skkn vận DỤNG hệ THỐNG câu hỏi vào VIỆC dạy học TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI - Pdf 37

VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀO VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI.

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trước xu hướng đổi mới của nền giáo dục hiện đại trên thế giới có thể thấy, chưa
bao giờ nền giáo dục và đào tạo ở nước ta đứng trước thử thách to lớn như hiện nay,
nhất là khi nó được xem như một khâu của quá trình sản xuất, là bộ phận chủ yếu của
nền kinh tế tri thức. Những nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng về văn
hóa giáo dục qua các nhiệm kì đã cho thấy nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục là
đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước ở kỉ nguyên mới. Đó là những con
người có đủ trí tuệ và nhân cách, luôn năng động, sáng tạo, làm chủ bản thân và làm
chủ xã hội. Bộ môn văn trong nhà trường, với tư cách vừa là bộ môn nghệ thuật vừa
là một môn học nên nó cũng sẻ chia sứ mệnh đầy khó khăn và vẻ vang. Đồng chí
Phạm Văn Đồng cho rằng dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, là rèn luyện
bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi những
phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình.
Gần đây, trong xu hướng phát triển của quan điểm dạy học hiện đại, tích cực, vai
trò chủ thể của người học được đề cao, học sinh được xem là “nhân vật trung tâm”
của giờ học. Đối với quá trình dạy học văn, học sinh chính là chủ thể cảm thụ nghệ
thuật. Với quan niệm như vậy, các nhà lí luận, các nhà phương pháp cũng như đội ngũ
những người làm công tác sư phạm luôn nỗ lực để tìm ra phương pháp, biện pháp tối
ưu nhằm tích cực hóa hoạt động phân tích, cảm thụ nghệ thuật của học sinh. Cùng với
một số phương pháp dạy học đã được đề xuất thì một vấn đề cần đặt quan tâm lên
hàng đầu đó là xác định mối quan hệ giữa thầy và trò trên lớp, mối quan hệ ấy được
biểu hiện trực tiếp qua hệ thống câu hỏi do thầy đưa ra. Cách đặt câu hỏi, nội dung và
việc sử dụng câu hỏi như thế nào trong giờ học văn không chỉ cho thấy bản lĩnh, trình
độ, tác phong sư phạm của người đứng lớp mà nó còn thể hiện phẩm chất nghệ sĩ của
1




Đưa ra các câu hỏi cho giờ dạy học văn từ lâu đã là mối quan tâm của các nhà sư
phạm lớn trên thế giới. Mặc dù nó chưa trở thành một chuyên đề riêng biệt nhưng qua
các hội nghị bàn về cải tiến phương pháp dạy học văn thì vấn đề này đã được các nhà
sư phạm ở Anh, Pháp, Mỹ, Nga (Liên Xô),Ý, Bungari, BaLan...đề cập.
Ở Việt Nam, vấn đề câu hỏi trong giờ học văn cũng đã được chú ý, nó từng được
đúc kết và tìm hiểu qua công trình nghiên cứu của một số tác giả và có đóng góp đáng
ghi nhận vào kho kinh nghiệm của dạy học văn. Chẳng hạn như các tài liệu được phổ
biến từ các hội nghị chuyên đề về dạy học giảng văn trước đây ở miền Bắc, các kinh
nghiệm được đăng tải của một số giáo viên phổ thông về hệ thống câu hỏi. Đến những
thập niên gần đây, quan niệm về môn văn và công việc dạy học văn có những thay
đổi. Môn văn vừa là môn học trong nhà trường vừa là bộ môn nghệ thuật, dạy văn
không chỉ là cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng một cách hệ thống, bài bản, khoa
học mà còn phải khơi dậy, hướng người học đến những rung động, xúc cảm thẩm mĩ.
Đối với vai trò học sinh cũng vậy, từ chỗ được xem như đối tượng tiếp thu kiến thức
một cách thụ động, áp đặt một chiều tới chỗ được nhìn nhận như một chủ thể có năng
lực văn học và cảm xúc riêng, người ta bắt đầu chú ý tới những đặc điểm tâm lí của
học sinh trong cảm thụ nghệ thuật, đặc biệt là sự say mê, hứng thú, khả năng tự ý
thức, đánh giá và thái độ tích cực tự giác tiếp nhận tác phẩm ở các em. Quan niệm
mới này dẫn đến những chuyển biến tích cực trong phương pháp dạy học văn, nổi lên
là việc xây dựng hệ thống câu hỏi cho giờ lên lớp. Câu hỏi nên hướng vào nội dung
hay hình thức nghệ thuật, hoặc hướng đến xúc cảm, tình cảm của người học? Câu hỏi
thuộc loại nào? Loại ghi nhớ, tái hiện, loại hiểu biết, loại xúc cảm hay đánh giá, nhận
xét?..Đó là những vấn đề được tiếp tục trao đổi qua các tài liệu biên soạn, qua các hội
nghị chuyên đề về đổi mới dạy học văn trong thời gian qua.
Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, tập 1 do Giáo sư Phan Trọng Luận
chủ biên, ở phần phân tích nêu vấn đề, tác giả có nêu quan niệm về đặt câu hỏi nêu
vấn đề như thế nào. Xuất phát từ cơ sở tâm lý học, tác giả đã phê phán loại câu hỏi tái

