường 13638 1869 15507
Nguồn:www.medinet.hochiminhcity.gov.vn
Điều này cho thấy sự quá tải bệnh viện nói riêng và ngành y tế nói chung.
P
tổng
mg/l 19. 6 8. 5 12. 5
Tổng Coliform MPN/100 ml 6.4*10
4
2.1*10
4
3.4*10
4
Khi thành phố tăng số lượng bệnh viện thì số lượng nước thải cũng sẽ tăng theo.
Do đó vấn đề xử lý nước thải bệnh viện cần được quan tâm.
2.2 Những tác động đến môi trường do hoạt động của bệnh viện.
Ngoài những lợi ích do hoạt động của bệnh viện đem lại cho cuộc sống người
dân, thì bên cạnh đó cũng có những tác động đáng kể đến môi trường xung quanh
như là: tác động đến môi trường nước, tác động đến môi trường không khí, chất
thải rắn …Do tính chất đặc thù của hoạt động bệnh viện là sinh ra chất thải có
chứa hàm lượng các chất ô nhiễm cao, đôi khi có chứa cả chất độc hại.Vì vậy
việc xác đònh nguồn gốc, thành phần và tính chất của chúng là hết sức cần thiết
cho công tác quản lý, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của
chúng đến môi trường xung quanh và sức khỏe con người.
2.2.1 Nguồn gốc và thành phần nước thải bệnh viện.
a) Nước thải là nước mưa.
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
10
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Nước mưa được thu gom trên toàn bộ diện tích mặt bằng của bệnh viện.
Các khu vực sân bãi, đường giao thông nội bộ thường được trải nhựa và không để
hàng hóa hay rác thải tích tụ lâu ngày nên nước mưa có chảy tràn qua khu vực
này có mức độ ô nhiễm không đáng kể, được xem là “quy ước sạch”. Nước mưa
theo hệ thống thoát nước riêng đổ thẳng vào cống nước thoát nước đô thò. Nước
đến loại nước thải này mà chỉ xử lý tích chất sơ bộ trong toàn bộ dây chuyền xử
lý nước thải bệnh viện.
Nước thải khu điều trò vật lý: Chứa nhiều hợp chất hữu cơ halogen hóa
( AOX)
Nước thải khoa truyền máu, huyết thanh học, khoa sản,… chứa nhiều huyết
thanh và bệnh phẩm, hóa chất vô cơ kim loại nặng (Hg), các chất đệm,
photphate, chất oxy hóa, dầu mỡ…
Nước thải từ các khu nghiên cứu, chứa các chất ô nhiễm :
Chất oxy hóa tẩy trùng môi trường: peroxides (H
2
O
2
)
Dầu mỡ từ các ống bơm chân không, các thiết bò quay…
Kim loại loại nặng trong các thuốc thử phân tích
Các dung môi hữu cơ, huyết thanh và dòch cơ thể,thuốc tẩy
Nguồn nước thải này có hàm lượng BOD
5
và COD thấp hơn khu khám điều
trò nhưng trên mức trung bình của nước thải sinh hoạt .
d) Nước thải từ phòng giặt tẩy của bệnh viện.
Các phòng giặt tẩy của bệnh viện sản xuất đặt trưng khăn trải giường, các
áo choàng và áo dàng cho phòng thí nghiệm. Nước thải này chứa một lượng chính
các chất vô cơ, chất béo, dầu mỡ, thuốc tẩy chứa kiềm gây sự biến đổi pH…
2.2.2 Tác động đến môi trường nước.
Theo khảo sát của Chi cục Bảo vệ môi trường, trên đòa bàn TPHCM hiện
có 109 bệnh viện và trung tâm y tế bao gồm 83, tập trung chủ yếu ở các quận
1,3,5,10, Tân Bình. Tổng lượng nước thải của các bệnh viện và trung tâm y tế
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
12
13
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
mà không qua quá trình xử lý sơ bộ gây nguy hại cho sức khỏe con người và môi
trường. Sơ đồ thể hiện ( hình 2. 3).
