ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HUYỀN
DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “TÔI VÀ CHÚNG TA”
Ở LỚP 9 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành: LL&PP DH Bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã ngành: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hữu Bội
THÁI NGUYÊN - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,
được thể hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Hữu Bội.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác. Các thông
tin, số liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu trách nghiệm về nghiên cứu của mình.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Huyền
XÁC NHẬN
MỤC LỤC
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 10
4. Mục đích nghiên cứu................................................................................ 10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 10
6. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 11
7. Cấu trúc luận văn ..................................................................................... 11
PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................ 13
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .. 13
1.1. Cơ sở lí luận .......................................................................................... 13
1.1.1. Vấn đề loại thể trong văn học ......................................................... 13
1.1.2. Kịch bản văn học ............................................................................ 15
1.1.3. Đặc trưng thể loại của kịch bản văn học......................................... 18
1.1.4. Phương pháp dạy kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại ........... 27
1.2. Lưu Quang Vũ và kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”........................ 33
1.2.1.Vài nét sơ lược về tác giả Lưu Quang Vũ ....................................... 33
1.2.2. Kịch bản văn học “ Tôi và chúng ta” .............................................. 34
1.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 37
1.3.1. Thực trạng dạy học đoạn trích kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” . 37
1.3.2. Thực trạng cảm thụ văn học của học sinh với kịch bản văn học ... 39
CHƯƠNG 2. ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC “TÔI VÀ
CHÚNG TA” ..................................................................................................... 41
2.1. Trước giờ lên lớp .................................................................................. 42
2.1.1. Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài.................................... 42
2.1.2. Định hướng cho học sinh những tư liệu liên quan đến bài học ...... 43
3.3. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm .......................................... 94
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm .............................................................. 95
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 100
PHỤ LỤC
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
1.1. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một vấn đề
đã được đặt ra từ lâu trong thực tế giảng dạy văn học ở trường Trung học. Đây
cũng là vấn đề quan tâm của nhiều giáo viên trong quá trình đổi mới phương
pháp dạy học.
Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn
học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ
thể. Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học.
Không có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của loại thể. Vì vậy
tìm hiểu một tác phẩm văn học về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem
nhẹ đặc trưng loại thể. Nói cách khác là phải vận dụng kiến thức lý luận văn
học về thể loại trong việc dạy học văn. Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp
luận. Bởi tác phẩm văn học nào cũng thuộc một loại thể nhất định. Mỗi loại thể
có những đặc điểm thi pháp riêng. Có xác định được thể loại thì mới có thể hiểu
thấu đáo giá trị nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Đã có nhiều tài liệu bàn về dạy học tác phẩm văn học theo thể loại, nhất là
đã có nhà sư phạm bàn về dạy tác phẩm văn học theo loại hình KỊCH. Song vấn
đề dạy học kịch theo đặc trưng thể loại ở các tác phẩm của nhà viết kịch lỗi lạc
Lưu Quang Vũ thì chưa có nhiều tài liệu bàn tới. Bởi thế chúng tôi mạnh dạn chọn
đề tài này để nghiên cứu – Đề tài “ Dạy học kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”
loại thể và người dạy cũng giảng dạy theo loại thể... [20, tr. 30]. Giảng dạy tác
phẩm văn học theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc giảng dạy
tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức với nội dung, một sự giảng
dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng thời đảm bảo hiệu quả
giáo dục cao nhất [20, tr. 44]. Cũng trong cuốn sách này, tác giả Huỳnh Lý có
bài Kịch và giảng dạy kịch đề cập đến nhiều vấn đề khi giảng dạy kịch: khái
niệm về kịch, vị trí của kịch trong các loại hình nghệ thuật, đặc trưng của kịch
mà người giảng dạy kịch cần chú ý, sự khác nhau giữa bi kịch và hài kịch, quá
2
trình phát triển của kịch nói ở nước ta, những vở kịch trong chương trình văn
học cấp III. Từ đó, tác giả nhận định: “Chúng ta không giảng dạy kịch với tính
cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phương diện văn
học [20, tr. 239].