3

và chiếm lĩnh cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học.
4


2.2. Yêu cầu đối với GV
- Xác định loại thể của tác phẩm: trữ tình, tự sự, kịch
- Xác định trọng tâm bài học
- Xác định đối tượng học sinh để xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp.
- Mục đích giáo dục tư tưởng, tình cảm.
2.3 . Hệ thống câu hỏi khi dạy học tác phẩm văn chương
Thông thường trong một tiết học văn, chúng ta bố trí khoảng 10 –> 15 câu hỏi.
Trong hệ thống câu hỏi ấy, chúng không phải hoàn toàn giống nhau mà có những
chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Căn cứ vào mục đích, chức năng kích thích, phát huy
năng lực đọc - hiểu, cảm thụ văn học ở học sinh, có thể phân chia hệ thống câu hỏi ấy
thành 3 loại: câu hỏi hiểu biết, câu hỏi hình dung tưởng tượng và câu hỏi cảm xúc.
Tùy theo nội dung từng bài học, đối tượng học sinh, các tình huống sư phạm mà giáo
viên có sự sắp xếp, lựa chọn và phân phối các câu hỏi này một cách hợp lí trong từng
tiết học.
2. 3.1. Hệ thống câu hỏi hiểu biết
Đây là hệ thống câu hỏi nhằm kiểm tra mức độ hiểu biết tác phẩm của người học.
Chúng ta có thể chia làm hai loại câu hỏi: loại câu hỏi hiểu biết về nội dung và loại
câu hỏi hiểu biết về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học.
- Hệ thống câu hỏi hiểu biết về nội dung tác phẩm văn học:
+ Cấp độ đơn giản nhất, dễ nhất là kể lại, tả lại được. Chẳng hạn như tóm tắt lại cốt
truyện, kể lại một tình huống truyện, đọc thuộc lòng một đoạn hoặc một bài thơ nào
đó. Đưa ra câu hỏi loại này thực chất là nhằm kiểm tra khả năng ghi nhớ của người
học, thường chỉ thích hợp với học sinh nhỏ. Đối với học sinh lớn, ta nên có sự hạn chế
khi sử dụng loại câu hỏi này.
+ Cấp độ cao hơn một chút của sự hiểu biết về nội dung của tác phẩm văn học là đòi
hỏi người học phải có khả năng phân tích, lí giải được vấn đề. Các câu hỏi dạng:

các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm mà ở đây chỉ cần tập trung vào những chi tiết
nghệ thuật được xem là đặc sắc nhất, nổi bật nhất của tác phẩm hoặc những cấu trúc
độc đáo của tác phẩm…
6


