dạy học ca dao hài hước trong sách giáo khoa ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ THỊ TUYẾT MAI
DẠY HỌC CA DAO HÀI HƯỚC TRONG SÁCH GIÁO
KHOA NGỮ VĂN 10 THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hữu Bội

THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

4
QUY ƯỚC VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

NXB : Nhà xuất bản

SGK : Sách giáo khoa

SGV : Sách giáo viên

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

đại trà ở năm 2006 -2007, các nhà soạn sách có đưa vào một số bài ca dao với
3 chủ đề: Ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa và ca dao hài hước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

6
Khi thực thi chương trình ấy người giáo viên chưa hẳn đã hết những khó
khăn bỡ ngỡ khi dạy ca dao theo hướng đặc trưng thể loại. Do vậy chúng tôi
chọn đề tài này với hi vọng góp tiếng nói tháo gỡ những băn khoăn trăn trở
của người dạy và người học, đáp ứng mong muốn giờ dạy ca dao có hiệu quả
cho chính bản thân mình và các bạn đồng nghiệp.
2. Lịch sử vấn đề.
Hiện nay chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu về việc dạy
học ca dao hài hước ở trường THPT theo đặc trưng thể loại. Vấn đề này
chúng tôi mới chỉ thấy đề cập tới ở công trình “Con đường nâng cao chất
lượng dạy - học ca dao ở lớp 10 THPT theo đặc trưng thể loại, ĐHTN/ ĐHSP,
5/ 2004” của tác giả Nguyễn Trọng Đoan và công trình dạy và học tác phẩm
văn học ở trường phổ thông trung học miền núi - NXB Giáo dục 1997 của TS.
Hoàng Hữu Bội. Đây là tư liệu quý mà chúng tôi có thể vận dụng để giải
quyết những vấn đề đang đặt ra của đề tài.
Tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi chỉ có vậy, song vì
quan niệm rằng việc dạy bất cứ môn học nào cũng gồm hai lĩnh vực:
1, Kiến thức cơ bản về môn học đó, nhất là những thành tựu mới nhất về
lĩnh vực chuyên môn ấy.
2, Kiến thức về khoa học sư phạm, đặc biệt là những yêu cầu đổi mới về
phương pháp dạy học trong nhà trường. Vì vậy khi tìm hiểu lịch sử vấn đề của
lịch sử dạy học ca dao trong nhà trường, buộc chúng tôi phải tìm hiểu cả hai
lĩnh vực đó: Nghiên cứu ca dao, đặc biệt là ca dao hài hước và phương pháp
giảng dạy ca dao trong đó có ca dao hài hước trong nhà trường.
2.1. Lịch sử vấn đề về nghiên cứu ca dao (trong đó có ca dao hài hước).
* Cuốn “bình giảng ca dao” của nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học

phải là hiếm (trang 34).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

8
Tác giả đã vận dụng lý thuyết trên vào bình giảng một số bài ca dao hay
trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam. Trong tổng số 48 bài ca dao tuyển
chọn, có 8 bài được dạy trong chương trình THCS và THPT.
* Cuốn “Văn học Việt Nam - Văn học dân gian, những công trình
nghiên cứu”- NXB Giáo dục - tái bản năm 2000, của nhiều tác giả, do tiến
sĩ Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) đã chọn lọc, tổng hợp những công trình tiêu biểu
trong rất nhiều công trình nghiên cứu về văn dọc dân gian. Các tác giả đề cập
đến một số vần đề lý luận chung và phương pháp nghiên cứu văn học dân
gian. Trong phần II “một số thể loại và tác phẩm” có 5 bài viết, nghiên cứu về
ca dao đó là:
- “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình” của tác giả Nguyễn Văn
Lung (trang 306).
- “Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao” của Bùi
Mạnh Nhị (trang 317).
- “Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao” của Nguyễn Thị Ngọc
Điệp (trang 328).
- “Vài nét về nội dung ca dao dân ca Nam Bộ” của Nguyễn Tấn Phát
(trang 342).
- “Những bài ca dao hay nhất thế gian” của Bùi Mạnh Nhị (trang 365).
2.2. Lịch sử vấn đề phương pháp dạy học ca dao (Trong đó có ca dao
hài hước)
*“Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân
gian” của giáo sư Hoàng Tiến Tựu - NXB Giáo dục 1993, đã khẳng định sự
cần thiết xây dựng những quy phạm riêng cho việc dạy học văn học dân gian
ở trường phổ thông. Tác giả đã đề cập đến các phương pháp nghiên cứu văn
học dân gian, làm sáng tỏ vấn đề giảng dạy văn học dân gian theo đặc trưng

