LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Thạc sĩ Trần Hạnh
Phương, người đã luôn quan tâm, động viên và tận tình hướng dẫn tác giả trong
quá trình thực hiện khoá luận này.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cco giáo
trong tố Phương pháp dạy học Ngữ Văn cùng tấ cả các thầy cô giáo trong khoa
Ngữ Văn đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tác giả học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2011
Tác giả
Trần Thị Quỳnh
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan khoá luân tốt nghiệp: “Đọc - hiểu truyện ngắn Nguyễn
Khải sau 1975 theo đặc trưng thế loại” (Văn bản “Một người Hà Nội”) /à kết quả
nghiên cứu của riêng tác giả dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Trần Hạnh Phương.
Các kết quả nghiên cứu trong khoá luận là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ
công trình nào.
Hà nội, ngày 1 tháng 5 năm 2011
Tác giả
Trần Thị Quỳn
hKÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 1 Lóp K33C - Ngũ' Văn
GV: Giáo viên.
HS: Học sinh.
CH: Câu hỏi.
DKTL: Dự kiến trả lời SGK: Sách giáo khoa.
SGV: Sách giáo viên.
THPT: Trung học phổ thông
.MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 4 Lóp K33C - Ngũ' Văn
2.1. Vài nét về sự nghiệp của Nguyễn Khải
2.2. Vị trí của Nguyễn Khải ở nhà trường Phố thông
2.3. Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
2.3.1. Cốt truyện
2.3.2. Nhân vật
2.3.2.1. Nhân vật tư tưởng và nhân vật người kế chuyện
2.3.2.2. Nhân vật là những con người trong cuộc sống đời thường
2.3.2.2. Nhân vật là những con người mang chứa vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn
2.3.3. Ngôn ngữ
2.3.4. Giọng điệu
2.3.4.1 .Giọng triết lí, tranh biện
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 5 Lóp K33C - Ngũ' Văn
2.3.4.2. Giọng trầm lăng suy tư
2.3.4.3. Giọng cà kê, dân dã, hóm hỉnh
2.4. Đọc - hiểu văn bản “Một người Hà Nội” theo đặc trưng thể loại
2.4.1. Hướng dẫn HS tìm hiểu các chi tiết, hình ảnh biểu tượng
Hướng dẫn HS tìm hiểu các nhân vậ
tHướng dẫn HS tìm hiểu ngôn ngữ, giọng điệu Chương III: Giáo án thực nghiệm: “Một
người Hà Nội” Ket luận
Tài liệu tham khả
oPHẢN MỘT: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông là môn học vừa mang tính khoa học,
vừa mang tính nghệ thuật. Nó có khả năng thâm nhập vào thế giới tâm hồn bạn đọc,
làm thanh lọc tâm hồn và hướng họ tới cái Chân - Thiện - Mĩ. Do vậy dạy học Ngữ
Văn chính là dạy và tập cho HS biết tiếp nhận văn chương một cách sáng tạo; bồi
dưỡng năng lực tư duy văn học, tư duy thẩm mĩ đế mỗi em có thói quen tiếp nhận chủ
hiểu văn bản “Một người Hà Nội” theo đặc trưng thể loại.
Là một sinh viên Sư phạm, một GV trong tương lai, thông qua đề tài này, người
viết mong muốn tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu trong việc tiếp cận tri thức,
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 7 Lóp K33C - Ngũ' Văn
phương pháp dạy học đổi mới và phương pháp nghiên cứu khoa học để phục vụ tốt cho
công việc giảng dạy ở phổ thông trung học.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các công trình nghiên cứu văn học theo loại thế
Ngay từ thời xa xưa, Arixtốt (384-322 TCN) - một nhà triết học lỗi lạc của Hy
Lạp cổ đại, người được Ăngghen đánh giá là “người bác học nhất trong số những nhà
bác học đương thời” đã đề cập đến vấn đề loại thể trong công trình nghiên cứu nổi
tiếng “Nghệ thuật thi ca”. Trong công trình này, Arixtốt đã nói đến ba phương thức mô
phỏng hiện thực là: Tự sự, trữ tình và kịch. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu cũng thống
nhất chia toàn bộ tác phẩm văn học ra làm ba loại như trên xuất phát từ phương thức
phản ánh hiện thực của chúng. Họ gặp nhau ở một điểm là khi tìm đến loại thể của văn
chương không nên chỉ dừng lại ở hình thức cấu trúc.
