i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ YẾN
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “TÌNH YÊU VÀ THÙ HẬN” TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 11 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN HÀ NỘI – 2012
ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ YẾN
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
TN
Thực nghiệm
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số và tên bảng
Trang
1
Bảng 1.1: Mức độ hứng thú của giáo viên với thể loại kịch
61
2
vi
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 8
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16
1.1. Đôi nét về thể loại kịch 16
1.1.1. Khái niệm 16
1.1.2. Phân loại 17
1.1.3. Một số đặc trƣng của kịch bản văn học 18
1.2. Về tác phẩm Romeo và Juliet 25
1.3. Nghệ thuật kịch trong vở Romeo và Julilet nhìn từ đặc trƣng thể loại 29
1.3.1. Nhân vật 29
1.3.2. Kết cấu. 45
1.4. Thực trạng dạy học kịch bản văn học ở nhà trƣờng THPT 60
1.4.1. Tình hình dạy kịch bản văn học ở nhà trƣờng THPT 60
1.4.2. Tình hình học kịch bản văn học ở nhà trƣờng THPT 64
CHƢƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH TÌNH YÊU VÀ
THÙ HẬN THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI 67
2.1. Khái lƣợc về đoạn trích 67
2.2. Một số định hƣớng trong dạy học kịch bản văn học ở trƣờng phổ thông
theo đặc trƣng thể loại 69
2.3. Cách thức tổ chức dạy học đoạn trích Tình yêu và thù hận theo đặc trƣng
thể loại 72
2.3.1. Những lƣu ý khi dạy học đoạn trích Tình yêu và thù hận 72
2.3.2. Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học đoạn trích Tình yêu và thù hận 77
vii
đoạn trích “Tình yêu và thù hận” (trích vở Romeo và Juliet - Shakespear),
đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài” (trích vở “Vũ Nhƣ Tô – Nguyễn Huy
Tƣởng), đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lƣu Quang Vũ). Sự đổi
mới về chƣơng trình này cho thấy sự ghi nhận vai trò, giá trị của các tác phẩm
kịch, sự toàn diện của chƣơng trình đồng thời cũng đặt ra những thử thách
mới cho cả ngƣời dạy và ngƣời học. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần phải có
một cách tiếp cận phù hợp để khai thác đƣợc hết cái hay cái đẹp của các tác
phẩm kịch – một thể loại với nhiều những nét đặc sắc nhƣng không phải ai
cũng dễ dàng cảm nhận đƣợc.
1.2. Trong số ba trích đoạn kịch bản đƣợc đƣa vào giảng dạy trong chƣơng
trình Ngữ văn THPT dễ dàng nhận thấy chỉ có một trích đoạn thuộc văn học
nƣớc ngoài đƣợc đƣa vào giảng dạy đó là đoạn trích “Tình yêu và thù hận”
(trích vở Romeo và Juliet) của William Shakespear. Sự lựa chọn này của các
nhà biên soạn đã thể hiện sự ƣu ái đặc biệt đối với Shakespear – một kịch gia
hàng đầu của làng kịch thể giới, với vở Romeo và Juliet – một kiệt tác đã và
9
đang chinh phục trái tim triệu triệu con ngƣời khắp năm châu. Lựa chọn
nghiên cứu đoạn trích “Tình yêu và thù hận” (trích Romeo và Juliet) của
Shakespear chúng tôi có tham vọng giúp những học sinh của mình có thể
nhận thức đƣợc những đặc trƣng của thể loại kịch thông qua một kiệt tác của
một kịch gia bậc thầy từ đó có hình thành kĩ năng khai thác các cái hay, cái
đẹp của các tác phẩm cùng thể loại.
1.3. Qua thực tế giảng dạy ở nhà trƣờng phổ thông cũng nhƣ tham khảo ý
kiến của các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy việc dạy học kịch bản văn học
gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay các sách nghiên cứu về giảng dạy văn bản
kịch không nhiều, các thầy cô giáo chủ yếu dựa vào hƣớng dẫn trong sách
giáo viên và những định hƣớng trong những lần tập huấn để giảng dạy. Các
giáo viên lâu năm trong nghề với kinh nghiệm đƣợc tích lũy xử lí linh hoạt
hơn trong các giờ dạy, cơ bản các kiến thức đảm bảo nhƣng chƣa tạo đƣợc
văn học 11…Tuy nhiên, phần lớn những bài nghiên cứu này hầu nhƣ chỉ tập
trung vào nội dung đoạn trích “Tình yêu và thù hận”.