Nhận xét về hình thức của câu thơ cuối trong bài “ Cảnh ngày hè” Tác dụng của nó
trong việc bộc lộ tình cảm của tác giả?
Tác dụng của câu thơ toàn thanh bằng “ Nhà ai Pha luông mưa xa khơi” trong đoạn
1 của bài thơ Tây Tiến?
Để trả lời cho những câu hỏi này, người học phải đọc kỹ, phân tích, suy nghĩ có sự
liên tưởng, so sánh các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, cấu trúc độc đáo trong mối tương
quan hệ thống, từ đó tìm ra ý nghĩa của chúng, chúng có vai trò, tác dụng như thế nào
trong việc thể hiện tư tưởng, bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Tất nhiên, những
ý kiến này của học sinh bước đầu không tránh khỏi trường hợp ít nhiều có tính chủ
quan, suy diễn cá nhân. Khi đưa các câu hỏi loại này, giáo viên nên có sự tính toán và
cân nhắc định hướng, đặc biệt là phải xuất phát từ đặc trưng loại thể và đặc điểm tâm
lí học sinh .
2.3.2. Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng
Trong cấu trúc năng lực văn học của học sinh, tưởng tượng là một trong những
khả năng quan trọng hàng đầu. Thiếu năng lực tưởng tượng thì ở người học không có
quá trình cảm thụ văn học. Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, tưởng tượng luôn gắn liền
với xúc cảm, tình cảm. Người đọc sẽ đi từ vỏ ngôn ngữ của tác phẩm để nhận ra thế
giới nghệ thuật do tác giả dựng lên trong tác phẩm đó. Muốn cho thế giới nghệ thuật
ấy hiện hình, người học phải biết huy động khả năng tái hiện bằng hoạt động tưởng
tượng. Ở lứa tuổi học sinh phổ thông trung học, trí tưởng tượng của các em rất phong
phú, vì vậy, người thầy phải tìm mọi cách để kích thích vào trí tưởng tượng ấy, làm
thế nào để thông qua tưởng tượng tái hiện, thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện lên
với nhiều bức tranh cuộc sống, nhiều con người khác nhau về diện mạo, tính cách.
Theo TS Nguyễn Viết Chữ: “Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng là hệ thống

hướng theo cái chủ quan của người học. Trong phương pháp dạy học hiện đại, người
thầy càng phải quan tâm đến việc phát triển trí tưởng tượng của học sinh. Nói như
một nhà sư phạm của chúng ta “chỉ có thể bắt đầu giờ giảng văn khi ít nhất trong đầu
óc học sinh đã dựng dậy được thế giới nghệ thuật của tác phẩm”.
2.3.3. Hệ thống câu hỏi cảm xúc
8


Cảm xúc được hiểu là những trạng thái, rung động có tính trực giác ở người
học do sự tác động của các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm
mang lại. Các yếu tố nội dung bao gồm các nhân vật, sự kiện, biến cố, tình huống
được gợi lên trong tác phẩm. Đó là những bi kịch của xã hội và số phận con người có
sức lay động mạnh mẽ đến tâm hồn của người học. Các yếu tố hình thức nghệ thuật
tác phẩm có thể là một kiểu kết cấu, cốt truyện, cách xây dựng nhân vật, lối miêu tả
diễn biến tâm trạng, ngữ điệu, nhạc tính trong thơ… Sau khi đọc xong tác phẩm, ở
người đọc có thể dâng lên những cảm xúc khác nhau, như yêu thương, căm phẫn,
thông cảm, chê bai, vui sướng, đau buồn…Câu hỏi cảm xúc là loại câu hỏi giúp
người dạy tìm và phát hiện ra những phản ứng trực giác này ở người học.
Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc tác phẩm cũng bằng
hình ảnh của rừng xà nu bạt ngàn, xa tít đến cuối chân trời. Kết cấu truyện kiểu ấy có
tạo ở anh (chi) ấn tượng gì không?
Nhan đề bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” gợi cho em suy nghĩ gì?
Trong dạy học truyền thống, khi mà cái chủ thể của người học chưa thực sự
được quan tâm thì hầu như loại câu hỏi cảm xúc này ít được chú ý vận dụng. Mặc dù
chưa phát triển thành những tình cảm thẩm mĩ sâu sắc, được định hướng đúng đắn
qua quá trình đọc - hiểu và phân tích dưới sự dẫn dắt của giáo viên nhưng những ấn
tượng ban đầu của các em về tác phẩm là những phản ứng tình cảm rất chân thật, hồn
nhiên, phát hiện ra những rung động ấy sẽ giúp người dạy thấy rõ hơn về đối tượng
học sinh của mình, từ đó có những biện pháp giảng dạy hợp lí.
3. Vận dụng hệ thống câu hỏi vào dạy học truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng

mà chỉ nhằm vào điều nhà văn lột tả về “những điều trông thấy” qua bút pháp tả thực
mà quên đi những nỗi niềm cảm xúc, những rung động về tình người, tình đời thì rõ
ràng chưa nhìn thấy hết “nỗi đau nhân tình” chất chứa trong lòng nhà thơ, chưa nắm
bắt trúng giá trị nghệ thuật thể hiện qua tác phẩm. Đó là chưa kể tới những tình huống
éo le đầy chất kịch cuộc đời mà tác giả đã tái hiện một cách sống động, sắc sảo. Khi
dạy học “Mảnh trăng cuối rừng” chúng ta cũng gặp những cảnh huống tương tự. Câu
chuyện kể của người lính lái xe đưa người đọc trở về những đêm hành quân gian khổ
10


với lí tưởng xả thân của những nam nữ thanh niên trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc. Nhưng cũng qua tình huống khốc liệt của chiến tranh, chúng ta thấy hiện lên
câu chuyện tình lãng mạn của người lính lái xe và cô thanh niên xung phong trên
chuyến xe xông trận giữa cảnh rừng đại ngàn với mảnh trăng chênh vênh đượm một
vẻ trong sáng, đầy chất thơ. Ánh trăng và tính đa nghĩa của hình tượng trăng vốn là
đặc trưng của bút pháp trữ tình. Câu chuyện cũng tạo những cảm xúc hồi hộp khi tác
giả đưa người đọc gặp những tình huống xảy ra đầy “kịch tính”. Như vậy, người đọc
dễ nhận ra điểm khác biệt giữa tác phẩm tự sự thuần tuý với tác phẩm tự sự mang yếu
tố trữ tình. Cho nên, về phương diện cấu trúc nội dung của tác phẩm văn học thì
“loại” là chất mà “ thể ” là hình thức biểu hiện cụ thể của “loại ”, không có “thể” thì
“loại” không biểu hiện ra được. Nhưng khi đã biểu hiện thành “thể ” thì “thể ” vẫn có
tính độc lập tương đối của nó. “Điều quan trọng là chúng ta thường xuyên tỉnh táo với
ba loại tính chất ở từng tác phẩm. Vì chính “tính chất loại thể” ấy mới làm ra diện
mạo tinh thần của tác phẩm”.
Nắm vững kiến thức về loại thể là một yêu cầu quan trọng của quá trình nghiên
cứu giảng dạy tác phẩm văn chương. Gần đây, trước yêu cầu đổi mới tư duy lí luận,
nhờ tiếp cận với những thành tựu của khoa lí luận văn học hiện đại trên thế giới,
chúng ta đã có sự chú ý đúng mức tới hiện tượng loại thể của tác phẩm văn chương.
Nhờ đó, trong dạy học văn, việc tìm hiểu, nắm bắt kiến thức về đặc trưng loại thể đã
mang đến những chuyển động tích cực tới việc đổi mới phương pháp dạy học văn.