Hình 2.3: Mô tả vấn đề môi trường của nước thải bệnh viện.
2.2.2.1 Đặc điểm nguy hại về mặt sinh học và hóa học của nước thải bệnh viện
a) Ô nhiễm về mặt vi sinh.
Những nghiên cứu về mặt vi sinh NTBV đã chứng minh được sự hiện diện
các mầm bệnh và tập nhiễm kháng lại thuốc kháng sinh. Những virus chỉ thò sự ô
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
14
Nước thải từ việc khám và điều trò
bệnh(máu, nước tiểu, phân, dung
môi, dung dòch axit, kiềm, thuốc thử,
nguyên tố phóng xạ, chất tẩy trùng…
Sự phân phối sử dụng
thuốc trong bệnh nhân
Sự bài tiết của người bệnh với
phần dư của thuốc (thuốc và một
phần đã chuyển hóa)
Cống thải đô thò
Hệ thống XLNT đô thò
Nước mặt
Nước ngầm
Hệ thống lọc nước cấp
Nước uống
Nước thải sinh hoạt từ
các khu kỹ thuật của
bệnh viện
Cống thải trong
Nguồn: Tsai,2004
b) Ô nhiễm hóa học
NTBV có thể là nguồn gây ô nhiễm hữu cơ nếu không được xử lý. Các
thông số ô nhiễm đặc trưng BOD
5
và COD của NTBV rất lớn và cao hơn nước
thải đô thò.
Bảng 2.4: Nồng độ ô nhiễm trung bình của nước thải bệnh viện và nước thải đô thò.
Chỉ tiêu Đơn vò Nước thải Bệnh viện Nước thải Đô Thò
BOD
5
(mg/l) 603 220
COD (mg/l) 855 500
SS (mg/l) 225 300
P-tổng (mg/l) 8.8 8
Clo (mg/l) 188 50
Nguồn:Emmanuel et al.,2001
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
15
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Nước thải bệnh viện cũng gây ô nhiễm hóa học do các chất như N, P, kim
loại nặng ( bảng 2.5 ), các hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học (bảng 2.6).
Những chất này thường sinh ra từ khâu xét nghiệm, khu mổ, rửa phim, nha
khoa,khử trùng bề mặt,
Bảng 2.5: Nồng độ kim loại nặng trong NTBV
Tên Đơn vò (µg/l)
Nồng độ(1) Nồng độ (2)*
Chì 0,84-5,5 12-18,7
Cadium 0,29-3,1 -
Crom 1,8-7,4 6,2-24,8
c) Tính chất độc hại của độc tính sinh thái
Những nghiên cứu, kiểm tra tế bào đối với nước thải bệnh viện đã chỉ ra
rằng nguồn thải này có khả năng gây đột biến (Gartiser et al., 1996) và nguồn
gốc gây đột biến này tìm ẩn này vẫn đang được nghiên cứu. Tổng lượng nước
thải bệnh viện được xem là có độc tính cao khi kiểm tra với Daphnia và vi khuẩn
phát quang. Độc tính cao do sự hiện diện hợp chất hữu cơ halogen, là kết quả của
việc sử dụng NaOCl và những hợp chất iod với số lượng lớn để khử trùng nguồn
thải bệnh viện ( Emmanuel, 2002) .
d) Sự phân hủy sinh học của thuốc.
Từ những năm 1980, các dữ liệu về sự hiện diện của dược phẩm trong
nước mặt và nguồn thải hệ thống sử lý nước đã được báo cáo (Richardson
&Browron,1985; Kumerer et al.,1977). Dược phẩm dành cho người và động vật
nuôi gồm thuốc kháng sinh,hormones , thuốc giảm đau và những loại thuốc khác,
khi một người hay động vật sử dụng thuốc, thì từ 50%-90% thuốc có được bài tiết
ra ngoài mà không chuyển đổi.
