1
Dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù hận”
trong chương trình Ngữ văn lớp 11
theo đặc trưng thể loại
Teaching chapter "Love and Hatred" in Grade 11 Literature according to genre characteristics
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 119 tr. +
Phạm Thị Yến Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học(bộ môn Ngữ văn);
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Ban
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu tổng quan tài liệu về thể loại kịch (đặc biệt là bi kịch thời kì Phục
hưng), tác phẩm Romeo và Juliet và đoạn trích “Tình yêu và thù hận”. Tìm hiểu, điều tra
khảo sát thực trạng dạy kịch bản văn học trong nhà trường trung học phổ thông. Đề xuất,
xây dựng phương pháp dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù hận” theo đặc trưng thể loại
kịch bản văn học.
Keywords: Ngữ văn; Phương pháp giảng dạy; Đặc trưng thể loại; Lớp 11
Content
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nghị quyết số 49/2000/QH10, ngày 19/12/2000 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông được ban hành đã thúc đẩy ngành giáo dục tiến hành nhiều cải cách, đổi
mới. Một trong những mũi nhọn được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đó là đổi mới chương
trình sách giáo khoa. Theo dõi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT chúng ta dễ dàng nhận
thấy sau năm 2000 bên cạnh các thể loại khác, thể loại kịch đã được các nhà biên soạn lựa chọn và
Với tính chất là một tác phẩm được lựa chọn một đoạn trích trong chương trình văn học
phổ thông nhiều năm qua, vở Romeo và Juliet đã được nghiên cứu khá tỉ mẩn trong nhiều bộ sách
tham khảo trong nhà trường trong các sách tham khảo của giáo viên và học sinh phổ thông: Sách
giáo viên lớp 11 tập 1, Thiết kế bài giảng lớp 11 tập 1, Phân tích và bình giảng tác phẩm văn học
11…Tuy nhiên, phần lớn những bài nghiên cứu này hầu như chỉ tập trung vào nội dung đoạn trích
“Tình yêu và thù hận”.
2.2. Những nghiên cứu giảng dạy tác phẩm kịch theo thể loại
Phương pháp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông là một vấn đề được đề
cập đến rất nhiều trong những năm gần đây. Vấn đề đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp
giảng dạy đã trở thành một phong trào huy động được sự tham gia của các thầy cô giáo và giới
nghiên cứu. Việc giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại là một hướng nghiên cứu thu hút được
nhiều sự quan tâm xong có thể nói đối với phương pháp giảng dạy tác phẩm kịch còn khá nhiều
vấn đề bỏ ngỏ
Với phần lịch sử vấn đề trên đây, chúng tôi đã có cái nhìn tổng quát về việc nghiên cứu
đoạn trích “Tình yêu và thù hận” và việc giảng dạy thể loại kịch bản văn học ở Việt Nam. Những
công trình này sẽ là những tư liệu quý cho chúng tôi nghiên cứu đề tài của mình.
3
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng một số luận điểm về phương pháp dạy kịch bản văn học trong chương
trình trung học phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm kịch trong nhà trường phổ
thông
- Đưa ra phương pháp dạy đoạn trích “Tình yêu và thù hận” (lớp 11 tập 1) theo đặc
trưng thể loại kịch
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan tài liệu về thể loại kịch (đặc biệt là bi kịch thời kì Phục
Thuật ngữ kịch đã được nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trình
bày trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của với hai cấp độ: Cấp độ loại hình và cấp độ thể loại
Ở cấp độ loại hình: “Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (Kịch, tự sự,
trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Kịch bản vừa dùng để diễn là chủ yếu lại
vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Theo đó tiếp nhận kịch bản chính
là tiếp nhận phương diện của văn học kịch”
Ở cấp độ loại thể: “Thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị
trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này kịch còn được gọi là chính kịch”
1.1.2. Phân loại
Dựa trên đặc điểm tính chất của xung đột kịch, N.A Gulaiep trong cuốn Lí luận văn học đã
phân chia kịch thành bi kịch, chính kịch, hài kịch.