giả không cần phải tìm hiểu thêm,… Còn truyện ngắn hiện đại có rất nhiều thay đổi
về nhân vật, vai trò của người kể chuyện, cơ cấu giọng điệu, không gian và thời gian,
cốt truyện không phải là vấn đề then chốt, nhiều khi lại là truyện không có chuyện.
Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ tập trung vào những vấn đề được coi là đặc
trưng chủ yếu của truyện ngắn hiện đại trong phản ánh hiện thực cuộc sống như:
dung lượng, kết cấu, cách xây dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, người kể chuyện,
phương thức trần thuật và giọng điệu, tình huống truyện…
3.2.2. Đặc trưng thi pháp truyện ngắn
 Dung lượng và kết cấu
12


Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ. Do tính chất ngắn của thể loại mà truyện
ngắn thường không có nhiều tuyến nhân vật, không bao quát cả một đời người,không
có quá nhiều sự kiện. Tuy vậy, truyện ngắn hiện đại có nhiều thay đổi . Nhà văn có
thể chỉ đi vào một lát cắt cuộc đời nhân vật, cũng có thể viết về cả đời người ( Phiên
chợ Giát của Nguyễn Minh Châu là cả một đời người nông dân nhọc nhằn, đầy biến
động).
Về kết cấu truyện ngắn hiện đại không theo trật tự thời gian sự kiện mà theo trục
thời gian tâm trạng. Nhiều truyện ngắn bắt đầu từ đoạn giữa hay đoạn cuối, vận dụng
hồi ức, độc thoại, vận dụng các hình thức ghép nối tạo hiệu quả cao.
 Nhân vật
Về nhân vật, truyện ngắn cũng như các loại truyện khác bao giờ cũng có nhân vật.
Nhưng nếu tiểu thuyết chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của
nó thì truyện ngắn thường khắc họa một hiện tượng, phác họa một nét bản chất trong
quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Do đó trong truyện ngắn
thường có ít nhân vật, ít sự kiện. Nhân vật trong truyện ngắn thường được nhà văn
giới thiệu qua một giai đoạn nhất định trong toàn bộ dòng sống của nhân vật, của đời
người. Nhân vật được đưa vào truyện ngắn là những nhân vật rất tiêu biểu trong số
các nhân vật, nó nêu bật được nội dung, tư tưởng của tác phẩm và truyền đạt được

thấy, thường các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi xây dựng cốt truyện
là chi tiết và đoạn kết.
Xây dựng cốt truyện của truyện ngắn đối với nhà văn đó là một nghệ thuật, nó đòi
hỏi sự sáng tạo không ngừng. Do dung lượng của một tác phẩm không nhiều, không
gian bị co hẹp, thời gian bị rút ngắn ở mức có thể, chính vì vậy cốt truyện không cần
dài dòng, phức tạp. Đôi khi, với một cốt truyện đơn giản nhưng bằng nghệ thuật sáng
tạo của nhà văn, nó lại có sức khái quát lớn, có khả năng phản ánh sâu sắc những biến
động của hiện thực và diễn tả tinh tế chiều sâu tâm lý con người. Chẳng hạn, câu
chuyện xoay quanh một chuyến đi, một sự gặp gỡ tình cờ, một tình huống xung đột,
thậm chí là một khía cạnh hết sức đời thường,…

14


Truyện ngắn hiện đại có nhiều xu hướng xây dựng cốt truyện khác nhau. Có
truyện thiên về cốt truyện sự kiện với những tình huống kịch tính bất ngờ, với cách
thắt nút, gỡ nút tạo diễn biến cho mạch truyện ( truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng). Có truyện ngắn thiên về tâm trạng, nhà văn lược giản hành động
bên ngoài, thiên về hành động bên trong của nhân vật. Đây là những truyện ngắn
không có cốt truyện đặc biệt, chất truyện nhạt, khó tóm tắt, khó kể( trước 1945 có
truyện ngắn của Thạch Lam, Nam Cao, sau 1945 có truyện ngắn của Đỗ Chu, sau
1975 xuất hiện phổ biến dạng truyện ngắn này, trong đó có truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu.
 Nghệ thuật trần thuật
Nghệ thuật trần thuật là một trong những bình diện cơ bản của loại tự sự. Tự sự là
kể lại một câu chuyện có diễn biến, có nhân vật, có sự kiện. Vì vậy, trong tự sự nghệ
thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
Ở truyện ngắn, người kể chuyện thường đứng ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba. Ở
ngôi thứ nhất, truyện như một tự truyện, người kể đồng nhất với nhân vật, tự kể về
mình và những người xung quanh, vì thế mà giọng kể thâm trầm, nội dung kể cũng