Có thể nói, cuốn sách đã giúp GV thuận tiện hơn khi tiếp cận tác phẩm
văn học từ đặc trưng loại thể.
- Với cuốn “Cảm thụ và giảng dạy Văn học nước ngoài” - NXB Giáo dục,
2003, tác giả Phùng Văn Tửu đã có những đóng góp quan trọng cho việc dạy
kịch có hiệu quả. Ông viết: “Khi giảng kịch, chúng ta chú ý đến đặc trưng của
loại hình nghệ thuật này để học sinh khỏi rơi vào tình trạng thấy học kịch chẳng
khác gì học truyện ngắn hay tiểu thuyết...” [18].
Điều đó có nghĩa là, ông muốn nhấn mạnh đến đặc trưng loại thể của kịch
khi giảng dạy. Phân tích một đoạn kịch phải gắn liền với kết cấu, với bối cảnh,
không gian, thời gian, lời thoại nhân vật, hành động, xung đột. Tất cả những
yếu tố trên là những định hướng ban đầu giúp ta tiếp cận kịch bản văn học còn
hướng tiếp nhận tác phẩm kịch theo đặc trưng loại thể thì chưa được chỉ ra rõ
ràng, cụ thể.
- Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm
+ Lưu Quang Vũ có biệt tài xây dựng những nhân vật phụ có tính cách, có
cá tính và rất “sống”. Vũ đặc biệt chú ý quá trình phát triển của tính cách nhân
vật. Nếu bố cục vở kịch của Vũ thường không có gì rối rắm thì trong phân tích
tâm lí, ông lại chú ý đến những bước phát triển tâm lí, đột biến, những điểm
ngoặt trong tính cách tạo nên những xen kịch bất ngờ, lý thú mà sâu sắc.
+ Nét đặc sắc nổi bật của kịch Lưu Quang Vũ là ngôn ngữ nhân vật thường
không chỉ tự nhiên, gọn, sáng sủa mà còn nhiều sức gợi nghĩ…Ngôn ngữ kịch
của ông thường tự nhiên nhiều lang ý tứ.
- Cuốn “Lưu Quang Vũ tác phẩm chọn lọc” – nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam (2009), có bài viết mở đầu “Lưu Quang Vũ – Tài năng và lao động nghệ
thuật” đã đánh giá “Kịch là nơi Lưu Quang Vũ có thể bộc lộ trực tiếp hơn những
khám phá và nhận thức của mình, là nơi ông có thể đóng góp được một cách
4
trực tiếp và tích cực hơn cho cuộc sống” và “Viết kịch là để sống cho mọi
người. Chọn cho mình con đường viết kịch, Lưu Quang Vũ đã tìm ra con đường
ngắn nhất để đến với công chúng khán giả, để có dịp được bộc lộ những gì
mình đang ấp ủ. Mỗi một vở kịch là một mặt cắt của hiện thực, ở đó hiện lên
những số phận, những cảnh đời khác nhau. Có niềm vui, nỗi buồn, có khổ đau,
hạnh phúc. Ngòi bút của ông khi đau đớn xót xa, lúc thâm trầm sâu lắng, khi
mạnh mẽ đanh thép, lúc lại nghiệt ngã chua cay hoặc cao giọng phê phán. Ông
gửi gắm trong đó những tâm tư, tình cảm, khát vọng, những trăn trở về tình
yêu, hạnh phúc, những suy tư về lẽ sống, lẽ làm người, cả những dự cảm về sự
sống và cái chết…
Trong khoảng thời gian ngắn gần 10 năm, Lưu Quang Vũ đã sáng tác được
hơn 50 vở kịch, một khối lượng đồ sộ khiến nhiều người kinh ngạc. Ông được
đánh giá là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện đại”. Nhà phê bình sân khấu
Ngô Thảo – nguyên Phó Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đã nhận
những người can đảm đã nghĩ, đã làm và có khi là phải trả giá cho những việc
làm đó. Lưu Quang Vũ đã công khai bảo vệ tư tưởng mới, lối nghĩ mới, cách
làm ăn năng động sáng tạo, đồng thời phê phán cơ chế quan liêu bao cấp trong
lĩnh vực quản lý kinh tế và cả trong lĩnh vực tinh thần. Với vở kịch này Lưu
Quang Vũ được coi là một trong những tác giả mở đầu cho đề tài đổi mới. Với
“Tôi và chúng ta”, Lưu Quang Vũ đã nói lên niềm khát khao của cả cộng đồng.