Ở nước ta, vấn đề nghiên cứu văn học theo loại thể cũng được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, chủ yếu trên hai lĩnh vực: Lí luận và phưong pháp. Thành tựu của nó
được áp dụng vào việc tổ chức xây dựng chương trình SGK Ngữ Văn.
Trên lĩnh vực lí luận, các tác giả: Nguyễn Lương Ngọc, Thành Thế Thái Bình,
Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phương Lựu đã có những đóng góp quan trọng vào sự
phát triến của ngành lí luận nước nhà. Tiêu biểu là hai cuốn giáo trình “Lí luận văn
học” của Đại học Tống hợp do Hà Minh Đức (chủ biên) và của Đại học Sư phạm do
Phương Lựu (chủ biên). Nhìn chung các tác giả của hai cuốn giáo trình này đều tập
trung nghiên cứu vấn đề loại thể. Song, ở mỗi tác giả lại có những kiến giải và cách
phân chia loại thế khác nhau. Đồng thời ỏ mỗi loại thế lại đi sâu vào việc nghiên cứu
những thế loại nhở khác nhau.
Trên lĩnh vực phương pháp, những tài liệu có liên quan trực tiếp và các tác giả
có dụng công biên soạn việc xác định vấn đề thể loại trong dạy học Văn ỏ nhà trường
hệ thống các phương pháp và biện pháp dạy học. Trong đó, tác giả đã đặt phương pháp
tập đọc sáng tạo lên vị trí hàng đầu và cụ thể hoá nó bằng các biện pháp như: Đọc diễn
cảm, dạy HS đọc diễn cảm, GV đọc văn bản nghệ thuật kèm theo lời bình luận
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về đọc văn với sự quan tâm và những lí
giải về nhiều phương diện của hoạt động đọc văn bắt đầu xuất hiện từ những năm 80
của thế kỉ XX.
Teong công trình “Dạy đọc - hiếu là tạo nền tảng vẫn hoả cho người đọc” tham
gia hội thảo khoa học chương trình và SGK thí điếm THCS tháng 9/2000, GS Nguyễn
Thanh Hùng đã chỉ ra việc đọc - hiểu văn bản góp phần hình thành, củng cố và phát
triển năng lực, nắm vững và sử dụng Tiếng Việt. Vì vậy “Dạy đọc - hiểu là dạy cho HS
cách đọc ra nội dung trong những mối quan hệ ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản, tò
đó hình thành được kĩ năng đọc và biết vận dụng chúng trong cuộc sống có hiệu quả”.
Trên báo văn nghệ số ra ngày 14/2/1998, GS.TS Trần Đình Sử thông qua bài
viết “M5/Ĩ Văn - thực trạng và giải pháp” đã nhấn mạnh một trong ba mục tiêu của
dạy học Văn là “rèn luyện khả năng đọc - hiểu các văn bản, đặc biệt là văn bản văn học
nhằm tạo cho HS biết đọc văn một cách có văn hoá, có phương pháp, không suy diễn
tuỳ tiện, dung tục”. Quan niệm về đọc văn của tác giả tiếp tục được trình bày rõ hơn
trong lời mở đầu cuốn “Đọc văn, học văn
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 10 Lóp K33C - Ngũ' Văn
GS Phan Trọng Luận cũng là một trong những nhà khoa học đi vào vấn đề đọc
văn bản sớm nhất.Đặt vấn đề đối mới phương pháp dạy học Văn, trong chuyên luận
“Cảm thụ văn học, giảng dạy vãn học” tác giả đã phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt
động đọc: “Đọc từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc cho âm vang, đọc để tri giác, cảm giác
được bằng mắt bằng tai tò ngữ, hình ảnh, chi tiết ”. Trong cuốn giáo trình “Phương
pháp dạy học văn ” (2001), tcs giả đã xem đọc diễn cảm là một trong ba phương pháp
thường dùng trong quá trình thâm nhập tác phẩm văn chương, cùng với phương pháp
so sánh và phương pháp tái hiện hình tượng.
