ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN VĂN ĐOÀN Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG
TY MỎ - TUYỂN ĐỒNG SIN QUYỀN HUYỆN BÁT XÁT,
TỈNH LÀO CAI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Đặng Thị Hồng Phương Phan Văn Đoàn
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
BCNS Bể chứa nước sạch
BNB Bể nén bùn
BOD Nhu cầu oxy sinh hóa học
BPHC Bể pha hóa chất
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
CBCNV Cán bộ công nhân viên
COD Nhu cầu oxy hóa hóa học
DO Oxi hòa tan
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GDP Thu nhập quốc dân
GP-ĐCKS Giấy phép địa chất khoáng sản
HSH Hồ sinh học
QCCP Quy chuẩn cho phép
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QĐ Quyết định
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TDS Tổng chất rắn hòa tan
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
UBND Ủy ban nhân dân
VLXD Vật liệu xây dựng DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải mỏ có tính axit bằng kiềm và oxi
hóa Fe của Wildeman 20
Hình 2.2. Một Wetland nhân tạo điển hình để xử lý nước thải mỏ 23
Hình 2.3. Mặt cắt ngang của một ALD điển hình 23
Hình 2.4. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bằng sữa vôi và pha polymer tự
động (áp dụng ở công ty than Hà Lầm) 24
Hình 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty mỏ - Tuyển đồng Sin Quyền 39
Hình 4.2. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải từ moong mỏ đồng Sin Quyền 45
2.3.1. Phương pháp xử lý nước thải trên thế giới 18
2.3.1.1 Xử lý nước thải mỏ trước khi xả thải 19
2.3.1.2 Phương pháp ngăn chặn tiếp xúc nguồn ô nhiễm 24
2.3.2. Phương pháp xử lý nước thải ở Việt Nam 24
2.3.2.1 Xử lý nước thải bằng sữa vôi và poolyme pha tự động 24
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
3.1. Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.2. Nội dung nghiên cứu 26
3.2.1. Tổng quan về công ty mỏ - tuyển đồng Sin Quyền 26
3.2.1.1. Điều kiện tự nhiên và môi trường 26
3.2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
3.2.2. Các tác động đến môi trường nước của hoạt động khai thác mỏ đồng
Sin Quyền 26
3.2.3. Đánh giá công nghệ xử lí nước thải công ty mỏ - tuyển đồng
Sin Quyền 26
3.3. Phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp 26
3.3.2. Phương pháp khảo sát thực địa 26
3.3.3. Phương pháp so sánh và dự báo 27
3.3.4. Phương pháp tổng hợp viết báo cáo 27
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Tổng quan về Công ty mỏ - Tuyển đồng Sin Quyền 28
4.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty mỏ - Tuyển đồng Sin Quyền . 29
4.1.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 30
4.1.2.1 Điều kiện về vị trí địa lý 30
4.1.2.2. Điều kiện về khí tượng, thủy văn 32
4.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội 35
thể hiện rất rõ trong sự phát triển kinh tế, sự phát triển của xã hội, văn hóa,
giáo dục
Lào cai là một tỉnh khá phong phú về tài nguyên khoáng sản, trên địa
bàn tỉnh đã phát hiện trên 150 mỏ và điểm mỏ với hơn 35 loại khoáng sản
khác nhau. Các loại khoáng sản đã và đang được đầu tư khai thác, chế biến
chủ yếu gồm: Apatit, đồng, sắt, chì, kẽm, vàng, cao lanh và vật liệu xây dựng.