Hàm lượng thuốc kháng sinh ciprofloxacin từ 3-87 g/l được tìm thấy trong
nước thải bệnh viện, đây là nồng độ có độc tính cao (Hartmann et al,1998) . Theo
Halling-Sorensen (1998) cho rằng 30% thuốc được sản xuất từ năm 1992-1995 là
những chất ưa mỡ,tan trong dầu mà không tan tan trong nước. Nghóa là chúng qua
màng tế bào và hoạt động bên trong tế bào. Các phần dư của thuốc và các dạng
chuyển hóa của chúng được thải ra ngoài qua nước thải. Các phần tử này không
phân hủy sinh học mà đi vào môi trường và tác động lên cấu trúc sinh học và sinh
vật nước . Có rất nhiều loại dược phẩm, có thể phân loại thành các nhóm sau:
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
17
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Hooc mon giới tính:
Những tác động của thuốc trong cơ thể sinh vật nước cho thấy một vài
hoocmon giới tính có thể ảnh hưởng đến đời sống động vật hoang dã với nồng độ
dưới 1g/l. Nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện estrogens trong môi trường nước và
Sulfamethoxazole 800 2100 400
Trimethoprim 5000 2900 -
Ciprofloxacin 2000 - 850
Ofloxacin 25500 34500 35500
Lincomycin 2000 300 -
Penicillin G - 5200 850
(-): không phát hiện
Nguồn: Kathryn D.Broown,2004
2.2.2.2 Hiện trạng quản lý ô nhiễm nước thải bệnh viện Tp. Hồ Chí Minh.
Nồng độ ô nhiễm của nước thải bệnh viện đều vượt tiêu chuẩn thải loại B
theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5945-1995. Nước thải mang tính chất đặc trưng
là chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm và có khả năng lây truyền. Vì vây, nước thải
bệnh viện phải được xử lý trước khi xả thải vào hệ thống cống chung của Thành
Phố.
Bảng 2.8: Nồng độ ô nhiễm nước thải của một số bệnh viện tại Tp. Hồ Chí Minh
Thông số Bệnh viện
Nhi Đồng I
Bệnh Viện
Hoàn Mỹ
Bệnh Viện
Ung Bướu.
Loại B
(TCVN
5945-1995)
pH (mg/l) 7,14 8,53 7,37 5,5-9
SS (mg/l) 21 115 20,8 100 (mg/l)
BOD
5
(mg/l) 120 354 140 50 (mg/l)
COD (mg/l) 210 678 396 100 (mg/l)
2/2004.
Những vấn đề rất phổ biến, chưa được quan tâm là hiện tượng hoạt động
của các HTXL hiện hữu. Nhiều bệnh viện có hệ thống xử lý nhưng xuống cấp và
ngưng hoạt động. Nhiều công trình được xây dựng rất lâu, công nghệ cũ nên bò
quá tải và hoạt động kém dẫn đến hiệu quả xử lý thấp, nước thải sau khi xử lý
không đạt tiêu chuẩn cho phép xả thải. Theo kết quả kiểm tra thường niên của
trung tâm y tế dự phòng thành phố, nước thải đã xử lý của nhiều bệnh viện
thường không đạt tiêu chuẩn B, TCVN 5945-1995.
2.2 .3 Chất thải rắn.
Bảng 2.10: Khối lượng chất thải rắn y tế TP. HCM
Năm Rác sinh hoạt
( tấn/ ngày )
Nguy hại ( tấn/ngày)
Thu gom Phát sinh
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
20
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
2000 61,2 4,65 5,05
2001 63,1 5,69 6,2
2002 64,9 5,96 6,5
2003 66,8 6,47 7,03
2004 77 6,88 7,23
Nguồn: công ty môi trường đô thò thành Phố Hồ Chí Minh.
Khối lượng chất thải rắn y tế giao động rất lớn từ 10kg-1000kg/ngày. Bởi
số lượng này còn phụ thuộc vào số giường bệnh và chức năng chuyên khoa của
bệnh viện đó.
Đối với các bệnh viện có khoa lây nhiễm và các bệnh viện chuyên khoa
quy mô lớn trực thuộc thành phố và trung ương, khối lượng chất thải rắn y tế thải
ra mổi ngày khoảng 0,033-7,683kg/giường/ngày.