Trong đó đáng chú ý nhất là cuốn Uy-li-am Sếc-xpia của Lê Nguyên
Cẩn [7] và cuốn Cảm thụ và giảng dạy văn học nước ngoài của Phùng Văn
Tửu chủ biên [41]. Trong cuốn Uy-li-am Sếc-xpia, bên cạnh việc gợi ý phân
tích các vở Thương nhân thành Vơnidơ (đoạn trích Sự lựa chọn của Baxanio
và Vụ xử án), Hămlét (đoạn trích Sống hay không sống), tác giả Lê Nguyên
Cẩn đã đƣa ra một số gợi ý chỉ dẫn việc phân tích đoạn Dưới trăng đôi trẻ
đinh ninh thề nguyền và Gặp gỡ kì duyên. Phần hƣớng dẫn này chủ yếu
hƣớng vào giải đáp những câu hỏi trong sách giáo khoa, nó có tác dụng nhất
định trong việc định hƣớng việc phân tích đoạn trích. Trong cuốn Cảm thụ và
giảng dạy văn học nước ngoài tác giả cũng dành một phần bàn về trích đoạn
“Tình yêu và thù hận” trong đó tác giả đã nêu lên những cảm nhận chung về
đoạn trích này. Việc cảm thụ này chủ yếu hƣớng tới mặt nội dung của đoạn
trích và còn mang tính chất sơ lƣợc phù hợp với trình độ tiếp nhận chung của
11
học sinh phổ thông. Đây cũng là tài liệu hay cho các thầy cô giáo và học sinh
muôn tìm hiểu thêm về tác phẩm này.
2.2. Những nghiên cứu giảng dạy tác phẩm kịch theo thể loại
Phƣơng pháp giảng dạy môn ngữ văn trong nhà trƣờng phổ thông là
một vấn đề đƣợc đề cập đến rất nhiều trong những năm gần đây. Vấn đề đổi
mới chƣơng trình, đổi mới phƣơng pháp giảng dạy đã trở thành một phong
trào huy động đƣợc sự tham gia của các thầy cô giáo và giới nghiên cứu. Việc
giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại là một hƣớng nghiên cứu thu hút
đƣợc nhiều sự quan tâm xong có thể nói đối với phƣơng pháp giảng dạy tác
phẩm kịch còn khá nhiều vấn đề bỏ ngỏ. Trong cuốn Phương pháp dạy học
văn của Phan Trọng Luận chủ biên [25] các nhà nghiên cứu phân chia phƣơng
pháp dạy học ngữ văn theo ba hƣớng: Phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn
chƣơng, phƣơng pháp dạy học văn học sử, phƣơng pháp dạy học môn làm
bài giảng chủ yếu dựa vào văn bản kịch nhƣng đồng thời phải giúp học sinh
hình dung đƣợc phần nào kịch bản dƣới ánh đèn sân khấu. Khi phân tích một
đoạn kịch phải gắn liền với kết cấu, bối cảnh, không gian, thời gian, lời thoại,
hành động kịch, xung đột kịch…Tuy những lƣu ý nêu trên mới chỉ mang tính
chất định hƣớng nhƣng có thể nói tác giả đã đƣa ra đƣợc hƣớng tiếp cận hợp
lí khi tiến hành tiếp nhận tác phẩm kịch.
Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo thể loại)
của Nguyễn Viết Chữ [8], tác giả đã trình bày ba vấn đề chính: Phƣơng pháp
và biện pháp dạy học tác phẩm trữ tình. Phƣơng pháp và biện pháp chung
dành cho các loại thể văn học nƣớc ngoài – một loại thể đặc biệt của chƣơng
trình văn học trong nhà trƣờng và bƣớc đầu vận dụng những nguyên tắc trong
việc chọn giảng văn học nƣớc ngoài trong nhà trƣờng hiện nay. Tác giả đã
khẳng định: “việc xác định thể loại là vấn đề mấu chốt trong quá trình phát
triển khoa học phƣơng pháp dạy học tác phẩm văn chƣơng”. Tuy nhiên cuốn
sách này chủ yếu hƣớng vào phƣơng pháp dạy tác phẩm trữ tình và những lí
luận chung về việc giảng dạy văn học nƣớc ngoài ở nhà trƣờng phổ thông.
13
Phƣơng pháp giảng dạy kịch bản trong nhà trƣờng vẫn chƣa đƣợc quan tâm
một cách thích đáng.
Trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của tác
giả Trần Thanh Đạm cùng nhiều tác giả khác [9] vấn đề dạy học theo thể loại
đã bƣớc đầu đƣợc đề cập. Với bài viết “Về vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo loại thể” Trần Thanh Đạm đã chú ý tới ba thể loại văn học lớn: Tự
sự, trữ tình và kịch. Ông khẳng định: “Nhà văn sáng tác theo loại thể thì
ngƣời đọc cũng cảm thụ theo loại thể và ngƣời dạy cũng giảng dạy theo loại
thể” [9, tr. 30]. Cũng trong cuốn sách này tác giả Huỳnh Lý có bài “Kịch và
giảng dạy kịch”. Tác giả nhấn mạnh: “Chúng ta không giảng dạy kịch với tính
cách là một loại hình nghệ thuật mà chỉ giảng dạy kịch bản về phƣơng diện
văn học [9, tr. 239]. Cũng trong bài viết này tác giả đã đề cập đến nhiều vấn
11 tập 1) theo đặc trƣng thể loại kịch
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan tài liệu về thể loại kịch (đặc biệt là bi kịch
thời kì Phục hƣng), tác phẩm Romeo và Juliet và đoạn trích “Tình yêu và thù
hận”.
- Tìm hiểu, điều tra khảo sát thực trạng dạy kịch bản văn học trong
nhà trƣờng trung học phổ thông.
- Đề xuất, xây dựng phƣơng pháp dạy học đoạn trích “Tình yêu và
thù hận” theo đặc trƣng thể loại kịch bản văn học.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Các đặc trƣng của bi kịch cổ điển thông qua tác phẩm Romeo và
Juliet và đặc biệt là đoạn trích “Tình yêu và thù hận”.
- Từ những nghiên cứu trên chúng tôi sẽ đƣa ra phƣơng pháp dạy học
đoạn trích Tình yêu và thù hận theo đặc trƣng thể loại và tiến hành thực
nghiệm giảng dạy đoạn trích.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
15
Để đạt tới mục đích nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dựa
trên hai nhóm phƣơng pháp cơ bản:
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu về mặt lí thuyết với những phƣơng
pháp cơ bản nhƣ: Phân tích, tổng hợp tài liệu…
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tế nhƣ: Điều tra, khảo sát,
thống kê, thực nghiệm sƣ phạm
6. Cấu trúc luận văn
Tƣơng ứng với đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ở trên, ngoài phần mở
đầu và kết thúc, luận văn của chúng tôi đƣợc chia thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chƣơng 2. Tổ chức dạy học đoạn trích “Tình yêu và thù hận” theo đặc
trƣng thể loại
những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch. Nói đến kịch là nói đến kịch
tính. Các kịch tính đƣợc hình thành, phát triển và giải quyết qua hành động
kịch.
Ở cấp độ loại thể: “Thuật ngữ kịch đƣợc dùng để chỉ một thể loại văn
học - sân khấu có vị trí tƣơng đƣơng với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này
kịch còn đƣợc gọi là chính kịch” [13, tr. 143].
Kịch thực ra không phải là một loại thể văn học đơn thuần, không nên
đánh đồng kịch bản với nghệ thuật sân khấu nói chung bao gồm kịch nói, kịch
hát, kịch múa, nhạc kịch Bất cứ loại kịch nào, kể cả kịch câm cũng có kịch
bản, nhƣng chỉ có kịch hát, nhất là kịch nói mới có kịch bản văn học.