Trong đó, có một số loại khoáng sản có quy mô và trữ lượng lớn nhất cả
nước, như quặng apatit với trữ lượng 2,5 tỷ tấn, quặng sắt với trữ lượng 136,7
triệu tấn, quặng đồng trữ lượng 100 triệu tấn, secpentin trữ lượng 21 triệu tấn,
graphit trữ lượng 17 triệu tấn, cao lanh, feldspat trữ lượng 20 triệu tấn,…
Trong số các ngành công nghiệp trọng điểm đã và đang phát triển trên
toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng thì ngành công nghiệp khai thác
đồng là ngành kinh tế quan trọng của nước ta, đồng được sử dụng với rất
nhiều công dụng là làm chất dẫn nhiệt và điện, vật liệu xây dựng và thành
phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau như: Làm dây điện, động
cơ điện, tay nắm hay các đồ vật khác trong xây dựng nhà cửa…
Đáng chú nhất là Công ty Mỏ - Tuyển đồng Sin Quyền là một mỏ đồng
lớn nhất khu vực Đông Nam Á có công suất lớn 1,2 triệu tấn/năm. Hiện nay
được tăng cường hợp tác và ngày càng được mở rộng với tổng mức đầu tư 2.600
tỷ đồng bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Vimico và vốn vay Eximbank.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang
phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường.Trong Quá trình khai thác, chế
biến khoáng sản đã làm phá vỡ cân bằng điều kiên sinh thái tự nhiên gây ô
2
nhiễm môi trường đất, nước, không khí… Hàm lượng các kim loại nặng và
chất rắn lơ lửng trong nước thải cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Nước
thải từ khai trường nói chung đều được xả thải trực tiếp ra ngoài môi trường
mà không qua xử lý. Nước thải từ tuyển khoáng được thải vào khu vực riêng
(hồ thải quặng đuôi) và được xử lý sơ bộ thông qua các hồ lắng trước khi thải
ra ngoài môi trường.Tại nhiều mỏ, nước thải sau khi lắng được tuấn hoàn trở
- Xác định nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm nước thải.
- Đánh giá được hàm lượng các chất có trong nước thải sau xử lý so
với QCVN.
- Đánh giá hiệu quả công nghệ xử lý nước thải Công ty mỏ - tuyển
đồng Sin Quyền từ đó có thể đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý,
nâng cao chất lượng môi trường khu vực mỏ.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Các nguồn gây tác động đến môi trường do hoạt động khai thác
khoáng sản
2.1.1. Nguồn gây tác động đến môi trường không khí và bụi
Trong quá trình khai thác khí thải phát sinh từ hoạt động khai thác,
vậnchuyển, lưu trữ nguyên liệu, sản phẩm, các hoạt động giao thông vận tải
và mộtsố hoạt động liên quan khác. Cụ thể như sau:
- Khí thải từ công nghệ khai thác
+ Bụi và các chất ô nhiễm do khoan, nổ mìn, ủi tạo đống quặng để
đưa vào chế biến
+ Tiếng ồn, độ rung phát sinh từ hoạt động nổ mìn, của máy xúc, ô ủi,
xe ben vận chuyển
Các quá trình hoạt động chế biến quặng cũng có khả năng phát sinh
lượng bụi rất lớn.
Công nhân làm việc tại công trường khai thác sẽ chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ những tác động của bụi và mức ồn, rung nêu trên.
- Khí thải từ hoạt động giao thông vận tải
Trong quá trình khai thác, hàng ngày sẽ diễn ra các hoạt động giao
thông vận tải chuyên chở các loại nguyên - nhiên - vật liệu và sản phẩm cùng
các loại phươngtiện đi lại của công nhânra khai trường sẽ làm phát sinh khí
- Rác thải sinh hoạt.
Có nguy cơ gây nên xói mòn do:
- Địa hình dốc
- Việc khai tác mỏ được hoạt động trôn một diện tích rộng và hệ số
bóc lớn
- Một số khu vực là đất trống, tỷ lệ che phủ thấp.
2.2. Tình hình khai thác khoáng sản và các tác động đến môi trường từ
khai thác khoáng sản ở Lào cai
2.2.1. Tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam
- Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai
thác lộ thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội. Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác
quy mô nhỏ và khai thác quy mô vừa.
6
- Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản với
trên 5000 điểm mỏ của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, phần lớn các mỏ
đều nằm ở vùng xâu vùng xa không thuận lợi về giao thông.
Nguồn tài
nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng về chủng
loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than); nhóm khoáng sản
sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan, mangan); nhóm khoáng sản kim loại
màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý
(vàng, đá quý); nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát
thuỷ tinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng,
đá ốp lát).