Đối với các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa quy mô nhỏ và các trung tâm
Liên cầu khuẩn Agalactae B : Truyền bệnh do : bàn tay, đồ vật – dụng cụ.
Liên cầu khuẩn ở phân ( S.faecalis ) : Truyền bệnh tại chổ, bàn tay, bề
mặt, đất.
Liên phế cầu : Truyền bệnh theo đường không khí.
Vi khuẩn đường ruột : Hiện nay, đây là những mầm bệnh thường hay gây
ra nhất nhiễm trùng đường hô hấp ( khoa hồi sức và phòng mổ ).
Loại vi khuẩn Pseudemonacees :Vi khuẩn chính: vi khuẩn gây mủ- những
vi khuẩn có bào tư û:Tetani, Perfringens vô trùng các đồ vật – dụng cụ bằng
nồi hấp.
2.2.5 Tác động đến môi trường không khí.
Những chất thải như máu, dòch, nước tiểu có hàm lượng chất hữu cơ cao,
phân hủy nhanh nếu không được xử lý đúng mức, không chỉ gây bệnh mà còn
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
22
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
mùi hôi thối, làm ô nhiễm không khí xung quanh. Nhưng hầu hết các bệnh viện
tọa lạc tại các khu dân cư, nên vấn đề ô nhiễm không khí sẽ gây tác động đến đời
sống của người dân trong vùng.
Ô nhiễm không khí từ quá trình đốt chất thải. Thành phần chính rác thải
gồm hai thành phần sau : Oxy và hydro, ngoài ra còn có các nguyên tố khác như
O, N, S… kim loại nặng, hợp chất hữu cơ chứa halogen, nước … Chính vì thế sản
phẩm sau khi cháy tạo ra CO
2
và H
2
O còn có:
Các chất chỉ thò ô nhiễm: bụi, SO
x
, NO
x,
trình xử lý: song chắn rác, lưới chắn rác, bể lắng cát, bể lắng và bể lọc các loại.
a. Song chắn rác và lưới chắn rác
Song chắn rác :
Dùng giữ rác và các tạp chất có kích thước lớn trong nước thải. Song chắn
rác là công trình xử lý sơ bộ để chuẩn bò điều kiện cho việc xử lý nước thải sau
đó.
Lưới chắn rác :
Dùng để loại bỏ các tạp chất có kích thước nhỏ hơn. Song chắn rác được
đặt trên các máng dẫn nước thải trước khi vào trạm bơm hoặc công trình xử lý
nước thải tiếp theo. Song chắn rác có hai loại di động và cố đònh.
Song chắn rác kết hợp phương thức lấy thủ công hay cơ khí.Thông thường
các bệnh viện lấy rác thủ công thì sẽ tốn ít kinh phí. Một số bệnh viện có máy
tách rác như BV.Thống Nhất, BV Nhiệt Đới.
b. Các loại bể lắng
Bể lắng cát:
Được thiết kế trong công nghệ xử lý nhằm loại bỏ các tạp chất vô cơ, chủ
yếu là cát, chứa trong nước thải.
Bể lắng :
Làm nhiệm vụ giữ các tạp chất lắng và các tạp chất nổi chứa trong nước
thải.
SVTH : Trương Hồ Toàn MSSV : 02DHMT283
24
Đồ án tốt nghiệp GVHD : ThS. Nguyễn Duy Hậu
Dựa vào chức năng, vò trí có thể chia bể lắng thành: Bể lắng đợt một trước
công trình xử lý sinh học, bể lắng đợt hai sau công trình xử lý sinh học. Đa số
bệnh viện dùng bể lắng đợt để lắng cặn sau khi các chất hữu cơ bò oxy hóa.
Theo cấu tạo có thể phân biệt bể lắng ngang, bể lắng đứng, bể lắng Radian.
1.Bể lắng ngang:
Nước chảy theo phương ngang từ đầu đến cuối bể. Bể lắng ngang có dạng
hình chữ nhật. Chiều sâu các bể lắng ngang là 1.5-4m, chiều dài 8-12m. Trong bể