17
Là đối tƣợng của lý luận văn học, kịch bản văn học là một trong 3 loại
chính của văn học. Sự khác nhau giữa nó với thể loại trữ tình là điểm rất rõ
nhƣng với loại tự sự thì kịch còn có nhiều điểm tƣơng đồng. Bêlinxki cho
rằng: Tác phẩm kịch là “Sự dung hợp của các yếu tố đối lập của tính khách
quan tự sự và tính chủ quan trữ tình”, không phải chỉ trong loại hình kịch mới
có sự dung hợp các yếu tố của loại hình khác. Trong thơ, truyện, ký đều có,
nhƣng kịch có ƣu thế trong sự kết hợp khả năng biểu hiện của tự sự và trữ
tình. Kịch là một thể loại văn học nhƣng lại gắn liền sinh tử với sân diễn, sân
khấu, vì thế kịch tất sẽ không bao giờ là một thể loại văn học đơn thuần nhƣ
tự sự và trữ tình. Kịch bản viết ra vừa để đọc vừa để diễn, do đó đọc kịch bản
văn học nếu chúng ta tách hoàn toàn với nghệ thuật sân khấu thì ta không thể
nào hiểu đƣợc. Nhƣ vậy, nhìn từ góc độ nào ta cũng thấy kịch bản văn học là
một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu. Không phải ngẫu nhiên mà
khi sáng tác kịch bản, nhà văn bao giờ cũng tính đến các yếu tố không gian,
thời gian, khả năng biểu hiện nghệ thuật của các phƣơng tiện sân khấu nhất là
sự diễn xuất của các diễn viên. Nhƣng kịch bản văn học không chỉ có đời
sống gắn bó với nghệ thuật sân khấu mà nó còn có đời sống độc lập riêng của
nghệ thuật ngôn từ. Có thể xem “Kịch”, “Kịch bản văn học” hay “Văn học
phận con ngƣời riêng lẻ không đề cập đến những sự kiện có ý nghĩa lớn lao
trên đất nƣớc.
1.1.3. Một số đặc trưng của kịch bản văn học
1.1.3.1. Về nhân vật
Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tƣợng con ngƣời một cách sống động
nhất, nhƣng trong cuộc đời thực, ngƣời bình thƣờng không thể nói to trƣớc
đám đông những toan tính xấu xa, những dục vọng thấp hèn của mình giống
nhƣ các nhân vật trên sàn diễn. Cho nên, hình tƣợng con ngƣời trong kịch
cũng thuộc loại hình tƣợng mang tính ƣớc lệ cao nhất. Nó là nhân vật của trò
diễn mà diễn viên là ngƣời đóng vai các nhân vật ấy trên sân khấu. Tác phẩm
trữ tình, nhất là tác phẩm tự sự, tìm đủ mọi cách làm mờ tính chất trò diễn của
19
nghệ thuật. Tính chất trò diễn lại thƣờng xuyên đƣợc tô đậm, không cần che
đậy trong kịch văn học và nghệ thuật sân khấu. Đây là đặc điểm ta dễ dàng
phân biệt nhân vật kịch với hình tƣợng trữ tình và hình tƣợng tự sự.
Là hình tƣợng trò diễn, nhân vật kịch chịu sự chi phối, ràng buộc chặt
chẽ bởi những điều kiện, luật lệ của nghệ thuật sân khấu. Nhƣ đã nói ở trên,
do cốt truyện trong kịch bản văn học phải tập trung chính vì vậy mà số lƣợng
nhân vật kịch không thể nào nhiều nhƣ tự sự, tiểu thuyết đƣợc.
Là hình tƣợng trò diễn, nhân vật kịch đƣợc cụ thể hóa bằng chất liệu
riêng. Tuy kịch bản không có nhân vật ngƣời kể chuyện, không cho tác giả tự
do can thiệp, mách nƣớc cho độc giả, vì kịch bản viết ra không phải để đọc
mà là để biểu diễn trên sân khấu.
Khi viết kịch bản, chất liệu quan trọng nhất mà nhà văn có thể sử dụng
để xây dựng hình tƣợng nhân vật là lời thoại cùng với giọng nói của các nhân
vật. Qua lời đối thoại và độc thoại, nhân vật kịch cất lên tiếng nói tự biểu
hiện, tự bộc lộ thế giới nội tâm đầy bí mật của mình nhƣng thế giới nội tâm
của nhân vật kịch không phải là thế giới tự đóng kịch trong bản thân. Lời của
nhân vật kịch là lời nói tác động tới các nhân vật khác trong một môi trƣờng
phải dựa vào một hệ thống sự kiện, biến cố đƣợc tổ chức thành cốt truyện.
Tuy cùng xây dựng cốt truyện để phản ánh đời sống theo nguyên tắc
khách quan, nhƣng từ trong bản chất, kịch và tự sự là hai loại tác phẩm có nội
dung thể loại rất khác nhau.