1.1.3. Một số đặc trưng của kịch bản văn học
1.1.3.1. Về nhân vật
Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất, hình tượng
con người trong kịch cũng thuộc loại hình tượng mang tính ước lệ cao nhất. Số lượng nhân vật
kịch không thể nào nhiều như tự sự, tiểu thuyết được. Khi viết kịch bản, chất liệu quan trọng nhất
mà nhà văn có thể sử dụng để xây dựng hình tượng nhân vật là lời thoại cùng với giọng nói của
các nhân vật. Nhân vật kịch không được khắc họa với nhiều khía cạnh tỉ mỉ, các nhân vật kịch
phần đông đều đơn giản về mặt bên trong hơn so với hình tượng tự sự. Nhân vật văn học quả là
tổng hợp của nhiều vai trò như vai xã hội, vai tâm lý, vai tư tưởng, vai tính cách. Trong tác phẩm
tự sự, các vai trò này nhiều khi không đồng nhất với nhau. Vai trò của nhân vật kịch thường mang
tính chất đơn nhất và hay bị đồng nhất với vai tính cách. Trong các vở bi kịch nhân vật chính
thường là “những con người lương thiện, dũng cảm, anh hùng, cao thượng, đấu tranh vì những
mục đích tốt đẹp, vì lí tưởng cao quý nhưng điều kiện khách quan chưa cho phép thực hiện”
nhưng những nhân vật này thường có kết thúc bi thảm.
1.1.3.2. Về kết cấu
Kết cấu của một vở kịch bao gồm cốt truyện và nghệ thuật liên kết cụ thể các thành phần
của nó; cách tổ chức thời gian, không gian, tính cách…sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành
một chỉnh thể nghệ thuật.
1.1.3.2.1. Kịch tính
Mặc dù có sự phân loại như trên nhưng suy cho cùng ngôn ngữ kịch cũng mang những đặc
điểm chung không thể trộn lẫn:
- Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ có tính hành động.
- Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống
- Ngôn ngữ kịch mang tính tổng hợp và phải phù hợp với tính cách nhân vật.
- Trong kịch, thoại cũng là hành động đầy kịch tính.
Nói tóm lại, khi nói tới đặc trưng của kịch bản văn học đặc biệt là đặc trưng của bi kịch
người ta thường nói tới các đặc trưng về mặt nhân vật, kết cấu (cốt truyện, không gian thời gian,
xung đột, ngôn ngữ…). Khi phân tích một vở kịch, chúng ta cần phân tích làm rõ những đặc điểm
6
trên để tìm hiểu ý nghĩa của nó đồng thời thấy được sự khác biệt của thể loại này với các thể loại
khác.
1.2. Về tác phẩm Romeo và Juliet
Romeo và Juliet được coi là vở bi kịch nổi tiếng đầu tiên của Shakepeare được viết trong
khoảng những năm 1594 – 1595 gồm 5 hồi bằng thơ xem lẫn văn xuôi.
1.2.1. Nội dung vở kịch có thể tóm tắt như sau: Ngày xưa ở thành Vêrôna của nước Ý tồn tại một
mối thâm thù giữa dòng họ Capiulet và Montaghiu. Tại dạ hội hóa nhà Capiulet, Romeo đã gặp
Juliet và mối tình giữa họ đã nhanh chóng nảy nở và bùng lên mãnh liệt. Hai người đã cùng trao
cho nhau lời thề nguyền chung thủy. Hôm sau Romeo đã cùng với Juliet làm lễ cưới bí mật ở tu
phòng của tu sĩ Lôrân. Nhưng cũng ngày hôm đó một chuyện không may đã xảy ra, Tibân – anh
họ của Juliet đã đâm chết Mơkiuxiô – bạn của Romeo, Romeo đã đâm chết Tibân để trả thù cho
bạn và bị đày đi Mantua. Gia đình Capiulet đã ép Juliet lấy Parit một chàng thanh niên quý tộc họ
hàng nhà vương chủ. Juliet buồn bã và tuyệt vọng và được tu sĩ cho nàng một lọ thuốc ngủ có hiệu
lực làm cho toàn thân nàng lạnh băng như chết trong 42 giờ và báo tin cho Romeo biết về đón
nàng đi. Tưởng Juliet đã chết, gia đình Capiulet than khóc và đem thi thể nàng đặt vào hầm mộ.