Như vậy qua một số công trình nghiên cứu kế trên, chúng ta có thế thấy rõ tầm
quan trọng của việc đọc văn. Vì vậy, để hoạt động dạy học văn ở nhà trương phổ thông
đặc trưng thể loại.
3.3. Bồi dưỡng năng lực đọc - hiểu, cảm thụ tác phẩm làm cơ sở cần thiết cho
giảng dạy sau này ở trường phổ thông.
4. Nhiệm vụ nghiên cún
4.1. Tìm hiếu lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết đọc - hiếu, thế loại tự sự
4.2. Nghiên cứu đặc điếm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 12 Lóp K33C - Ngũ' Văn
4.3. Vận dụng vào quá trình đọc hiểu truyện ngắn “Một người Hà Nội” trong
SGK Ngữ Văn 12, tập 2 (Nâng cao).
5. ĐỐÌ tượng nghiên cứu.
Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
6. Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975.
Khảo sát qua truyện ngắn “ Một người Hà Nội” (Chương trình Ngữ văn nâng
cao lớp 12).
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp phân tích.
7.2. Phương pháp thống kê, tổng họp.
7.3. Phương pháp so sánh.
7.4. Phương pháp thực nghiệm.
8. Bố cục của khoá luận
Gồm ba phần:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 13 Lóp K33C - Ngũ' Văn
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm ba chương
Chương 1 :Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
Chương 2:Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 và đọc - hiểu
văn bản “Một người Hà Nội” theo đặc trưng thể loại.
động trí tuệ. Đặc biệt, do sự phát triển của hệ thận kinh với cấu trúc phức tạp và chức
năng của não phát triển, hoạt động tư duy của thanh niên HS có thay đổi quan trọng.
Các em có khả năng tư duy ly luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trọng
những đối tượng quen biết đã được học ở trường. Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có
căn cứ và nhất quán hơn. Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triến
Những đặc điểm trên chứng tỏ HS ở THPT hoàn toàn có khả năng tư duy một
vấn đề văn học vì vậy, trong hoạt động dạy học, GV bằng kiến thức và năng lực sư
phạm phải biết cách tổ chức điều khiển hoạt động dạy học nhằm khơi gợi khả năng tư
duy và tính tích cực, chủ động của HS.
1.1.1.2. Lý luận dạy học hiện đại
Trong khoảng thời gian tương đối dài, hoạt động dạy học trong nhà trường phố
thông ở Việt Nam gắn liền với phương pháp dạy học truyền thống theo kiếu truyền thụ
kiến thức một chiều. Theo đó, thầy giáo đóng vai trò trung tâm của mọi hoạt động.
Người thầy bằng kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được trở thành người phán truyền
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 15 Lóp K33C - Ngũ' Văn
chân lý cho HS - những con chiên ngoan đạo. Hoạt động dạy học không những không
phát huy được tính tích cực chủ động của HS mà còn biến HS thành những nhân vật
thụ động chỉ biết nghe và tiếp thu một cách máy móc lời giảng của thầy, thậm chí rập
khuân theo những gì thầy đọc cho chép. Có thể hình dung mối quan hệ chính giữa thầy
và trò là quan hệ đon tuyến theo đường thẳng: Tri thức —» GV—»HS. Ưu điểm của
phương pháp dạy học truyền thống là tiết kiệm thời gian, đồng thời lượng kiến thức mà
GV cung cấp cho HS là tương đối đầy đủ, liền mạch và có hệ thống. Tuy nhiên, nhược
điểm lớn nhất của phương pháp này là hạn chế hoạt động và triệt tiêu khả năng sáng tạo
của HS. Đồng thời, dễ gây ra tâm lí chán nản, ức chế và làm giảm hứng thú học tập của
HS. Vì vậy hiệu quả hoạt động chưa cao.