- Ngành khai khoáng Việt Nam ngày càng được chú trọng và chiếm
4,81% thu nhập quốc dân (GDP) 1995 đã tăng khoảng 9,65% - 10,95% trong
giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
- Tỷ lệ xuất khẩu khoáng sản ở Việt Nam tương đối cao. Tính riêng 7
Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).
+ Khai thác và chế biến khoáng sản hoá chất (apatit) chủ yếu giao cho
Tập đoàn Hoá chất Việt Nam.
+ Khai thác, chế biến quặng sắt chủ yếu do Tổng công ty Thép Việt
Nam, Tập đoàn Vinacomin thực hiện.
+ Khai thác, chế biến vật liệu xây dựng chủ yếu giao cho Tổng công ty
Xi măng Việt Nam và các doanh nghiệp ngành xây dựng, giao thông vận tải
thực hiện (ngành khoáng sản VLXD do Bộ Xây dựng quản lý).
+ Ngoài ra tham gia khai thác, chế biến các điểm mỏ khoáng sản quy
mô nhỏ ở các địa phương có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ
phần. Tổng số các doanh nghiệp khai khoáng (kể cả vật liệu xây dựng) đến
nay khoảng 1.100 doanh nghiệp.
+ Sản lượng khai thác/năm một số loại khoáng sản chủ yếu năm 2012
như sau: dầu thô 16 triệu tấn; than thương phẩm 40 triệu tấn; tinh quặng
ilmenite 0,6 triệu tấn, quặng sắt 3,0 triệu tấn; tinh quặng apattit 2,4 triệu tấn;
đồng-50 ngàn tấn tinh quặng; barit 150 ngàn tấn bột v.v.
- Trong những năm qua, ngành Công nghiệp khai khoáng đã đóng vai
trò quan trọng và tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và
nền kinh tế đất nước. Đã cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liêụ cho nền
kinh tế quốc dân như ngành than đã cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu
cho ngành điện, xi măng, hoá chất, giấy; khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã
cung ứng đủ cho ngành luyện kim; khoáng sản apatit đã cúng cấp đủ cho
ngành Hoá chất, phân bón. Đồng thời khoáng sản và sản phẩm chế biến của
khoáng sản đã có một phần xuất khẩu. 2 loại khoáng sản có kim ngạch xuất
khẩu lớn nhất là dầu khí và than (năm 2012 khoảng 10 tỷ USD).
8
2.2.2. Tình hình khai thác khoáng sản ở Lào Cai
Nguồn tài nguyên khoáng sản là một trong những thế mạnh để ngành
côngnghiệp khai thác và chế biến khoáng sản khẳng định là ngành công
Phương thức khai thác: Các khai trường của mỏ Aptit đều được khai
thác bằngphương pháp lộ thiên với mức cơ giới hóa khá cao, từ khâu khai
thác vậnchuyển đến khâu chế biến.
- Mỏ đá Cam Đường:
Công suất khai thác: 3.000 m
3
/ năm.
Phương thức khai thác: Lộ thiên, phương pháp khai thác thủ công.
- Mỏ đá Cốc san:
Công suất khai thác: 3.000 m3/ năm.
Phương thức khai thác: Lộ thiên, phương pháp khai thác thủ công.
- Mỏ Khai thác cát Vạn Hòa:
Công suất khai thác: 3.000 m3/ ngày.
Phương thức khai thác: Bơm hút trực tiếp từ dưới lòng sông lên.
Theo tài liệu khảo sát của Liên Xô (trước đây), trữ lượng a-pa-tít ở Lào
Cai khoảng 2,5 tỷ tấn, được đánh giá là mỏ a-pa-tít lớn nhất Ðông-Nam Á và
đứng thứ tư trên thế giới. Nhiều năm trước, việc khai thác theo quy trình công
nghệ và thiết bị máy móc cũ, lạc hậu gây lãng phí, không lấy được quặng có
hàm lượng ô-xít phốt-pho (P2O5) cao ở cốt sâu từ 60 m trở lên. Phần lớn khai
thác theo kiểu chỗ dễ thì lấy, chỗ khó thì bỏ lại. Hệ số bóc đất đá trên một tấn
quặng cao, dẫn đến diện tích bãi thải lớn, gây ô nhiễm môi trường.
