Dạy học văn bản tựa và văn bia trong sách giáo khoa ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại - Pdf 85

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÂM THỊ QUYÊN

DẠY - HỌC VĂN BẢN TỰA VÀVĂN BIA TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG HỮU BỘI

THÁI NGUYÊN – NĂM 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài. ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề: .............................................................................................. 1
3. Mục đích nghiên cứu: .................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu: ................................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:............................................................... 6
6. Phương pháp nghiên cứu:.............................................................................. 6
7. Cấu trúc luận văn: ......................................................................................... 6
Phần nội dung
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học văn bản thuộc thể
Tựa và thể Văn bia
1. Cơ sở lí luận: ................................................................................................ 7
1.1 Những điểm mới trong chương trình và SGK lần này (Từ năm học
2002 - 2003 đến năm học 2008 - 2009) .................................................. 7
1.1.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ............................... 7
1.1.2 Đổi mới chương trình và SGK ở bậc THPT ............................. 9

1.4. Thiết kế trong cuốn “Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10” do TS. Nguyễn
Hải Châu chủ biên. NXB Hà Nội, 2006. ................................................. 63
2.1. Phương án dạy học văn bản “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” trong
SGV Ngữ văn 10 ( bộ chuẩn). ................................................................. 69
2.2. Bài thiết kế hướng dẫn đọc thêm văn bản “Hiền tài là nguyên khí
quốc gia” trong cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10” do TS. Nguyễn
Văn Đường chủ biên . NXB Hà Nội, 2006. ............................................ 73
Chƣơng III: Thực nghiệm sƣ phạm
1. Thiết kế bài học thể loại Tựa và thể loại Văn bia. ..................................... 80
1.1 Thiết kế bài học Tựa “ Trích diễm thi tập”. ..................................... 80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.2. Thiết kế bài dạy học Hiền tài là nguyên khí quốc gia. ..................... 87
2. Thực nghiệm sư phạm ................................................................................. 92
2.1. Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm. .................................. 92
2.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ................................................... 92
2.3. Phương pháp tiến hành thực nghiệm. .............................................. 93
2.4. Nội dung thực nghiệm. ..................................................................... 94
2.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm. ........................................................ 95
2.6. Kết luận chung về thực nghiệm ........................................................ 98
Phần kết luận

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
học về nó chưa nhiều; ta chỉ có thể nói tới một số bài viết trong các cuốn sách
tham khảo cho GV và HS được xuất bản gần đây:
2.1. Sách phân tích , bình giảng gồm các bài:

Bài phân tích văn bản Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức
Lương và phân tích văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân
Trung trong cuốn Phân tích tác phẩm Ngữ Văn 10 do Trần Nho Thìn làm
chủ biên.
Với văn bản Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương, tác giả
bài viết khẳng định tầm quan trọng của việc tìm hiểu văn bản Tựa: “Ngày
nay, để nghiên cứu văn học trung đại, những bài tựa, bài bạt là nguồn tư liệu
quan trọng giúp chúng ta hiểu sâu hơn, đúng hơn các sáng tác văn học”.
Đến phần phân tích, tác giả tập trung làm rõ: Tính chất nghị luận của
bài Tựa và giá trị văn học của nó.
Với văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia, tác giả đã cung cấp cho
người đọc một số tri thức xung quanh các hình thức tuyển chọn và khích lệ
nhân tài do nhà nước phong kiến triều Lê đặt ra, trong đó việc lập bia đá là
một trong những biện pháp cần thiết để khích lệ, cổ vũ nhân tài. Đồng thời,
tác giả phân tích rõ đặc trưng, chức năng và nghệ thuật của văn bản.
Đây là nhưng tri thức quan trọng, có vai trò hỗ trợ học sinh khi tiếp nhận hai
loại văn bản trên.
2.2. Sách thiết kế dạy học gồm có:
- Sách giáo viên Ngữ Văn 10 chương trình chuẩn: Hướng dẫn dạy học
văn bản Tựa “Trích diểm thi tập”của Hoàng Đức Lương. Nội dung của bài
dạy văn bản này là tập trung làm rõ hai đơn vị kiến thức:
- Các nguyên nhân khiến cho thơ ca Việt Nam thời kì trung đại trước
thế kỉ 15 không được truyền lại đầy đủ. Qua đó, học sinh hiểu thêm những
3