Từ những hạn chế trên, đối mới phương pháp dạy học là một nhu cầu tất yếu
nhằm đáp ứng nhu cầu bức xúc của toàn xã hội. Neu trước đây những kiến thức mà HS
có được chỉ đến qua “bộ lọc” của GV, GV dạy điều gì, HS biết điều ấy, nhất nhất tin
lời GV, vâng lời GV thì giờ đây quan hệ ấy đã thay đổi. Dạy học theo hướng đổi mới
hứng thủ trí tuệ hướng vào hoạt động đê củng cô và phát triền một cách phong phủ
những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực xúc cảm của con người trước đời
song”.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 17 Lóp K33C - Ngũ' Văn
Cùng quan tâm đến vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương trong cuôn
“Phương pháp tiêp nhận tác phâm văn học ở trường phô thông trung học” khăng
định: “Tiêp nhận văn học là một quá trình” và “Quá trình tỉêp nhận là một quá trình
tâm lý phức tạp vừa mang tỉnh chủ quan vừa mang tỉnh khách quan
Như vậy, dù nêu định nghĩa dài hoặc ngắn với nội hàm tương đối khác nhau
song hầu hết các khái niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra đã thể hiện rõ bản chất của
quá trình tiếp nhận văn học. Đó là quá trình mà người đọc bằng vốn văn hoá cùng trí
tưởng tượng phong phú của mình thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phấm để
khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh những giá trị tư tưởng thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắm
qua lớp ngôn từ, hình ảnh. Cũng có khi người đọc trở thành người sáng tạo văn bản,
phá vỡ chuẩn mực mà tác giả gửi gắm trong văn bản; phát hiện thêm những tầng ý
nghĩa mới, vượt khỏi ý đồ của tác giả, bố sung, hoàn thiện thêm những giá trị thấm mĩ,
đem lại cho văn bản một cách hiểu mới, một giá trị mới, đôi khi bất ngờ. Bởi vậy, theo
thời gian lịch sử, tiếp nhận văn học có tác dụng to lớn trong thúc đẩy ảnh hưởng văn
học, biến một văn bản khô khan thành một thế giới sống đông, phong phú và đầy cuốn
hút.
1.1.2.2. Đặc điếm của hoạt động tiếp nhận văn học
* Con đường sản sinh tác phẩm của nhà văn
Sáng tác tác phẩm văn học là một quá trình. Thoạt đầu hình tượng nghệ thuật
nảy sinh trong ý đồ nghệ sĩ và được phát triển thành một thế giới nghệ thuật trọn vẹn,
tồn tại dưới dạng tinh thần trong ý thức người nghệ sĩ. Sau đó nó được thể hiện vào một
phương tiện vật chất nhất định, trở thành một văn bản có thế đem ra đọc. Tuy nhiên, từ
lúc thai nghén cho đến khi đứa con tinh thần ra đời là cả một quá trình đầy rẫy những
chông gai, thử thách mà người nghệ sĩ phải vượt qua. Vì vậy, lao động nghệ thuật ngoài
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
thuật. Phân tích tác phẩm văn học là một thao tác chia nhỏ, tháo gỡ tất cả các yếu tố có
mối quan hệ vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Hoạt động
này sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn cụ thể, sâu sắc hơn về đối tượng. Tuy nhiên, sau khi
phân tích, mố xẻ để hiểu rõ bản chất đối tượng, người đọc phải tiến hành lắp ghép,
tống hợp đế có thể nhìn nhận chúng ở tầm khái quát, cần chú ý là: Không nên phân tích
tất cả các yếu tố trong tác phấm mà “phải lựa chọn ra những yếu tổ cơ bản, sâu sắc
của tác phấm, biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt, trung thực nhât trong thê giới nội
tâm, vượt qua sự đầy đủ von quen thuộc và xáo mòn, kiếm tìm sự súc tích của ngôn
ngữ nghệ thuật ”(Nguyễn Thanh Hùng).
• Hoạt động cắt nghĩa
Cắt nghĩa là hoạt động quan trọng trong cơ chế tiếp nhận văn chương. Cắt nghĩa
là để làm rõ ý nghĩa tác phẩm, bắt đầu từ việc lý giải, cắt nghĩa các chi tiết, hình ảnh và
các hình tượng trong tác phẩm. Thông qua hoạt động cắt nghĩa, người đọc với những
hiếu biết, kinh nghiệm, trình độ .của mình tìm ra nội dung, ý nghĩa và dụng ý nghệ
thuật mà nhà văn gửi gắm. Vì vậy, có thể nói cắt nghĩa đem lại nhận thức chắc chắn,
có cơ sở về tác phẩm văn học. Nó được xem là cơ sở để đánh giá mức độ hiểu của mỗi
người vì có hiểu mới cắt nghĩa được. Càng hiểu nhiều, hiểu kĩ thì sự cắt nghĩa sẽ càng
trở nên sâu rộng.