thể nhận thức được rõ khi đã nắm chắc nội dung và chủ đề của nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

10
8/ Bài ca dao còn có liên hệ gì với cuộc sống và tâm tư tình cảm của
nhân dân hiện nay và mai sau hay không? Mối liên hệ ấy như thế nào? Vấn đề
ý nghĩa và giá trị hiện đại của bài ca dao cổ về mặt nội dung cũng như mặt
nghệ thuật. (trang 134-135)
*Cuốn “Giảng văn văn học dân gian Việt Nam” của hai tác giả Vũ
Anh Tuấn và Nguyễn Xuân Lạc - NXB Giáo dục 1993, có hai phần:
Phần đầu (10 trang) “Một số vấn đề về quan điểm dạy học văn học dân
gian ở trường phổ thông”, đã chỉ rõ: Cần phải giảng dạy ca dao theo tinh thần
tiếp cận một tác phẩm phônclo. Điểm cơ bản của tinh thần tiếp cận này là đặt
tác phẩm văn học dân gian vào trường hành động thực tiễn và vấn đề giảng
dạy văn học dân gian theo đặc trưng thể loại.
Phần sau “Giảng văn”, tác giả đã thể hiện quan điểm trên trong việc phân
tích 7 bài ca dao cụ thể thuộc chương trình lớp 10 phổ thông trung học (từ
trang 109 đến 185)
* Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Lạc “Quan điểm tiếp cận và
phương pháp dạy học ca dao ở phổ thông trung học” (1996), đã đề xuất
hai vấn đề:
Quan điểm tiếp cận ca dao:
- Dạy ca dao là một loại hình nghệ thuật đặc thù: Vừa là nghệ thuật ngôn
từ như văn học viết, lại vừa mang bản sắc chung của một sáng tác phônclo,
với những nét riêng về thi pháp.
- Giao tiếp đặc thù phônclo là con đường hướng dẫn học sinh tiếp cận và
chiếm lĩnh bài ca dao một cách có hiệu quả.
Vận dụng các phương pháp chung về dạy học văn vào việc dạy học ca
dao ở phổ thông trung học.
- Định hướng học sinh tích hợp cả ba mặt nghệ thuật ngôn từ - bản sắc

của ca dao Việt Nam. Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

12
Khánh chủ biên) trang 465 có đoạn viết: “Tiếng cười là một biểu hiện của thái
độ đối với thực tại trong các thể loại tự sự và trong thể loại trữ tình. Trong ca
dao dân ca trữ tình Việt Nam, tiếng cười có mặt trong tất cả các loại đề tài
khác nhau. Song do phương pháp điển hình hoá thái độ chủ quan của con
người đối với thực tại có những đặc điểm riêng, nên ở đây cần xét riêng ca
dao trào phúng như là một thể loại của ca dao, dân ca Việt Nam”.
Ca dao trào phúng hay nói theo SGK lớp 10 THPT là ca dao hài hước
bộc lộ rõ nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. Cũng giống như tiếng cười,
bản thân tính trào phúng của ca dao hài hước đã là điều hấp dẫn, học sinh rất
ưa thích. Đồng thời, các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao hài
hước cũng nằm trong hệ thống biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca
dao hài hước cũng nằm trong hệ thống biện pháp nghệ thuật thường được sử
dụng trong ca dao Việt Nam, rất quen thuộc với người Việt Nam. Ca dao hài
hước cũng ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ. Nếu học sinh được hướng dẫn cách tiếp
xúc với văn bản một cách trực tiếp, tự đọc, tự tìm tòi ý nghĩa sâu sắc của tiếng
cười trong ca dao, dưới sự chỉ đạo của giáo viên thì học sinh sẽ khám phá
được nhiều điều bổ ích.
3.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là:
3.1. Phát hiện ra cách tiếp cận ca dao hài hước từ đặc trưng thể loại
của nó
3.2. Tìm ra phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh THPT học các
văn bản ca dao hài hước trong SGK sao cho hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Vấn đề tiếp cận ca dao hài
hước từ đặc trưng thể loại của nó và cách thức hoạt động của thầy và trò trong