ly kì, gay cấn, kể được. Truyện cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được,
nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết, nó sẽ như nước lã.”
Trong tác phẩm có nhiều chi tiết nghệ thuật nhưng không phải tất cả các chi tiết
đều có giá trị ngang nhau, và việc tạo ra được các chi tiết có giá trị nghệ thuật cao,
không phải là dễ. Chi tiết tiêu biểu là những chi tiết nếu lược bỏ đi thì nhân vật trở
nên mờ nhạt, vô hồn, cốt truyện không tiếp tục được. Chẳng hạn, chi tiết “bát cháo
hành” trong Chí Phèo, qua ngòi bút của Nam Cao không còn là bát cháo bình thường.
Với Chí Phèo, nó còn mang hương vị của tình yêu thương, tình người, tình yêu. Nó có
sức mạnh làm lương tri của Chí Phèo thực sự thức tỉnh. Đó là những chi tiết không
thể lược bỏ và khó lòng thay thế được.
Nguyễn Công Hoan đã rất có lí khi cho rằng: “chi tiết nghệ thuật là những hòn
gạch để xây nên truyện, không có chi tiết thì không có truyện sinh động gây cảm xúc.
Nó là cảnh, là người, là tiếng nói, giọng nói, việc làm của nhân vật”.
16


 Không gian và thời gian
Cũng giống bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào, các sự kiện, hành động trong
truyện ngắn đều diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định. Nhưng trong
truyện ngắn không gian và thời gian vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội
dung. Việc lựa chọn và tổ chức không gian và thời gian có tác dụng góp phần thể hiện
ý nghĩa thẩm mỹ, chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Chẳng hạn không gian và thời gian
trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, gợi sự tối tăm, quẩn canh bế tắc trong
cuộc sống của con người nơi phố huyện nghèo trước cách mạng hay không gian sống
của gia đình ngư dân vùng ven biển miền Trung đầy khó khăn, đói nghèo, lạc hậu
trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Truyện ngắn là một đề tài văn học khó, đòi hỏi sự dụng công lao động rất lớn song
nó lại có lợi thế mạnh trong việc thể hiện đời sống của thể loại và thích ứng nhanh với
đời sống của con người. Dung lượng ngắn, tốc độ xử lý tình tiết, sự kiện, cách thể
hiện nhân vật,… là một ưu thế để truyện ngắn chiếm một vị trí quan trọng trên văn

nền văn học nước nhà.
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 30-10-1930 trong một gia đình nông dân ở Quỳnh
Lưu, Nghệ An. Trước cách mạng tháng Tám ông học xong bậc Thành chung. Năm
1950, Nguyễn Minh Châu gia nhập bộ đội và được kết nạp Đảng cũng trong năm này.
Năm 1960, ông công tác phòng văn nghệ Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt
Nam. 1962 cho đến cuối đời Nguyễn Minh Châu làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân
đội. Ông mất tại Hà Nội năm 1989 do căn bệnh hiểm nghèo.
Nguyễn Minh Châu đến với văn học khá muộn nhưng ông đã từng bước khẳng
định mình qua cuộc kháng chiến chống Mỹ và nhất là giai đoạn văn học sau năm
1975. Ông được xem là “người mở đường tinh anh và tài năng” nhất của văn học Việt
Nam hiện đại.
- Các tác phẩm chính:
+ Tiểu thuyết; Cửa sông(1966), Dấu chân người lính (1970), Lửa từ những ngôi
nhà (1977), Miền cháy (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982), Mảnh đất
tình yêu (1987)
18