• Hoạt động bình giá
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 20 Lóp K33C - Ngũ' Văn
Hoạt động bình giá là bước cuối cùng của quá trình tiếp nhận tác phẩm dựa trên
các kết quả thu lượm từ hoạt động đọc, phân tích, cắt nghĩa trước đó. Với hoạt động
này, người đọc có thể tự do bày tỏ những ý kiến, những nhận xét, đánh giá chủ quan
mang đậm màu sắc cá nhân của mình về tác phẩm. Trọng tâm của hoạt động bình giá
là cái mới về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm. Tuy nhiên, khi bình giá cần hết
sức tránh lối nói phiến diện, xuyên tạc, càng tránh sự nhại lại ý kiến đánh giá của
người khác một cách thiếu bản sắc.
Như vậy, có thể thấy tiếp nhận văn học là cả một quá trình với cả một hệ thống
các hoạt động được lập trình theo trình tự từ thấp đến cao: Đọc —» phân tích —>• cắt
đòi hỏi người đọc phải luôn luôn vận động đế rút ngắn khoảng cách, tiến tới tiếp nhận
tác phẩm một cách đúng hướng và toàn diện nhất. Những khoảng cách này có thể khắc
phục bằng nhiều giải pháp. Trong phạm vi đề tài này, người viết chọn con đường đọc
và tiếp nhận tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại với mong muốn vượt qua
hàng rào ngăn cách, chống chọi lại với “uy quyền của những khoảng cách”.
1.1.3 Vấn đề đọc - hiểu
1.1.3.1 Khái niệm đọc - hiêu
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 22 Lóp K33C - Ngũ' Văn
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2009): Đọc là ‘
ẽ
Tiếp nhận nội dung của một tập
hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào kỉ hiệu ”[ ,434 ]
Đọc tác phấm văn học là khâu đầu tiên, là tiền đề trong việc tiếp nhận tác phẩm
văn học. Đọc không chỉ để lĩnh hội thông tin, làm giàu hiểu biết, làm phong phú tâm
hồn mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách của con người.
Có nhiều quan niệm khác nhau về “đọc”, song có thế hiếu một cách chung nhất:
Đọc là một hoạt động đặc trưng của con người, một hoạt động mang tính văn hoá nhằm
thoả mãn một nhu cầu của đời sống. Đồng thời nó cũng phản ánh năng lực, tầm văn
hoá của người tiếp nhận. Đọc gắn liền với hiểu, bởi vì mục đích cuối cùng của đọc là
để hiểu.
“Hiểu” theo “Từ điển tiếng việt” (2009) là “Nhận ra ỷ nghĩa, bản chat, lỉ lẽ của
cải gì, bằng sự vận dụng trí tuệ”. “Hiếu” còn được xem là một cấp độ trong kĩ năng tư
duy bậc cao, được biểu thị như sau: Nhớ —» hiểu —» vận dụng —»phân tích, đánh
giá.
Theo M.Bakhtin trong sách “Con người trong thế giới ngôn từ” thì “hiểu” trong
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 23 Lóp K33C - Ngũ' Văn
đọc - hiếu bao gồm nhiều hành động gắn liền nhau. Đó là các hoạt động.
- Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ )
đặc thù. Tuy nhiên, để hoạt động này diễn ra theo đúng nghĩa của nó thì trong quá trình
dạy học, GV phải là người tổ chức cho HS khám phá được nội dung tư tưởng nghệ
thuật của tác phẩm. Từ đó, có thể vận dụng kiến thức, phương pháp vào việc đọc và tạo
lập các văn bản tương đương. Quan trọng hon đó là thông qua việc đọc - hiểu các tác
phẩm văn chương, mỗi người sẽ rút ra cho bản thân những bài học kinh nghiệm quý
báu về cuộc đời, con người để sống “người” hơn.
1.1.3.2. Đọc - hiêu là một con đường tiêp nhận tác phâm văn học
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Trần Thị Quỳnh 25 Lóp K33C - Ngũ' Văn