14
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA
CA DAO HÀI HƯỚC.
1.1. Khái niệm ca dao và ca dao hài hước
- Khái niệm ca dao:
“Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc
Phi) nêu rõ:
“Ca dao còn gọi là phong dao. Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều
nghĩa rộng hẹp khác nhau:
Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có
khúc điệu.
Ca dao là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến
trong dân gian có hoặc không có khúc điệu. Trong trường hợp này ca dao
đồng nghĩa với dân ca.
Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao
đã dần dần chuyển nghĩa. Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân
gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chia riêng thành phần nghệ thuật
ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng
đưa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống.
ví dụ. Câu ca dao:
Làm trai quyết chí tu thân
Công danh chớ vội nợ nần chớ lo
Vốn được rút ra từ bài dân ca hát cách với những tiếng đệm, tiếng láy,
tiếng đưa hơi như sau : Làm trai quyết chí (mà) tu thân. Công danh (là công
danh) chớ vội (chứ đã ), nợ nần (mà nợ nần) chớ lo (ý y y ý y)…
Từ sau cách mạng tháng tám 1945 trên sách báo nước ta đã xuất hiện
danh từ ca dao mới để phân biệt với ca dao cổ (hay ca dao cổ truyền).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


16
đây chúng ta không đề cập đến tiếng cười đơn thuần sinh lý, cơ giới. Ví dụ
như tiếng cười khi bị cù hay tiếng cười vô thức của con người có vấn đề về
thần kinh. Tiếng cười ở đây được nhìn nhận ở góc độ tâm lý học. Tiếng cười
tâm lý bao giờ cũng gắn với một mục đích nhất định. Trước hết và gần gũi với
cơ sở sinh lý hơn cả là tiếng cười vui thú. Khi người ta cười, người ta hít
không khí nhiều, thở ra cũng mạnh. Nhìn ở góc độ khoa học, nếu cười có điều
độ, giúp lồng ngực nở nang, gân cốt, trí não bớt căng thẳng, trong người cảm
thấy dễ chịu. Trước một cảnh tượng vui vẻ, khi cảm thấy thích thú một việc gì
đó, người ta cười và tiếng cười làm tăng sự sung sướng của con người. Khoái
lạc về sinh lý và sự vui sướng về tâm lý kết hợp hài hoà với nhau. Từ đó các
tác giả nhận định:
“Có thể cho rằng tiếng cười là biểu hiện sinh thú mà con người cảm
thấy, tuy rằng cũng có khi vui sướng mà người ta không cười”.
Trong loại tiếng cười có tính chất tâm lí, không phải tất cả đều có sự giải
thích bằng sự vui sướng, mục đích tiếng cười không phải lúc nào cũng là để
vui. Cổ nhân đã có câu: “ Khốc như nữ tử vu quy nhật; Tiếu tự văn nhân lạc
đệ thời”. Có nghĩa là: Khóc như cô gái về nhà chồng, cười như ông đồ đi thi
trượt. Tiếng khóc của cô gái là khóc vì sung sướng, còn tiếng cười của ông đồ
là xót xa, chua chát. Tuy nhiên, thông thường, tiếng khóc gắn với sự đau khổ,
uất ức và tiếng cười gắn với sự vui vẻ thoả mãn.
Bên cạnh tiếng cười gắn với sự vui sướng, còn có một loại tiếng cười
khác. Trước một hoàn cảnh, một hành động, một cử chỉ, một sự việc nào đó
trong cuộc sống, người ta có thể bật cười. Ví dụ như ta xem chú hề mũi đỏ
trồng cây chuối, một người rất đạo mạo bỗng nhiên ngã sõng soài, đọc truyện
cười “Tam đại con gà” người ta cười ông thầy dốt nát và giấu dốt. Đó là
những tiếng cười có tính chất hài hước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