Các mỏ quặng sắt, với tổng trữ lượng khoảng 136 triệu tấn và các mỏ
quặng đồng, với tổng trữ lượng khoảng 100 triệu tấn, phân bố ở các huyện
Văn Bàn, Bát Xát, TP Lào Cai, khai thác theo kiểu “ăn xổi”, bán quặng thô,
rất lãng phí tài nguyên và xâm hại môi trường, gây lũ quét, sạt lở đất. Xác
định công nghiệp khai khoáng là một thế mạnh, đóng vai trò mũi nhọn, làm
động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
chiếm tới 34% GDP, Lào Cai xây dựng đề án ” Phát triển công nghiệp”, coi
đó là một trong bảy chương trình trọng tâm từ năm 2006 đến 2010 và những
năm tiếp theo. Một mặt, tỉnh hoàn thành bản đồ quy hoạch khoáng sản chi
nghèo, một nhà máy sản xuất phốt-pho vàng và một nhà máy sản xuất phân
bón NPK từ nguồn quặng a-pa-tít tại chỗ.
Trong bốn năm qua công ty đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng thay thế máy
móc, thiết bị cũ, lạc hậu để bảo đảm khai thác được quặng chất lượng cao ở
dưới cốt sâu 60 m (dưới mức thông thủy), ở khai trường Mỏ Cóc cũ, đã bị
“đắp chiếu” từ nhiều năm qua. Nhờ trang bị các máy xúc thủy lực gầu ngược
dung tích lớn và xe vận tải khớp mềm khung động đặc chủng, công ty đã khai
thác triệt để được quặng nguyên khai loại I, hàm lượng P
2
O
5
đạt tới 33%, ở
cốt rất sâu.
Tại Nhà máy tuyển Tằng Loỏng, công ty đã đưa dây chuyền tuyển
quặng nổi thứ hai vào hoạt động, nâng công suất nhà máy lên gấp hai lần, đạt
mức gần 700.000 tấn/năm. Tại đây, quặng nghèo loại ba được làm giàu từ
14% lên 33% P
2
O
5
, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật nguyên liệu đầu vào cho các
nhà máy sản xuất phân bón Lâm Thao, Long Thành, Ninh Bình. Công ty vừa
11
đầu tư xây dựng Nhà máy tuyển Cam Ðường ngay gần các khai trường cũ, có
công suất 120.000 tấn/năm, bảo đảm tinh tuyển “kho tồn trữ” quặng loại 3
nghèo ở Mỏ Cóc trở thành quặng giàu, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Năm vừa
qua, đơn vị xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Nhật Bản hơn 500.000 tấn
quặng loại 2, thu về hơn 50 triệu USD, nhờ vậy, công ty đạt mức tăng trưởng
29%; tổng doanh thu hơn 1.700 tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với năm 2007; lợi
nhuận đạt hơn 100 tỷ đồng, tăng gấp năm lần so với năm trước. Trưởng Ban
đồng thương phẩm, 360 kg vàng (99,9% Au), 150 kg bạc (99,9% Ag), 41.000
tấn a-xít phốt-pho-rích và thu hồi ô-xy để sản xuất ô-xy hóa lỏng.
Theo thống kê của Vimico, hàng năm khu mỏ tuyển đồng Sin Quyền
sản xuất khoảng 316.000 tấn tinh quặng đồng, 43.973 tấn đồng tấm 99,95%,
1.750kg vàng 99,9%, 1.420kg bạc và 523.000 tấn tinh quặng sắt. Trong đó,
sản phẩm chủ yếu là đồng tấm 99,95%. Sản phẩm này được khẳng định về
chất lượng, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
Toàn bộ sản lượng đồng tấm của tổ hợp được tiêu thụ trong nước cho
các nhà sản xuất lớn, uy tín. Ngoài ra, tổ hợp còn tạo công ăn việc làm, thu
nhập ổn định cho 1.600 lao động. 9 tháng năm 2013, Công ty Mỏ tuyển Đồng
Sin Quyền - Lào Cai đạt doanh thu 10.770 tỷ đồng, lợi nhuận 1.820 tỷ đồng
và đóng góp vào ngân sách nhà nước 1.780 tỷ đồng.