Lá thư của Lôrân không đến tay Romeo, Romeo tưởng Juliet đã chết chàng mua thuốc độc rồi
quay về định tự vẫn bên người yêu. Nửa đêm hôm đó, Romeo gặp ở hầm mộ. Hai người đã đánh
nhau. Romeo đâm chết Parit rồi tìm đến bên thi thể người yêu uống thuốc độc tự vẫn. Juliet tỉnh
dậy thấy Romeo đã chết nàng đã dùng dao tự vẫn. Sau đó vương chủ và hai dòng họ Capiulet và
Romeo là một trong hai nhân vật trung tâm của vở kịch, góp phần thể hiện một cách rõ nét
thông điệp của vở kịch tới người đọc. Vẻ đẹp của Romeo được hiện ra thông qua cái nhìn của các
nhân vật khác. Trong mắt Juliet, Romeo là một chàng trai mang đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp
nhất – người mà nàng có thể đem lòng yêu thương ngay từ cái nhìn đầu tiên. Còn trong mắt ông
Capiulet – người đối địch với gia đình chàng – Romeo cũng vẫn là một chàng trai mực thước,
đàng hoàng, đĩnh đạc, là một niềm tự hào của thành Vêrôna. Vượt lên trên tất cả, Romeo đã thể
hiện được vẻ đẹp của mình ngay trong những lời nói, hành động của chàng. Romeo mực thước
đàng hoàng trong những cử chỉ, lời nói cùng nàng Juliet từ ngày đầu gặp gỡ. Romeo công bằng,
chính trực trong hành động can ngăn vụ va chạm giữa Mơkiuxiô và Tibân và hành động đòi lại
công lí cho Mơkiuxiô. Và cuối cùng, Romeo bất tử cùng với tình yêu mãnh liệt, thủy chung cùng
nàng Juliet.
1.3.1.2. Nhân vật Juliet
Juliet là nhân vật nữ tiêu biểu của tác phẩm. Vẻ đẹp của nàng hiện lên một cách toàn diện
ở cả vẻ đẹp bên ngoài và những phẩm chất đáng quý bên trong.
Vẻ đẹp bên ngoài của Juliet được hiện ra chủ yếu thông qua những lời thoại của chàng Romeo.
Đó là vẻ đẹp của khuôn mặt, đôi mắt, đôi gò má…khiến thiên nhiên cũng phải ghen tị, thẹn thùng. Và
cũng chính vẻ đẹp này đã chinh phục trái tim chàng Romeo ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Nếu như vẻ bề ngoài của Juliet được hiện ra qua những lời thoại của Romeo thì những
phẩm chất bên trong của nàng lại được thể hiện thông qua chính lời nói, hành động của nàng. Biểu
hiện cao cả nhất cho vẻ đẹp tâm hồn của Juliet chính là tình yêu mãnh liệt thủy chung của nàng.
Juliet đã dám bất chấp tất cả mọi trở lực ngăn cản để lựa chọn tình yêu và quyết tâm đến với tình
yêu chân chính của mình. Với phẩm chất này, Juliet trở thành người phụ nữ tiêu biểu của thời kì
Phục hưng, người phụ nữ với vẻ đẹp thánh thiện trong sáng và một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng,
người phụ nữ dám đấu tranh cho hạnh phúc của mình, người phụ nữ thực sự làm chủ cuộc sống
của mình. Xây dựng thành công nhân vật này, Shakespeare đã cho thấy một cái nhìn hết sức tiến
8
bộ về người phụ nữ, một vấn đề mà văn học đã học hỏi và phát huy ở những giai đoạn sau.