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
I- Tiếp cận văn bản qua các thông tin liên quan tới tác giả và tác phẩm.
II - Học văn bản: Đọc, tìm hiểu bố cục, phân tích chi tiết văn bản.
III - Khái quát lại; củng cố kiến thức.
Cuốn Thiết kế dạy học Ngữ Văn 10 của TS Hoàng Hữu Bội, theo tác
giả việc dạy học văn bản Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương
cần làm rõ các nội dung sau:
- Đặc điểm của thể Tựa nói chung và văn bản Tựa “Trích diễm thi
tập” của Hoàng Đức Lương nói riêng.
- Những nét chính về tác giả Hoàng Đức Lương.
- Cấu trúc của văn bản.
- Hiểu ý kiến, tình cảm của tác giả ở từng vấn đề, và nghệ thuật lập luận
ở từng phần sau khi nhìn tổng quát toàn văn bản.
Bài học được dẫn dắt theo các bước sau:
Bước 1- Tiếp xúc bước đầu với tác phẩm.
Bước 2- Xem xét từng phần nội dung và hình thức của văn bản.
Bước 3- Khơi gợi học sinh trao đổi về những vấn đề được tác giả đặt ra
trong tác phẩm.
Công việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận văn bản Hiền tài là nguyên
khí quốc gia của Thân Nhân Trung cũng được dẫn dắt cụ thể theo các bước:
Bước 1- Tiếp xúc bước đầu với văn bản. Nội dung cụ thể là cho học
sinh đọc văn bản và giải thích từ khó; giới thiệu đôi nét về tác giả và tác
phẩm.
Bước 2- Tìm hiểu chi tiết về văn bản:
- Cấu trúc văn bản.
- Nội dung của văn bản bao gồm:
+ “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”
+ Chính sách trọng đãi người tài của triều đại Lê Thánh Tông.
5


6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.3. Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm phương án đề xuất nâng
cao hiệu quả giờ dạy của luận văn.
5. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn này là hoạt động dạy-
học của thầy- trò về hai văn bản:
- Tựa “ Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương.
- Hiền tài là nguyên khí quốc gia của Thân Nhân Trung.
Cụ thể là về nội dung bài dạy, tiến trình giờ dạy, cơ chế hoạt động của
thầy- trò trong giờ dạy học, hiệu quả giờ dạy học.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Dựa trên trình tự tiếp cận đối tượng, người nghiên cứu sử dụng hai
nhóm phương pháp chính
6.1. Nhóm nghiên cứu lí thuyết:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên nghành, liên
nghành.
- Hệ thống hóa các kiến thức có liên quan tới đề tài.
6.2. Nhóm nghiên cứu thực tiễn:
- Khảo sát thực tiễn dạy học Tựa và Văn bia ở lớp 10.
- Xây dựng thiết kế và tiến hành thực nghiệm sư phạm hai văn bản:
Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương và Hiền tài là nguyên khí
quốc gia của Thân Nhân Trung.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm
ba chương:

này chỉ tập trung vào việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (từ tiểu
8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
học qua THCS đến THPT). Tuy nhiên, cần hiểu chương trình theo nghĩa rộng
như Luật định: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục,
cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi
cấp học của giáo dục phổ thông” (Điều 29, mục II - Luật giáo dục - 2005).
Như vậy đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới từ
mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá
chất lượng giáo dục , kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình, từ quan
niệm cho đến quy trình kĩ thuật và đổi mới những hoạt động quản lí cả quá
trình này. Chương trình giáo dục Trung học phổ thông (THPT) là một bộ
phận của chương trình trên, vì vậy khi tiến hành đổi mới phải tuân theo các
định hướng, đảm bảo các nguyên tắc,, thực hiện các yêu cầu như đối với các
chương trình các bậc học trên cơ sở quán triệt những đặc điểm của cấp học,
của trường THPT.
• Một trong những nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục và SGK phổ
thông lần này là:
- Chương trình không chỉ nêu nội dung và thời lượng dạy học mà thực sự
là một kế hoạch hành động sư phạm, kết nối mục tiêu giáo dục với các lĩnh
vực nội dung và phương pháp giáo dục, phương tiện dạy học và cách thức
đánh giá kết quả học tập của học sinh, đảm bảo sự phát triển liên tục giữa các
bậc học, cấp học, đảm bảo tính liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo
dục chuyên nghiệp.
- SGK không đơn giản là tài liệu thông báo các kiến thức có sẵn mà là tài
liệu giúp học sinh tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề chiếm lĩnh và vận
dụng kiến thức mới một cách linh hoạt, chủ động và sáng tạo.
Chương trình và SGK được thể chế hóa theo luật giáo dục và được
quản lí chỉ đạo theo yêu cầu cụ thể của giai đoạn phát triển mới của đất nước,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
gợi ý cần thiết về phương pháp , phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết
quả môn học của học sinh.
Chương trình tự chọn: Bao gồm hệ thống các chủ đề tự chọn, cung cấp
cho học sinh những cơ hội để củng cố, luyện tập kiến thức, kĩ năng có trong
chương trình các môn học hoặc mở rộng, nâng cao, đáp ứng nhu cầu của học
sinh.
* Đổi mới SGK các môn ở THPT:
Quá trình dạy học trong nhà trường thì SGK luôn giữ vai trò là : Tài
liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp giáo dục của từng môn
học trong chương trình giáo dục. Vì thế chương trình giáo dục phổ thông lần
đổi mới này đòi hỏi quá trình biên soạn SGK THPT cần phải đáp ứng được
các yêu cầu đổi mới của chương trình. Các yêu cầu được đặt ra là:
Bám sát chương trình môn học.
Đảm bảo tính kế thừa trong quá trình biên soạn.
Dựa trên cơ sở lí luận về SGK có có lưu ý tới xu thế tiên tiến trên thế
giới trong lĩnh vực này.
Đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Việt
Nam.
Đảm bảo tính liên môn.
Tạo điều kiện trực tiếp giúp học sinh tiếp tục nâng cao năng lực tự học
và đổi mới phương pháp dạy học.
Đảm bảo yêu cầu phân hóa.
Đảm bảo những yêu cầu về văn phong đặc trưng của SGK mỗi môn học.
Chú ý tới đặc điểm lứa tuổi học sinh và điều kiện dạy học cụ thể của
cấp THPT.
11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Cụ thể về nội dung và hình thức SGK THPT có những điểm mới cơ bản sau:

đó là phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh (HS) gọi tắt là
phương pháp dạy học tích cực.
Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là:
- Dạy học thông qua các tổ chức học tập của học sinh.
- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.1.3. Đổi mới dạy học môn Ngữ văn ở THPT

• Điểm mới của chương trình Ngữ văn THPT
Chương trình Ngữ văn THPT lần này có sự thay đổi lớn về nội dung và
phương pháp. Cụ thể những điểm đổi mới đó là:
1) Ngữ văn được coi là bộ môn có tính chất công cụ: HS học môn Ngữ
văn không những được trang bị những kiến thức văn học mà còn được rèn
luyện kĩ năng sử dụng thành thạo phương tiện giao tiếp – ngôn ngữ.
2) Có sự chuyển đổi nội hàm văn học trong nhà trường: Không chỉ dạy
các văn bản nghệ thuật mà còn có các văn bản nghị luận.
3) Chương trình quy định kĩ năng đọc- hiểu văn bản cho HS.
4) Gọi những tác phẩm hay những đoạn trích văn học là văn bản.
5) Chương trình được sắp xếp theo cụm thể loại trong tiến trình lịch sử
văn học. Để rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại. Bài học tác
gia thường đặt sau các văn bản của tác gia đó để HS quy nạp, nâng cao kiến
thức về tác gia.
6) Phần Tiếng Việt chủ yếu học về phong cách ngôn ngữ để hỗ trợ cho
việc làm văn...
7) Phần Làm văn không còn khái niệm kiểu bài mà dùng khái niệm

và tiếp nhận tri thức. Tuy nhiên, quá trình đọc hiểu của HS ở THPT không
chỉ là HS làm việc với văn bản để hình thành kiến thức rồi GV khái quát lại
thành mục Ghi nhớ như ở cấp THCS mà đòi hỏi ở mức độ cao hơn là HS tích
cực tích lũy kiến thức, quan niệm, ấn tượng và khái quát ban đầu về văn học
nghệ thuật, cho nên yêu cầu vận dụng các khái niệm lí luận văn học và lịch sử
15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
văn học nhiều hơn để HS có cách tiếp cận văn học một cách có lí luận, biết
phân tích lí giải văn bản văn học một cách có ý thức và có phương pháp.
Nghĩa là phương pháp dạy học ở bậc THPT là tăng cường hoạt động đọc -
hiểu có ý thức, có lí luận.
• Điểm mới trong chương trình Văn học trung đại Việt Nam.
Văn học trung đại Việt Nam chiếm đa phần thời lượng chương trình
Ngữ văn lớp 10. Vì thế ở lần đổi mới này, bộ phận văn học trung đại có
những điểm mới như sau:
Các văn bản học chính thức và đọc thêm gồm 7 loại thể chính: Thơ trữ
tình, phú, ngâm khúc, nghị luận, truyện chữ Hán và truyện chữ Nôm. So với
chương trình cũ thì chương trình Ngữ văn lần này ở phần văn học trung đại có
thêm một số thể loại như: Tựa, Văn bia, Bình sử (trong loại nghị luận); Sử kí
(trong loại tự sự). Và có những văn bản mới được lựa chọn vào thay thế văn
bản có trong SGK Văn học cũ.
Cụ thể, Văn học trung đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn mới
gồm những văn bản sau:
- Thơ trữ tình: “Thuật Hoài” (Phạm Ngũ Lão), “Cảm Hoài” (Đặng
Dung), “Bảo kính cảnh giới” số 43 (Nguyễn Trãi), “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh
Khiêm), “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du), “Quốc Tộ” (Đỗ Pháp Thuận),
“Cáo tật thị chúng”
(Mãn Giác), “ Quy hứng” (Nguyễn Trung Ngạn).
- Phú : “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “Hàn Nho phong vị