Dự kiến đến cuối năm 2015, công ty sẽ mở rộng công suất và đi vào sản
xuất kinh doanh với quy mô gấp 2,4 lần so với tổ hợp hiện tại (về sản lượng,
lợi nhuận
2.2.3. Các tác động tới môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản
Ngành khai khoáng có tác động rất lớn đến môi trường sống. Bụi, khí
độc, nước thải của ngành khai khoáng đang là thủ phạm trực tiếp khiến cho
môi trường sống đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Tác động môi trường của hoạt động khai khoáng bao gồm xói mòn, sụt
đất, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm đất, nước ngầm và nước mặt do hóa chất
từ chế biến quặng. Trong một số trường hợp, rừng ở vùng lân cận còn bị chặt
phá để lấy chỗ chứa chất thải mỏ. Bên cạnh việc hủy hoại môi trường, ô
nhiễm do hóa chất cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân địa phương, ở
những vùng hoang vu, khai khoáng có thể gây hủy hoại hoặc nhiễu loạn hệ
sinh thái và sinh cảnh. còn ở nơi canh tác thì hủy hoại hoặc nhiễu loạn đất
trồng cấy và đồng cỏ
13
Thay đổi cảnh quan: Không hoạt động nào cảnh quan bị thay đổi
cũng hủy hoại sinh cảnh một số loài có giá trị và có thể tạo ra những sinh
14
cảnh tốt cho những loài không mong đợi. Những điều kiện hiện tại có thể gây
bất lợi cho một số loài cá nước ngọt ở Mỹ, một số loài bị tuyệt diệt. Ô nhiễm
trầm tích nặng nề nhất có thể xảy ra trong khoảng từ 5 đến 25 năm sau khi
khai mỏ. Ở những nơi không có cây cối thì xói mòn còn có thể kéo dài đến 50
- 60 năm sau khi khai mỏ. Nước mặt ở nơi này sẽ không dùng được cho nông
nghiệp, sinh hoạt, tắm rửa hoặc những hoạt động khác cho gia đình. Do đó,
cần phải kiểm soát nghiêm ngặt nước mặt thoát ra từ khu khai mỏ.
Tác động đến nước: Khai mỏ lộ thiên cần một lượng lớn nước để rửa
sạch than cũng như khắc phục bụi. Để thỏa mãn nhu cầu này, mỏ đã "chiếm"
nguồn nước mặt và nước ngấm cần thiết cho nông nghiệp và sinh hoạt của
người dân vùng lân cận. Khai mỏ ngầm dưới đất cũng có những đặc điểm
tương tự nhưng ít tác động tiêu cực hơn do không cần nhiều nước để kiểm
soát bụi nhưng vẫn cần nhiều nước để rửa than.
Bên cạnh đó, việc cung cấp nước ngầm có thể bị ảnh hưởng do khai mỏ
lộ thiên. Những tác động này bao gồm rút nước có thể sử dụng được từ những
túi nước ngầm nông; hạ thấp mực nước ngầm của những vùng lân cận và thay
đổi hướng chảy trong túi nước ngầm, ô nhiễm túi nước ngầm có thể sử dụng
được nằm dưới vùng khai mỏ do lọc và thẩm nước chất lượng kém của nước
mỏ, tăng hoạt động lọc và ngưng đọng của những đống đất từ khai mỏ. Ở đầu
có than hoặc chất thải từ khai thác than, tăng hoạt động lọc có thể tăng chảy
tràn của nước chất lượng kém và xói mòn của những đống phế thải, nạp nước
chất lượng kém vào nước ngầm nông hoặc đứa nước chất lượng kém vào
những suối của vùng lân cận dẫn đến ô nhiễm cả nước mặt lẫn nước ngầm của
những vùng này. Những hồ được tạo ra trong quá trình khai thác than lộ thiên
cũng có thể chứa nhiều a xít nếu có sự hiện diện của than hay chất phế thải
chứa than, đặc biệt là những chất này gần với bể mặt và chứa pi rít.