1.3.2. Kết cấu.
1.3.2.1. Xung đột.
ba thời điểm quan trọng thắt nút – đỉnh điểm – mở nút. Vở kịch được thắt nút bởi sự kiện Romeo
và Juliet gặp gỡ thề nguyền và kết duyên vợ chồng với sự chứng kiến của tu sĩ Lôrân. Đỉnh điểm
của vở kịch là cuộc xô xát trên đường phố dẫn đến việc Tibân, Mơkiuxiô chết và Romeo bị đày đi
9
biệt xứ. Vở kịch được mở nút bằng sự kiện Romeo do không biết kế hoạch mà tu sĩ Lôrân đã vạch
ra nên đã uống thuốc độc và tự vẫn bên nàng Juliet, Juliet tỉnh dậy thấy Romeo đã chết cũng quên
sinh theo chàng. Ngoài ra, vở kịch còn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc bằng phần vĩ
thanh đó là sự giảng hòa giữa hai gia đình, mối thù hận lâu đời giữa hai dòng họ được xóa bỏ.
Chính phần vĩ thanh này đã làm bớt đi tính chất nặng nề của vở kịch, khiến Romeo và Juliet tuy là
một vở bi kịch nhưng vẫn khiến con người ta tin tưởng vào hạnh phúc, tương lai.
1.3.2.3. Không gian và thời gian
Không gian và thời gian là hai yếu tố quan trọng của nghệ thuật kết cấu, là nỗi trăn trở của
nhiều nhà văn khi cầm bút. Đối với nghệ thuật kịch, vấn đề không gian thời gian càng trở thành
một vấn đề được đặc biệt chú ý. Do chịu sự quy định của đặc trưng thể loại, không gian thời gian
trong tác phẩm kịch thường phải giải quyết một sự mâu thuẫn lớn giữa một bên là tính vô hạn, đa
dạng của đời sống và một bên là tính có hạn của kịch. “Giải quyết không gian thời gian kịch, đó là
vấn đề đeo đuổi của nghệ thuật kịch, nghệ thuật sân khấu bao đời nay”.
1.4.2.3.1. Không gian
Về mặt không gian, Romeo và Juliet bước đầu cho thấy tính chất phá vỡ luật “tam duy
nhất”. Vở kịch diễn ra ở thành Vêrôna (nước Ý) nơi có hai dòng họ thù địch nhau Capiulet và
Montaghiu sinh sống. Tuy nhiên đến hồi V – hồi cuối của vở kịch xuất hiện thêm một không gian
nữa đó là thành Mantua – nơi Romeo bị đi đày. Không gian thành Mantua chỉ xuất hiện duy nhất
ở cảnh 1 hồi V nhưng nó đã có tác dụng rất hiệu quả trong việc chuẩn bị cho các sự kiện chính
diễn ra ở thành Vêrôna để giải quyết vấn đề đặt ra trong vở kịch ở những cảnh sau.
Dựa vào việc khảo sát văn bản tác phẩm chúng ta có thể nhận thấy có 3 mảng không gian
chính cần được tìm hiểu kĩ trong tác phẩm.