“Như một hồi kèn khởi động cho cả đất nước bước vào thời kỳ mới mạnh mẽ
và bão táp dưới ngọn cờ của Đảng” (Vũ Hà, báo Hà nội mới, ngày 10/10/2000).
Trong nhiều vở kịch của mình Lưu Quang Vũ đã thể hiện tư tưởng cái triết
lý phương Đông sâu sắc. Đó là nỗi trăn trở về sự sống và cái chết. Có thể nói
đây là tư tưởng xuyên suốt trong kịch của ông, nó chi phối những tư tưởng khác
như ý tưởng về cái thiện, cái ác, về lòng tốt, về lẽ sống, lẽ làm người. Năm 18
tuổi, chàng thanh niên Lưu Quang Vũ đã ghi những dòng nhật ký tràn đầy dự
cảm lo âu về cuộc sống và cái chết: “Rất có thể một điều vô lý nào đó tới cắt
đứt cuộc đời ta. Cái chết, ta không sợ nó nhưng nếu chết bây giờ thì uổng quá.
6
Chưa làm được gì cả, ăn hại 17 năm thế rồi chết ư? Thần chết ơi, ta chẳng cần
nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được
chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt”. Và chính “tâm hồn
anh dằn vặt cuộc đời anh”, những dự cảm tưởng như mơ hồ ấy đã đeo đẳng
Lưu Quang Vũ suốt cả cuộc đời, như là một ám ảnh định mệnh.
Có thể nói kịch Lưu Quang Vũ đã bắt đúng mạch của cuộc sống, đáp ứng
được những điều mọi người trăn trở, những tâm sự đau đớn của khán giả. Vì
thế mà ông đã gặt hái được rất nhiều thành công giữa lúc sân khấu đang “đói”
những kịch bản hay, theo sát cuộc sống đương thời. Kịch Lưu Quang Vũ là
tiếng nói trẻ trung, nhiệt tâm, sức lực, sự hiểu biết cuộc sống của người nghệ sĩ
đồng thời cũng là kết quả của một tình yêu, của lòng say mê và khát vọng nghệ
Và chưa có nội dung khắc sâu kiến thức về thể loại kịch.
- Trong cuốn “Dạy – học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Ngữ văn 9” tập 2 (Chủ
biên Nguyễn Khắc Phi, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011) đã xác định cụ thể kiến
thức và kĩ năng bài học qua ba ý: nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa đoạn trích. Cuối
cùng là hướng dẫn tự học với hai câu trình bày: trình bày tóm tắt sự phát triển mẫu
thuẫn kịch và trình bày cảm nhận về cuộc đấu tranh giữa hai phái. So với SGK thì
ở đây bài học được định hướng theo đặc trưng thể loại rõ ràng hơn.
- Trong cuốn “Thiết kế bài học Ngữ Văn 9 theo hướng tích hợp” ( Hoàng
Hữu Bội, NXB Giáo dục, 2005) đã nêu rõ định hướng dạy học, đó là: dẫn dắt
HS đi từ văn bản tới việc tái hiện cuộc xung đột “nảy lửa” diễn ra giữa phái đổi
mới và phái bảo thủ tại phòng làm việc của Giám đốc xí nghiệp; sau đó nhận
xét về tính cách một số nhân vật tiêu biểu cho những phái; cuối cùng rút ra chủ
đề của cảnh ba vở kịch Tôi và chúng ta. Từ định hướng đó, tác giả triển khai
tiến trình bài học qua bốn ý cụ thể:
+ Tiếp xúc bước đầu với văn bản ( đọc văn bản; tìm hiểu vài nét về tác giả
và tác phẩm; tóm tắt kịch bản Tôi và chúng ta).