Kịch khác tác phẩm tự sự ở kịch tính. Kịch tính là đặc điểm nổi bật của
thể loại kịch. Không có xung đột, mâu thuẫn thì không có kịch tính. Kịch tính
bao giờ cũng đƣợc tạo thành bởi những hành động đối nghịch. Không phải
ngẫu nhiên, trong ngôn ngữ của nhiều nƣớc Châu Âu, chữ “Kịch” đều có
nguồn gốc từ tiếng HyLạp (drama) mà nghĩa của nó là hành động. Và hơn hai
nghìn năm nay, phạm trù “hành động” bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm
của các hệ thống lý thuyết kịch. Aristote gọi bi kịch là “Sự bắt chƣớc một
hành động quan trọng và hoàn chỉnh”. Hegel cho rằng kịch phải trình bày cho
21
chúng ta một biến cố, một kỳ công, một hành động, nhƣng nó phải tƣớc mất
tính chất bên ngoài của chúng và phải đƣa một cá nhân có ý thức và hành
động vào thay thế. Ông nói tiếp “Hành động là cái ý chí đƣợc thực hiện và
đây là một ý chí mà ngƣời ta biết nguồn gốc, điểm xuất phát bên trong cũng
nhƣ kết quả cuối cùng”.
Nhƣ vậy, hành động kịch bao giờ cũng bao hàm động cơ, mục đích,
mƣu đồ, do đó nó bão hòa nội dung tâm hồn, thể hiện khuynh hƣớng tính
cách và ý chí tự do của cá nhân con ngƣời. Làm nổi bật sức mạnh của hành
động thể hiện khuynh hƣớng tính cách và ý chí tự do của con ngƣời chính là
đặc trƣng thể hiện loại của tác phẩm kịch.
Có thể định nghĩa, kịch tính là trạng thái căng thẳng đặc biệt của mâu
thuẫn, xung đột, đƣợc tạo ra bởi những hành động thể hiện các khuynh hƣớng
tính cách và ý chí tự do của con ngƣời. Trong kịch, hành động bộc lộ ý chí tự
do của con ngƣời làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột gay gắt giữa cá
nhân và xã hội, giữa chủ thể với cái tất yếu, khách quan, thúc đẩy sự vận động
của hệ thống sự kiện, biến cố trong cốt truyện, mang lại kịch tính cho tác
lẹ, vì thế tác phẩm kịch không đƣợc phép mở rộng không gian, kéo dài thời
gian diễn biến của các sự kiện, biến cố.
Việc tôn trọng nguyên tắc về sự tập trung của cốt truyện đã chi phối
cách thức tổ chức bố cục của kịch bản văn học. Một vở kịch thƣờng đƣợc chia
thành ba hoặc năm hồi tƣơng ứng với ba giai đoạn vần động hết sức mau lẹ
của hành động kịch: thắt nút (trƣớc đó thƣờng có phần trình bày) - đỉnh điểm
- mở nút (có thể thêm phần vĩ thanh).
Không gian và thời gian
Thời gian và không gian nghệ thuật là hai yếu tố quan trọng của nghệ
thuật kết cấu. “Ngay từ buổi đầu ra đời, kịch đã vấp phải một mâu thuẫn vốn
có, đã giải quyết một vấn đề vốn có do chính bản thân đời sống và đặc trƣng
nghệ thuật kịch đặt ra là mâu thuẫn giữa tính vô hạn của đời sống và tính có
hạn của kịch, là vấn đề không gian và thời gian trong kịch. Giải quyết vấn đề
23
không gian, thời gian kịch, đó là vấn đề đeo đuổi của nghệ thuật kịch, nghệ
thuật sân khấu bao đời nay” [36, tr. 24]. Nếu nhƣ những vở kịch thời cổ đại
Hi Lạp, La Mã chịu sự quy định ngặt nghèo bởi luật “tam duy nhất” (địa điểm
duy nhất, hành động kịch duy nhất và gói gọn trong một ngày) thì đến thời kì
Phục hƣng luật “tam duy nhất” đã bƣớc đầu bị phá vỡ mà đại diện là trong
một số sáng tác của Shakespeare. Không gian, thời gian của văn bản kịch do
ảnh hƣởng về mặt bản chất của thể loại này nên cho dù có phá vỡ luật “tam
duy nhất” thì không gian, thời gian của nó cũng vẫn bị giới hạn. Không gian,
thời gian này thƣờng không đƣợc gợi ra với tính chất miêu tả trực tiếp nhƣ
nhiều tác phẩm tự sự, không gian và thời gian trong tác phẩm kịch thƣờng
đƣợc thể hiện thông qua lời chú thích ngắn gọn của tác giả hoặc đôi khi thông
qua ngôn ngữ của nhân vật hay nói nhƣ Corine Klicker đó là những mảng
không gian, thời gian đƣợc nói tới và đƣợc hƣớng tới. Có thể nói dù không
gian và thời gian trong kịch không đƣợc dành nhiều tâm huyết miêu tả nhƣ
trong truyện ngắn, tiểu thuyết nhƣng nó vẫn giữ một vai trò quan trọng.
dụng với mục đích giải thích cho khán giả biết về một cảnh ngộ, một tâm
trạng hay một điều bí mật nào đó để khán giả dễ theo dõi mạch cốt truyện.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bàng thoại là yếu tố thể hiện rõ nhất tính chất
diễn trò đầy ƣớc lệ của ngôn ngữ kịch.