Thứ nhất đó là không gian công cộng. Các nhân vật phụ chủ yếu hoạt động trong mảng
không gian này. Mảng không gian này có xảy ra những đợt xô xát, ẩu đả nhưng tính chất kịch tính
không được đẩy lên cao trào mà nó chủ yếu mang tính chất chuẩn bị cho những kịch tính xuất
1.4. Thực trạng dạy học kịch bản văn học ở nhà trƣờng THPT
1.4.1. Tình hình dạy kịch bản văn học ở nhà trường THPT
Trong chương trình Ngữ văn hiện nay, số lượng các kịch bản văn học được đưa vào giảng
dạy chiếm một vị trí nhất định thể hiện sự đổi mới của Bộ giáo dục và đào tạo trong việc cho học
sinh tiếp cận với nhiều thể loại. Tuy nhiên theo khảo sát của chúng tôi chưa có một công trình
nghiên cứu chuyên sâu nào hỗ trợ đắc lực cho việc dạy các văn bản kịch, các thầy cô giáo chủ yếu
dạy học kịch bản như dạy học các thể loại văn học khác. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình
dạy kịch bản văn học ở các trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội,
trường THPT Phạm Hồng Thái – Ba Đình – Hà Nội và trường THPT Nam Đông Quan – Đông
Hưng – Thái Bình trên các khía cạnh tìm hiểu thông qua hệ thống giáo án của các giáo viên, quan
sát giờ dạy của các giáo viên, và phát phiếu điều tra. Qua quá trình khảo sát bước đầu chúng tôi
thu được những kết quả như sau:
Về giáo án và quan sát giờ giảng trên lớp: Qua khảo sát phần chuẩn bị giáo án của các
thầy cô khi dạy một số kịch bản văn học như: Vĩnh biệt Cửu Trùng đài, “Tình yêu và thù hận”,
Hồn Trương Ba da hàng thịt chúng tôi nhận thấy các giáo viên đã thể hiện có sự lồng ghép các
đặc trưng của thể loại kịch trong giáo án. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận nhiều thầy cô đã bỏ quên
hoặc chưa thật sự có ý thức đầy đủ về việc giảng dạy văn bản kịch theo đặc trưng thể loại dẫn đến
đôi khi có đưa vào bài giảng một số đặc trưng của thể loại kịch nhưng còn mang tính hình thức và
chưa khắc sâu được cho người học những đặc điểm này. Nhìn chung có thể nhận thấy có những
11
giáo viên đã đưa một số đặc trưng của kịch vào bài dạy khi dạy về thể loại này nhưng chưa chú
trọng, chưa ý thức sâu sắc về việc dạy tác phẩm theo thể loại.
Có thể nhận thấy một hạn chế lớn trong dạy học kịch bản văn học ở nhà trường phổ thông
hiện nay là các giáo viên đều nặng về truyền thụ nội dung văn bản đặc biệt là khi học văn bản kịch
nước ngoài.
Khảo sát thông qua phiếu hỏi: Bên cạnh việc khảo sát giáo án và giờ dạy kịch bản văn học
trên lớp của các giáo viên, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học kịch bản văn học
thông qua hệ thống phiếu hỏi. Theo điều tra của chúng tôi số lượng giáo viên không hứng thú khi
giảng dạy các kịch bản văn học rất đáng tiếc chiếm tỉ lệ rất cao 59.09%. Chỉ có 13,64% giáo viên
Dựa vào văn bản tác phẩm chúng ta có thể thấy Romeo và Juliet không đối thoại với nhau
ngay từ đầu, mà chỉ thực sự nói chuyện với nhau từ lời thoại thứ 7. Sáu lời thoại đầu tiên thực chất
là những lời độc thoại nội tâm được thốt lên thành tiếng, nói khe khẽ, nói một mình, nói để cho
mình nghe. Từ lời thoại thứ 7 trở đi ngôn ngữ chuyển sang đối thoại.
Căn cứ vào những chỉ dẫn (các chữ in nghiêng), chúng ta có thể hình dung được không
gian, thời gian diễn ra hành động của hai nhân vật. Đó là một đêm khuya, trăng sáng khi dạ hội
vừa kết thúc, nàng Juliet đứng trên ban công nhà, chàng Romeo núp dưới lùm cây dưới ban công
trong vườn nhà Capiulet.
Về xung đột kịch, trong đoạn trích này không xuất hiện xung đột giữa tình yêu của đôi
nam nữ với mối thù hận lâu đời của hai dòng họ. Hằn thù của hai dòng họ chì có tính chất phông
nền để thể hiện tình yêu sâu sắc, mạnh mẽ của Romeo và Juliet
2.2. Một số định hƣớng trong dạy học kịch bản văn học ở trƣờng phổ thông theo đặc trƣng
thể loại
Ở phần này, chúng tôi sẽ dựa trên một số đặc điểm đặc trưng của kịch để đưa ra những
điều cần lưu ý khi dạy học tác phẩm thuộc thể loại này.
Trong kịch thường có các vai, mỗi vai thường có những đặc điểm rất khác nhau ví dụ như:
lời nói, ngữ điệu, cử chỉ…do vậy giáo viên nên phân vai cho học sinh đọc. Nếu có thể giáo viên
nên cho học sinh nhập vai, diễn đoạn trích đó.