Tựa là bài văn thường đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội họa,
âm nhạc... nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết
cấu tác phẩm ấy. Bài Tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì
yêu quý, mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài Tựa thường ghi họ tên, chức
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài Tựa. Người ta gọi phần
này là Lạc khoản.
Văn của thể Tựa thường có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với
nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.
Cuốn Ngữ văn Hán Nôm do GS Lê Trí Viễn chủ biên Có ghi: Trong
tiếng việt Tự được gọi là Tựa...Là những bài viết đặt ở đầu cuốn sách, có khi
cũng là của tác giả nhưng thường là của người khác, một người có uy tín
trong lĩnh vực nội dung cuốn sách...có khi một cuốn sách có nhiều Tự, mỗi
lần tái bản một bài Tự, sách in một lần mấy bài Tự, có bài tự trước, bài tự
sau, tự thứ nhất, tự thứ nhì...
Tự nhằm giới thiệu cuốn sách cho độc giả. Nó nói lên cái độc đáo nhất
của tác phẩm tức phần có ý nghĩa đóng góp nhất của tác giả: Về nguồn gốc
của vấn đề nội dung tác phẩm đặt ra, về bản thân của tác giả, về vị trí của
vấn đề đó trong lĩnh vực khoa học, văn học, về bản thân nội dung của tác
phẩm, những giá trị của nó về tư tưởng nghệ thuật. Nó cũng có thể nêu lên ý
kiến, quan niệm của người đề tựa về vấn đề tác phẩm đề cập tới, những cảm
nghĩ của người đó với tư cách là người thưởng thức, về cái hay cái đẹp của
tác phẩm, cái tài của tác giả...
Trong cuốn Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam , GS
Trần Đình Sử có viết: Đây là thể văn viết đặt ở đầu các tác phẩm thơ văn
nhằm thuyết minh cho việc trước thuật, ý đồ xuất bản, thể lệ biên soạn hoặc
tình hình tác giả. Tựa có thể bao gồm cả lời bình đối với tác phẩm hoặc bổ
sung thêm các vấn đề, chi tiết hữu quan.

1.2.2 Đặc trƣng thể loại của Tựa
• Đặc trưng về chỗ đứng:
19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Tựa là bài văn thường được đặt ở đầu các cuốn sách (văn học, sử học,
địa lí, hội họa, âm nhạc...); có thể do tác giả cuốn sách viết hoặc có thể do ai
đó vì yêu quý, mến mộ tác phẩm.
• Đặc trưng về nội dung:
Đây là bài viết giới thiệu về cuốn sách. Người viết thường nói về:
- Mục đích, lí do viết cuốn sách
- Nội dung và kết cấu của cuốn sách
- Quá trình hình thành cuốn sách
- Tư tưởng, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm, giãi bày
• Đặc trưng về hình thức
Tựa là trình bày ý kiến trực tiếp của mình nên các tác giả thường dùng
lối văn nghị luận, đồng thời kết hợp với tự sự và trữ tình để bộc lộ tư tưởng,
tình cảm của mình.
Do vậy mà dạy và học văn bản tựa “ Trích diễm thi tập” trước hết phải
chú ý đến những điều được trình bày trong văn bản:
- ý kiến của người viết Tựa ( hệ thống luận điểm và cách lập luận).
+ Lí do khiến tác giả biên soạn cuốn sách
+ Quá trình sưu tầm, biên soạn cuốn sách
- Tư tưởng, tình cảm mà người viết Tựa bày tỏ (Tiếng lòng của tác giả)
Sau đó đi sâu vào hình tượng tác giả ẩn chìm sau văn bản: Tác giả là
người đang xót xa, thương tiếc cho di sản văn thơ của ông cha bị thất lạc, lại
có cả niềm tự hào và ý thức, trách nhiệm đối với việc bảo tồn văn hóa của tiền
nhân.

1.3 Đặc trƣng thể loại của văn bản Văn Bia

dựng bia đá trên núi cao để khắc ghi công lao cho nên được gọi là bia. Thể

Trích đoạn Giờ học Hiền tài là nguyên khí quốc gia Về mục tiêu bài học Về nội dung bài học Về hoạt động dạy học Thiết kế trong cuốn “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10” do TS Nguyễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status