+ Truyện ngắn: Những vùng trời khác nhau (1970), Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành (1983), Bến quê (1985), Chiếc thuyền ngoài xa (1987), Cỏ lau (1989)
+ Tập bút kí (in chung với Hồ Phương): Núi rừng yên tĩnh (1981)
+ Tác phẩm viết cho thiếu nhi: Từ giã tuổi thơ ( 1974), Những ngày lưu lạc (1987),
Đảo đá kì lạ (1985)
+ Tiểu luận phê bình: Người viết trẻ và cánh rừng già (1973), Nhà văn Nguyễn
Công Hoan (1985), Trang giấy trước đèn (1994).
- Các đề tài chính: Đề tài chiến tranh, đề tài nông dân, đề tài đời tư - thế sự.
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu không đồ sộ nhưng đa dạng về thể loại: bao
gồm truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút kí, phê bình… Nguyễn Minh Châu được
xem là nhà văn có vị trí nổi bật trong tiến trình vận động, phát triển của văn học ta từ
những năm 60 thế kỷ XX cho đến nay.

Nguyễn Minh Châu quan niệm nghệ thuật và cuộc sống phải có mối liên hệ
chặt chẽ. Theo ông” viết văn là phải đào xới đến tận cùng cái đáy của cuộc đời”; “
văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”
Những quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đã chuyển hóa vào thực
tiễn sáng tác mà Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm tiêu biểu. Trong
truyện ngắn này, bằng biểu tượng “ chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu đã thể
hiện thành công quan niệm đã trở thành chân lí: Nghệ thuật phải bắt nguồn từ đời
sống; văn chương nghệ thuật phải quan tâm đến vấn đề cốt lõi là số phận con người;
cái đẹp không thể tách rời cái chân thật.
3.3.3 Những đặc điểm nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Là một trong những người mở đường tinh anh và tài năng cảu nền văn xuôi
Việt Nam hiện đại trong quá trình đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã không ngừng suy
nghĩ, kiếm tìm và thử nghiệm những cách thể hiện mới để tự mở rộng bản sắc của
chính mình đặc biệt ở thể loại truyện ngắn:
 Cốt truyện
Điểm nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là kết cấu tâm lí, chất chuyện mờ
nhạt. Cốt truyện chủ yếu được triển khai theo sự vận động tâm trạng, ít sự kiện, ít tình
20


huống, biến cố - cốt truyện không biến cố. Khảo sát truyện ngắn sau 1975 của
Nguyễn Minh Châu, có thể thấy khung cốt truyện của ông được nới lỏng đến mức
nhiều lúc dường như không còn truyện mà chỉ là những mảnh đời vụn vặt, những
trạng thái tâm lí như là vu vơ…, những xung đột chỉ phác ra chứ không giải quyết, đó
là những thể nghiệm mới mẻ độc đáo đưa văn học về gần với đời sống.
Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu có ba loại cốt truyện chủ yếu: cốt truyện xây
dựng trên nguyên tắc luận đề - những luận đề về đạo đức nhân sinh, về tâm lí xã hội;
cốt truyện sinh hoạt thế sự; cốt truyện dựa vào những số phận đời tư.
 Biểu tượng
Sử dụng hình ảnh biểu tượng là một trong những nét độc đáo trong phong cách nghệ