Mặc dù có sự phân loại nhƣ trên nhƣng suy cho cùng ngôn ngữ kịch
cũng mang những đặc điểm chung không thể trộn lẫn:
- Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ có tính hành động. Hệ thống ngôn ngữ ấy
có nhiệm vụ mô tả chân dung nhân vật kịch bằng một loạt các thao tác hành
động, là cơ sở giúp cho đạo diễn, diễn viên xử lí thích hợp với hành động của
nhân vật trên sân khấu.
- Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời
sống: súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ.
- Ngôn ngữ kịch mang tính tổng hợp và phải phù hợp với tính cách
nhân vật.
25
- Trong kịch, thoại cũng là hành động đầy kịch tính. Kịch khai thác triệt
để chức năng hành động của lời nói, cho nên đây là đặc điểm thể hiện bản
chất thể loại của ngôn ngữ kịch. Chức năng hành động của lời nói bộc lộ đầy
đủ nhất trong lời đối thoại của các nhân vật. Trong đối thoại, muốn lời thoại
trở thành hành động có kịch tính, mỗi lời nói phải bộc lộ một mục đích, một
khuynh hƣớng ý chí. Triệt để khai thác chức năng hành động của lời thoại,
kịch văn học sử dụng ngôn ngữ nhƣ một phƣơng tiện hữu hiệu để khắc hoạ
tính cách. Tính cách nhân vật là một cấu trúc phức tạp. Trong tính cách vừa
có yếu tố thuộc tâm lý, tính cảm, tính khí, khí chất, vừa có yếu tố thuộc tƣ
tƣởng, quan niệm, vừa có yếu tố thuộc về cá tính cá nhân, vừa có yếu tố thuộc
về cái chung, cái xã hội.
Nói tóm lại, khi nói tới đặc trƣng của kịch bản văn học đặc biệt là đặc
trƣng của bi kịch ngƣời ta thƣờng nói tới các đặc trƣng về mặt nhân vật, kết
cấu (cốt truyện, không gian thời gian, xung đột, ngôn ngữ…). Khi phân tích
vƣơng chủ ân xá. Đƣợc sự giúp đỡ của vú nuôi Juliet, hai ngƣời đã gặp đƣợc
nhau, sáng sớm hôm sau đôi bên phải từ biệt trong mối dự cảm không lành.
Gia đình Capiulet đã ép Juliet lấy Parit một chàng thanh niên quý tộc họ hàng
nhà vƣơng chủ. Juliet buồn bã và tuyệt vọng đến nhờ cậy sự giúp đỡ của tu sĩ
Lôrân. Tu sĩ đã khuyên nàng cứ vờ nhận lời lấy Parit và cho nàng một lọ
thuốc ngủ có hiệu lực làm cho toàn thân nàng lạnh băng nhƣ chết trong 42
giờ. Trong khoảng thời gian đó, tu sĩ sẽ báo tin cho Romeo biết về đón nàng
đi. Nghe lời khuyên của tu sĩ, Juliet vờ nhận lời lấy Parit, cả gia đình Capiulet
mừng rỡ tổ chức lễ cƣới nhƣng đêm đó nàng đã uống thuốc ngủ và sớm hôm
sau, toàn thân nàng cứng đờ lạnh băng nhƣ đã chết. Gia đình Capiulet than
khóc và đem thi thể nàng đặt vào hầm mộ. Đúng nhƣ kế hoạch, Lôrân nhờ
bạn của mình là tu sĩ Jôn sang Mantua báo cho Romeo biết tin nhƣng vì nạn
dịch hạch hoành hành lá thƣ của Lôrân không đến tay Romeo. Romeo nghe
đƣợc tin Juliet đã chết từ ngƣời gia nhân báo tin, tuyệt vọng, chàng mua thuốc
độc rồi quay về định tự vẫn bên ngƣời yêu. Nửa đêm hôm đó, Romeo về đến