Diễn biến nội tâm của nhân vật kịch thường bộ lộ thông qua lời nói, ngữ điệu của lời nói,
hành động của nhân vật. Vì vậy khi phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật kịch, giáo viên phải
hướng học sinh tới việc tìm hiểu về lời thoại, hành động của các nhân vật.
Xung đột kịch là một đặc trưng quan trọng của thể loại này, nó cũng là một yếu tố quan
trọng có tính chất quyết định tới phương pháp dạy học. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải
chú ý giúp học sinh nhận ra được xung đột kịch, xung đột kịch này được thể hiện chủ yếu thông
qua lời nói và hành động của nhân vật ở các tuyến đối lập. Thông thường lối hướng dẫn phân tích
theo kiểu “bổ dọc tác phẩm” sẽ giúp lột tả được xung đột kịch.
Khi phân tích kịch, giáo viên nên giúp học sinh phân biệt được ba dạng thức này của ngôn
ngữ nhân vật từ đó giúp học sinh tìm ra sự khác biệt của ngôn ngữ kịch so với ngôn ngữ của các
thể loại khác. Ngôn ngữ trong kịch là phương tiện quan trọng nhất để bộc lộ tính cách nhân vật.
Ngôn ngữ kịch trên sân chủ yếu là lời thoại của các nhân vật. Xung đột hay diễn biến của hành
- Giúp học sinh hướng vào lời thoại, không gian thời gian để tìm hiểu nhân vật.
- Ở đoạn trích xung đột kịch không nổi lên gay gắt nhưng giáo viên nên giúp học sinh tìm
hiểu một số kiến thức chung về xung đột kịch và chứng minh ở đoạn trích này thù hận chỉ đóng
vai trò là phông nền để thể hiện tình yêu của Romeo và Juliet.
- Ngôn ngữ, không gian thời gian cũng là hai phương diện đặc sắc của đoạn trích này. Tùy
từng cách khai thác mà giáo viên có thể khai thác gộp lại với các yếu tố khác hoặc tách riêng khi
phân tích. Tuy nhiên trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm, giáo viên phải chỉ rõ
cho học sinh thấy được sự khác biệt về mặt ngôn ngữ, không gian thời gian của tác phẩm kịch và
các tác phẩm tự sự khác.
Chúng tôi tin rằng với những chỉ dẫn về cách thức dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù
hận” theo đặc trưng thể loại trên đây sẽ không chỉ giúp học sinh có thể tiếp cận đoạn trích theo
đúng hướng mà khi gặp những kịch bản khác học sinh cũng sẽ tìm được hướng tiếp cận đúng.
14
2.3.2. Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học đoạn trích Tình yêu và thù hận
Xét về mặt hình thức tổ chức dạy học, đoạn trích Tình yêu và thù hận có thể sử dụng cả
hình thức dạy học trên lớp và hình thức dạy học ngoài lớp. Tùy theo điều kiện cụ thể người dạy có
thể áp dụng hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp để đạt hiệu quả dạy học cao nhất. Trong luận
văn này, với hình thức dạy học trên lớp chúng tôi sẽ thiết kế một giáo án word triển khai dạy học
văn bản Tình yêu và thì hận theo đặc trưng thể loại. Đây là hình thức dạy học khá phổ biến và phù
hợp với nhiều trường, nhiều đối tượng dạy học.
Đối với hình thức dạy học ngoài lớp chúng tôi sử dụng dạy học dự án để triển khai việc
dạy học văn bản “Tình yêu và thù hận”. Dạy học dự án là phương pháp mới đòi hỏi cả người dạy
và người học phải có sự chuẩn bị công phu chu đáo nhưng đổi lại kiến thức của bài học sẽ được
người học tìm hiểu, tiếp nhận một cách chủ động, tự giác và hứng thú thông qua sự hướng dẫn,
chia sẻ và tổ chức hoạt động của người dạy. Dạy học văn bản “Tình yêu và thù hận” có thể kết
hợp với bài Một số thể loại văn học: Kịch, văn nghị luận (thuộc tiết 109 và 110 của học kì II) tạo
thành dự án Sân khấu hóa kịch bản đoạn trích “Tình yêu và thù hận” và tìm hiểu về Shakespeare
cùng vở kịch Romeo và Juliet.