+ Thâm nhập vào cuộc tranh luận “nảy lửa” giữa phái đổi mới và phái bảo
thủ ( hai gợi dẫn).
8
+ Nhận xét tính cách của các nhân vật ( một gợi dẫn).
+ Tìm hiểu nội dung tư tưởng của cảnh ba ( một gợi dẫn).
Với bốn gợi dẫn, tác giả đưa HS đến những nội dung cơ bản của bài học
qua việc bám sát vào lời nói, hành động và xung đột của các nhân vật, để từ đó
hiểu nội dung tư tưởng của đoạn trích. Về cơ bản, tác giả cũng đã hướng HS
đến những đặc trưng của thể loại kịch.
- Cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn Trung học cơ sở 9, tập 2 ( Nguyễn Văn
Đường (chủ biên), NBX Hà Nội,2012) đã có một điểm mới là dạy tích hợp với
Đoạn trích “Tôi và chúng ta” ( trích cảnh ba) trong SGK; hoạt động dạy
và học trích đoạn kịch bản văn học ấy của giáo viên và học sinh lớp 9.
4. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra một phương pháp, phương án hoặc đề xuất những định hướng, một
số biện pháp, kĩ thuật dạy học vừa phù hợp với đặc điểm thể loại của kịch bản
văn học đó, vừa phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh lớp 9.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, cần giải quyết ba nhiệm
vụ sau:
5.1. Nghiên cứu vấn đề trên bình diện lí thuyết
- Loại thể trong văn học Việt Nam.
- Đặc trưng của loại hình kịch.
- Phương pháp dạy kịch bản văn học theo loại thể.
5.2. Nghiên cứu vấn đề trên bình diện thực tiễn
- Vị trí của tác phẩm “Tôi và chúng ta” ( Lưu Quang Vũ) trong chương
trình Ngữ văn cấp THCS.
- Hiểu biết của HS lớp 9 với kịch bản văn học và kịch của Lưu Quang Vũ,
đặc biệt là kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”.
- GV với việc dạy đoạn trích kịch bản “Tôi và chúng ta” ở trên lớp.
5.3. Thực nghiệm sư phạm
10
Luận văn sẽ đề xuất cách thức tổ chức dạy học, thiết kế bài học trích đoạn
kịch bản văn học “Tôi và chúng ta” và tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm
chứng tính khả thi và hiệu quả của thiết kế mà luận văn đã đề xuất.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ trên chúng tôi vận dụng một số phương pháp
nghiên cứu như sau:
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vấn đề loại thể trong văn học
Theo cuốn “150 thuật ngữ văn học” ( Lại Nguyên Ân biên soạn, NXB
Đại học quốc gia Hà Nội, 2011): “Phạm trù phân loại các tác phẩm văn học,
vốn dĩ đa dạng đồng thời có sự giống nhau, từng nhóm một, theo một dấu hiệu
nhất định. Các nhóm lớn nhất là những “loại”; mỗi loại gồm những nhóm nhỏ
hơn là những “thể” (hoặc “thể loại”, “thể tài”)”. [1,tr.190]
Trong lịch sử văn học, ở cấp độ phân chia những loại, có uy tín nhất là
cách phân chia của Aristoteles, theo đó toàn bộ các tác phẩm văn học gồm ba
loại lớn:
1) Tự sự.
2) Trữ tình.
3) Kịch.