Axit sunphuric được hình thành khi khoáng chất chứa sunphit và bị ôxy
hóa qua tiếp xúc với không khí có thể dẫn đến mưa axít. Hóa chất còn lại sau
không gian. Chỉ một số loài ít chống chịu được nhiễu loạn. Chẳng hạn ở nơi
mà sinh cảnh cần thiết bị hạn chế như hồ ao hoặc nơi sinh sản quan trọng thì
loài có thể bị hủy diệt.
Những động vật lớn và những động vật khác có thể bị "cưỡng chế" đến
những vùng lân cận mà những vùng này cũng đã đạt mức chịu đựng tối đa. Sự
quá tải này thường dẫn đến xuống cấp của sinh cảnh còn lại và do đó giảm
sức chịu đựng và giảm sức sinh sản, tăng cạnh tranh nội loài và gian loài và
16
giảm số lượng chủng quần so với số lượng ban đầu khi mới bị di dời. Xuống
cấp của sinh cảnh thủy sinh là hậu quả của khai mỏ lộ thiên không chỉ trực
tiếp ở nơi khai mỏ mà trên diện rộng. Nước mặt bị ô nhiễm phù sa cũng
thường xảy ra với khai mỏ lộ thiên. Hàm lượng phù sa có thể tăng đến 1.000
lần so với trước khi khai mỏ.
Mất đất mặt: Bóc lớp đất đá nằm phía trên quặng nếu không hợp lý sẽ
chôn vùi và mất đất mặt, đá mẹ lộ ra tạo ra một vùng đất kiệt vô dụng rộng lớn.
Những hố khai mỏ và đất đá phế thải sẽ không tạo được thức ăn và nơi trú ẩn
cho đa số các loài động vật. Nếu không được hồi phục thì những vùng này phải
trải qua thời kỳ phong hóa một số năm hoặc một vài thập kỷ để cho thực vật tái
lập và trở thành những sinh cảnh phù hợp. Nếu hồi phục thì tác động đối với
một số loài không quá nghiêm trọng. Con người không thể hồi phục ngay được
những quần xã tự nhiên. Tuy nhiên, có thể hỗ trợ qua cải tạo đất và những nỗ
lực hồi phục theo yêu cầu của những động vật hoang dã. Hồi phục không theo
yêu cầu của những động vật hoang dã hoặc quản lý không phù hợp một số cách
sử dụng đất sẽ cản trở tái lập của nhiều chủng quần động vật gốc.
Khai mỏ lộ thiên và những thiết bị vận chuyển phục vụ cho quá trình
sản xuất của mỏ mà không hoặc rất ít kết hợp việc thiết lập những mục tiêu sử
dụng đất sau khai mỏ nên việc cải tạo đất bị nhiễu loạn trong quá trình khai
mỏ thường không được như ban đầu. Việc sử dụng đất hiện hành như chăn
nuôi gia súc, trồng cấy, sản xuất gỗ đều phải hủy bỏ tại khu vực khai mỏ.
Những khu vực có giá trị cao và sử dụng đất ở mức độ cao như các khu đô thị
của chúng, hóa - lý thường được xử lý kết hợp với xử lý cơ học. Các phương
pháp hóa - lý thường ứng dụng để xử lý nước thải là: Phương pháp keo tụ,
hấp phụ, trích ly, bay hơi, tuyển nổi và được ứng dụng chủ yếu xử lý nước
thải công nghiệp, nước thải mỏ vì nó mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên, lại rất
đắt tiền và thường tạo ra các sản phẩm phụ độc hại hoặc sản phẩm phụ dạng
rắn, bền vững trong môi trường, khó xử lý hoàn toàn. Phụ thuộc vào điều kiện
địa phương và mức độ cần thiết phải xử lý mà phương pháp xử lý hóa học hay
hóa - lý là giai đoạn cuối cùng, nếu như mức độ xử lý đạt yêu cầu có thể xả
nước ra nguồn hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ ví dụ khử một vài liên kết độc hại
ảnh hưởng tới chế độ làm việc bình thường của các công trình xử lý.
Xử lý bằng phương pháp hóa học
Thực chất của phương pháp hóa học là đưa vào nước thải chất phản ứng
phù hợp. Chất này phản ứng với các tạp chất trong nước thải và có khả năng