sinh động, luôn biến hóa, nhiều sắc thái biểu cảm, tự nhiên, lúc nghiêm trang lúc hài
hước dí dỏm, lúc giàu chất triết lí nhưng giọng điệu chủ yếu vẫn là giọng thâm trầm.
Chính tính thâm trầm trong giọng điệu đã làm cho những trang văn của Nguyễn Minh
Châu giàu tính triết lí.
Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu giàu chất triết lí.Ở nhiều truyện ngắn của ông
nhân vật mang bóng dáng chính nhà văn. Vì vậy những triết lí về lẽ đời, về nhân sinh,
về nghệ thuật đều bắt nguồn từ trái tim của một nhà văn luôn trăn trở với nghề, với
đời. Dẫu viết về người lính, trí thức hay nông dân, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
đều toát lên những tư tưởng sâu sắc. Vì vậy có những truyện ngắn của ông mang tính
luận đề - nhà văn bàn bạc về đạo đức, về nhân sinh, về tâm lí xã hội
Ngôn ngữ trong các sáng tác của ông gần gũi với đời sống giàu tính biểu cảm, biểu
trưng, tinh lọc. Chính vì vậy văn của Nguyễn Minh Châu giàu hình ảnh với từ ngữ
trau chuốt, sống động và kết cấu câu văn đa dạng.
4. Hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
4.1. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
Chiếc thuyền ngoài xa sáng tác năm 1983 là một truyện ngắn đặc sắc của
Nguyễn Minh Châu ở chặng đường sau 1975. Truyện ngắn này được in trong tập
truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, sau in lại trong tập chiếc thuyền ngoài
xa 1987. Tác phẩm tiêu biểu cho phong cách viết truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
22


về đề tài đời tư - thế sự. Những trang đời sinh động, đầy nghịch lí hắt bóng trên những
trang văn của ông. Qua tác phẩm, người đọc thấy được những vấn đề phức tạp của đời
sống, kể cả bi kịch số phận con người.
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa thuộc dạng truyện luận đề. Cốt truyện dựa
trên hai phát hiện của nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh. Phát hiện thứ nhất là“ một cảnh đắt
trời cho” đầy thơ mộng, nên thơ, huyền ảo, khiến người nghệ sĩ thấy hạnh phúc tràn
ngập tâm hồn. Phát hiện thứ hai bất ngờ và trớ trêu như một trò đùa quái ác của cuộc
sống. Đó là một cảnh tượng phi thẩm mĩ, phi nhân tính: người đàn bà xấu xí, người

với đặc trưng bài học, Hệ thống câu hỏi phù hợp sẽ giúp học sinh hiểu bài sâu sắc
hơn, phát huy được năng lực cảm thụ văn học của các em về loại truyện ngắn.hiện
đại.
4.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài
xa.
4.2.1. Cơ sở xây dựng thống câu hỏi trong giờ dạy học truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa
Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 12, cùng với các tác phẩm Mùa lá
rụng trong vườn ( Ma Văn Kháng) và Một người Hà Nội ( Nguyễn Khải), truyện ngắn
Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho văn học Việt Nam
sau 1975, đồng thời thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu
sau – đậm cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức là triết lí nhân sinh sâu sắc.
Thời gian dành cho giờ học tác phẩm này là 2 tiết, thời lượng như vậy cũng tương
đối đủ để giáo viên hướng dẫn học sinh khám phá các giá trị của tác phẩm.
Đối tượng giáo dục của chúng ta là học sinh lớp 12, ở vào lứa tuổi mà năng lực
văn học của các em đang phát triển, các em có khả năng tri giác ngôn ngữ khá sắc
sảo; biết bộc lộ những cảm xúc tình cảm của mình và cũng có thể mạnh dạn phát biểu
những nhận xét, đánh giá của bản thân về cuộc sống, con người, về các vấn đề được
đặt ra trong tác phẩm. Về mặt xã hội, với học sinh lớp 12, các em cũng đã có sự ý
thức về bản thân trong mối liên hệ với thế giới xung quanh mình, có thể tự liên hệ và
vận dụng các kiến thức đã học vào ứng xử trong cuộc sống. Về mặt lí luận, học sinh
24


lớp 12 đã được trang bị kiến thức lí luận văn học khá đầy đủ, là một thuận lợi bước
đầu cho việc giáo viên đưa ra các câu hỏi theo hướng khám phá nghệ thuật tác phẩm.
- Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh thấy được:
Quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, về cách nhìn
đời và nhìn người trong cuộc sống thông qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng khi
anh về vùng ven biển miền Trung để chụp bộ ảnh về thuyền và biển cho bộ lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status