Cơ sở sự phân chia này là sự giống nhau về các kiểu tổ chức ngôn từ, về
việc hoạt động nhận thức trong tác phẩm hướng vào khách thể, hoặc về tính hành
vi phát ngôn nghệ thuật. Ngôn từ có thể hoặc là miêu tả thế giới đối tượng (thực
hiện chức năng miêu thuật), hoặc là biểu hiện trạng thái của người đang phát
ngôn (thực hiện chức năng biểu cảm), hoặc là tái hiện quá trình giao tiếp bằng
lời nói (thực hiện chức năng giao tiếp); mỗi loại văn học nêu trên ứng với một
chức năng của ngôn từ và mang đặc trưng thẩm mĩ riêng.
Tự sự bao quát tồn tại với đặc tính tạo hình, quảng tính thời gian – không
gian, tính biến cố (tính sự kiện). Trữ tình ghi lại thế giới bên trong cá nhân với
những xung đột nội quan, với sự hình thành và thay đổi của các ấn tượng, mộng
tưởng, tâm trạng, liên tưởng, trầm tư, xúc động (tính biểu cảm). Còn kịch ghi
13
14
Các lý thuyết về thể thường không bao quát được toàn bộ hệ thống, không
xác định được chính xác vị trí một tác phẩm trong hệ thống.
Mỗi thể (tức là một “diện mạo” chung mà người ta hình dung được do
trừu xuất từ một loạt tác phẩm thuộc thể ấy) là một khối thống nhất những đặc
điểm hình thức trên những điểm căn bản: kết cấu, hình tượng, ngôn ngữ, tiết
tấu. Có những khác biệt nhất định về thể tài ở những tác phẩm thuộc các đề tài
khác nhau và của những nghệ sĩ khác nhau. Tuy vậy, mỗi thể là một thành tạo bền
vững, ổn định; mỗi thể là một hệ thống những thành tố hình thức đã thấm nhuần
những hàm nghĩa nhất định.
Trong sự phát triển lịch sử, các thể liên tục bị biến đổi, bị cải tạo, nhất là
trong sáng tác của những tác giả xuất sắc. Có những thể được hình thành qua
nhiều thế kỉ, sau một thời gian dài tồn tại, đã lụi tàn. Tuy nhiên các thể cũng
bộc lộ tính bền vững, “sống dai”; các hình thức từng được đề xuất hiếm khi bị
bỏ qua; nhiều khi một thể được tái sinh dưới dạng mới.
Thể loại văn học phản ánh những hướng phát triển bền vững của văn
học;sự tồn tại của thể loại văn học có ý nghĩa như sự bảo lưu, đổi mới các hướng
phát triển ấy. Thể loại văn học, do vậy vừa mới vừa cũ, vừa biến đổi vừa ổn
định.
1.1.2. Kịch bản văn học
• Khái niệm về kịch
Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi chia thuật ngữ kịch theo hai cấp độ: cấp độ loại hình và
cấp độ thể loại.
Theo đó mà xác định được, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của
văn học (kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó
vừa để diễn lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch.
Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên
học – sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này,
kịch cũng còn gọi là chính kịch. Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc
sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích chính không phải để
cười nhạo, chế giễu các thói hư tật xấu, mà là mô tả cá nhân trong các mối quan
hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội. Và cũng giống với bi kịch, kịch chú
16
trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nó không
căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể
giải quyết ổn thỏa. Còn các tính cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi
thường.
Kịch hình thành như một thể loại vào nữa sau thế kỉ XVIII qua sáng tác
của các nhà Khai sáng ở Đức và Pháp. Nó hướng về những lợi ích tinh thần đạo
đức, về lí tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ đương thời. Trong qua trình
phát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó ngày càng cô đọng, dồn nén hơn.
Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ thuật, phương tiện biểu đạt của các thể
loại văn học sân khấu như bi hài kịch, kịch hề… để tăng thêm sức hấp dẫn và
tác động nghệ thuật của nó đối với công chúng.