Chúng tôi sẽ tiến hành thực nghiệm sư phạm với cả hai hình thức dạy học đoạn trích “Tình
- Không gian thực nghiệm: Để tiện cho việc tiến hành và theo dõi đánh giá thực nghiệm
chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại địa bàn Hà Nội, cụ thể là tại hai trường THPT mà chúng tôi
có điều kiện trực tiếp giảng dạy đó là trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc
gia Hà Nội, trường THPT Phạm Hồng Thái – Ba Đình – Hà Nội.
- Thời gian thực nghiệm: Quá trình thực nghiệm được tiến hành trong năm học 2012 –
2013. Theo phân phối chương trình môn Ngữ văn lớp 11 tập I, văn bản “Tình yêu và thù hận” là
tiết thứ 65, 66 trên tổng số 72 tiết của chương trình Ngữ văn học kì một (tức là rơi vào cuối học
kì). Tuy nhiên để kịp tiến độ hoàn thành thực nghiệm, hoàn thành luận văn tốt nghiệp chúng tôi đã
xin phép đẩy tiết dạy học văn bản “Tình yêu và thù hận” lên trước.
3.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm
3.3.1. Nội dung thực nghiệm
- Luận văn của chúng tôi sẽ tiến hành dạy thực nghiệm đoạn trích “Tình yêu và thù hận”
theo đặc trưng thể loại với cả hai hình thức dạy học trên lớp và dạy học dự án (giáo án dự án và
giáo án trên lớp được thể hiện ở phần phụ lục)
- Sau khi dạy thực nghiệm xong chúng tôi tiến hành so sánh giữa lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng để bước đầu nhận định, đánh giá hiệu quả sư phạm và tính khả thi của việc dạy học
đoạn trích “Tình yêu và thù hận” theo đặc trưng thể loại dựa trên cả kết quả định tính và định
lượng mà chúng tôi khảo sát được sau giờ dạy.
3.3.2. Tiến trình thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm dạy học văn bản “Tình yêu và thù hận” với hai hình thức
dạy học dạy học trên lớp và dạy học ngoài lớp cơ bản theo tiến trình sau:
1, Xây dựng kế hoạch thực nghiệm
Xác định mục đích và nội dung thực nghiệm; lựa chọn đối tượng; địa bàn, thời gian tiến
hành thực nghiệm; xác định, xây dựng các công cụ cần thiết cho quá trình thực nghiệm: Soạn giáo
án thực nghiệm, hoàn thành bộ công cụ điều tra khảo sát, chuẩn đánh giá, phương pháp xử lí kết
quả, kho tài liệu học tập…)
16
2, Tổ chức thực nghiệm
Lớp TN
DHDA
(75HS)
0
0
0
0
2
5
18
15
17
10
8
DHTL
(80 HS)
0
0
0
0
3
9
18
14
16
13
7
Lớp ĐC
77 HS
32
18
%
2,67
30,66
42,67
24
DHTL
(80 HS)
3
27
30
20
%
3,75
33,75
37,5
25
Lớp ĐC
77 bài
12
35
21
9
%
15,59
45,45
27,27
11,69
17
đều cho biết thấy hứng thú với các tiết học dạy thực nghiệm. Tiết học đã giúp các em nhận thức
được kiến thức bài học một cách rõ ràng, đồng thời thông qua bài học các em còn có sự hiểu biết
chung về thể loại kịch từ đó định hướng cách thức tiếp cận những văn bản kịch nói chung.
3.4.3. Nhận xét đánh giá chung
Như vậy, từ những kết quả thu được ở trên chúng tôi rút ra một số đánh giá, nhận xét cơ
bản như sau:
- Phần thiết kế thực nghiệm của chúng tôi đưa ra đã đáp ứng được yêu cầu về chuẩn
kiến thức kĩ năng bài học, có tính khả thi và mang lại hiệu quả giảng dạy tích cực.