Ở Việt Nam, kịch ra đời vào cuối những năm 20 của thế kỉ XX, với những
sáng tác như Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, Kim tiền của Vi Huyền Đắc…
Từ sau Cách mạng tháng Tám, kịch ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong
đời sống văn học – sân khấu và xã hội ở nước ta.
Như vậy, nói đến kịch là nói đến một hình thức nghệ thuật đặc biệt, được
diễn viên biểu diễn trên sân khấu với các hành động, cử chỉ và lời nói. Từ đó,
bộc lộ suy nghĩ, tính cách của nhân vật và thấy được giá trị nội dung, nghệ thuật
của vở kịch. Kịch có nhiều đặc điểm riêng biệt, ngoài sự tồn tại ở hình thức
biểu diễn trên sân khấu thì kịch còn có thể đọc, tức là kịch bản văn học.
• Kịch bản văn học
tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ
thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng…
Xung đột kịch cần phải phản ánh qua những mâu thuẫn cơ bản của xã hội
và thời đại, nói cách khác là luôn mang tính lịch sử cụ thể. Ở những thời đại
khác nhau có những xung đột khác nhau.
Do tính chất sân khấu qui định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác
giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát
triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách
18
khác. Vì vậy, có thể nói, xung đột là đặc điểm cơ bản của kịch. Hêghen cho
rằng “ Tình thế giàu xung đột là đối tượng ưu tiên của nghệ thuật kịch”.
Trong kịch bản văn học “Tôi và chúng ta”, bằng cách để cho Giám đốc
Hoàng Việt công bố kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm ăn mới trước
cuộc họp của các cán bộ quản lí xí nghiệp, tác giả đã tạo ra tình huống xung đột
trực tiếp giữa hai phái qua những đối thoại của các nhân vật. Tư tưởng đổi mới
của Hoàng Việt đã đụng chạm tới các quan niệm và quy định vốn được coi là
những nguyên tắc không thể thay đổi, nên đã gặp phải sự phản đối của Trưởng
phòng Tổ chức lao dộng, Trưởng phòng Tài vụ, Quản đốc Trương và nhất là
của Phó giám đốc Nguyễn Chính. Cảnh ba mới chỉ là mở đầu cuộc xung đột
giữa hai phái, sẽ còn tiếp diễn gay gắt trong những cảnh sau của vở kịch. Nhưng
ở cảnh này, mỗi phái đã bộc lộ rõ quan điểm của mình, đồng thời cho thấy cuộc
đấu tranh sẽ còn quyết liệt, cái mới không phải dễ dàng chiến thắng cái bảo thủ
lạc hậu.
- Hành động kịch
Hành động chính là đặc trưng của kịch. Hêghen cho rằng: “ Nội dung chủ
yếu của tự sự là sự kiện, của trữ tình là tâm trạng và của kịch là hành động”.
Trong kịch, nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết làm nảy sinh tác phẩm,
Tình trạng ngưng trệ sản xuất của xí nghiệp đã đến lúc phải giải quyết bằng
những quyết định táo bạo. Sau quá trình tìm hiểu kĩ càng, quyền giám đốc
Hoàng Việt quyết định công bố kế hoạch mở rộng sản xuất và phương án làm
ăn mới. Như vậy, có nghĩa là Việt và Sơn đã công khai tuyên chiến với cơ chế
quản lí và phương thức tổ chức đã trở nên lỗi thời. Những công bố của Hoàng
Việt liên tiếp gây bất ngờ đối với nhiều người.
Phản ứng của trưởng phòng Tổ chức lao động và trưởng phòng Tài vụ
liên quan đến biên chế, đến quỹ lương. Phản ứng của Quản đốc phân xưởng
Trương liên quan đến hiệu quả sản xuất và quản lí công nhân. Khi Hoàng Việt
khẳng định phải đổi mới, phản ứng của nhóm người này càng lúc càng gay gắt.
Những xung đột trên chứng tỏ muốn mở rộng quy mô sản xuất, xí nghiệp cần
phải có nhiều thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ.
20