- Ở cả hai hình thức dạy học trên lớp và dạy học theo dự án chúng tôi đều mang lại
hiệu quả dạy học cao.
18
- Trong các giờ học thực nghiệm, nhìn chung không khí lớp học sôi nổi hào hứng.
- Tuy nhiên, các tiết dạy thực nghiệm vẫn không tránh khỏi một số vấn đề khó khăn
cần khắc phục.
Trên đây là những nhận định, đánh giá mà chúng tôi rút ra được từ sáu tiết dạy thực
nghiệm. Những kết quả này sẽ giúp chúng tôi trong việc nhận thức những mặt tích cực và những
hạn chế trong quá trình thực nghiệm từ đó có những chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện hơn cho việc
tiến hành các tiết dạy học cũng như tiếp tục hoàn thiện luận văn của mình hơn nữa.
KẾT LUẬN
Luận văn của chúng tôi được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc dựa trên cơ sở
nhận thức và thực tiễn rõ ràng, khoa học với trọng tâm là vận dụng đặc trưng thể loại vào dạy học
tác phẩm văn chương nói chung, dạy học kịch bản văn học nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu
với đề tài “Dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù hận” trong chương trình Ngữ văn lớp 11 theo
đặc trưng thể loại” chúng tôi đi đến kết luận như sau:
+ Thứ nhất: Để giảng dạy tốt các tác phẩm kịch ở trường phổ thông đòi hỏi người giáo
viên phải nắm chắc đặc điểm chung của thể loại kịch, đặc điểm riêng biệt của từng tác phẩm kịch
mà mình giảng dạy từ đó có biện pháp dạy học phù hợp, mang lại hiệu quả cao.
+ Thứ hai: Dạy học tác phẩm kịch theo đặc trưng thể loại nói chung, dạy học đoạn trích
Hà Nội.
12. Đặng Anh Đào(Chủ biên) (2007), Văn học Phương Tây. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
13. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ
văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
14. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Năm bài giảng về thể loại. Nxb Trường viết văn Nguyễn Du, Hà
Nội
15. Đỗ Đức Hiểu (1962), Văn học phương Tây thời phục hưng (Giáo trình 1960 – 1961). Nxb
Đại học Tổng hợp, Hà Nội.
16. Đỗ Đức Hiểu (1998), “Mấy điều về thi pháp kịch”. Tạp chí văn học (2) , tr 18 - 20
17. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
18. Nguyễn Thanh Hùng (2006), Phương pháp dạy học ngữ văn những vấn đề cập nhật. Nxb
Đại học Sư phạm. Hà Nội.
19. Lƣu Thị Thu Hƣơng (2006), Nghệ thuật kịch Tào Ngu qua: Lôi Vũ, Nhật Xuất, Người Bắc
Kinh, Nguyên Dã. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
20. Khoa sƣ phạm trƣờng Đại học Giáo dục (2007), Tập bài giảng phương pháp dạy học ngữ
văn (lưu hành nội bộ). Khoa sư phạm trường Đại học Giáo dục, Hà Nội.
21. Nguyễn Huy Liên (1982), Lí luận xung đột kịch. Luận văn tiến sĩ, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
22. Trƣơng Thị Thùy Linh (2008), Phương pháp dạy đọc hiểu tác phẩm văn xuôi nước ngoài
(Sách giáo khoa ngữ văn 11), Khóa luận tốt nghiệp đại học, khoa sư phạm Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
23. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2009), Ngữ văn 11 tập I, Sách giáo viên. Nxb Giáo dục. Hà
Nội.
25. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2009), Ngữ văn 11 tập I. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
20
25. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2008), Phương pháp dạy học ngữ văn. Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội. Hà Nội.
26. Phƣợng Lựu (1997), Khơi dòng lí thuyết. Nxb Hội nhà văn. Hà Nội.
27. Đặng Thai Mai (2003), Tác phẩm được tặng giải thường Hồ Chí Minh. Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.