17

Giải thích tại sao lịch sử lại diễn ra theo tiến trình ấy, Mác cho rằng: “Đó là
để cho nhân loại rời bỏ được quá khứ một cách vui vẻ”. Chính vì thế, một
hiện tượng xã hội nếu xét về mặt triết học là lỗi thời, về mặt chính trị là phản
động, thì xét về mặt mĩ học có thể (không phải là tất nhiên) là hài hước.
Nói chung, tiếng cười hài hước được xây dựng trên cơ sở một mâu thuẫn
nào đó. Đối với người bình dân, trong những sáng tác dân gian của mình, họ
biết sử dụng những mâu thuẫn trong cuộc sống theo ý mình để tạo nên tiếng
cười hài hước mang tính chất tâm lý. Tiếng cười hài hước nhằm giải toả cuộc
sống căng thẳng, nâng cao niềm lạc quan, ham sống, giúp con người hài lòng
với cuộc sống dù còn nhiều khó khăn.
Ca dao là một trong những thể loại văn học dân gian được người bình
dân sáng tạo để phục phụ cho đời sống tinh thần của mình. Ca dao hài hước
được sáng tạo từ nền tảng tiếng cười hài hước trong dân gian.
Từ “hài hước” trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” (Viện ngôn ngữ học
1992): “Hài hước: vui đùa nhằm mục đích gây cười (thường nói về hình thức
văn nghệ) lối văn hài hước. Câu chuyện hài hước. Giọng hài hước”.
-Khái niệm ca dao hài hước:
Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (cơ bản) định nghĩa ca dao hài hước như sau:
“Ca dao hài hước là tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tự cười mình)
và tiếng cười châm biếm, phê phán thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết
lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người
bình dân”.
Cuốn “Ca dao hài hước” của Đào Thản (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 2005)
lại định nghĩa:
“Hài hước có nghĩa là vui đùa, gây cười. Ca dao hài hước vì vậy cũng
được hiểu là những câu, những bài thuộc nhiều nội dung khác nhau nhưng
đều có tính chất hài hước, có mang yếu tố hài hước”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

19

những sự việc, hiện tượng chỉ có thể trở thành hài hước do một cách nhìn và
một cách thể hiện nào đó (giống như trong việc vẽ tranh biếm hoạ). Ở ca dao
hài hước, tình hình cũng như vậy.
Trong thực tế đời sống xã hội, thời nào cũng vậy, có thể quan sát thấy vô số
những điều đáng cười, chỉ cần phản ánh y nguyên hiện thực, chưa cần thêm bớt,
cũng đã đủ để gây cười cho thiên hạ. Ví dụ ở một làng nọ, có anh chàng kia:
Làm thì chẳng muốn bằng ai,
Ăn thì thứ nhất thứ hai trong làng.
Hoặc ở chỗ khác, có những kẻ bị người đời nhận xét bằng một câu khái
quát về cái nết “làm ăn” láu cá:
Ăn thì ăn những món ngon,
Làm thì chọn việc cỏn con mà làm.
Một ông bố bà mẹ nào đó có thể chép miệng nghĩ về cảnh cùng giỗ linh
đình hoặc làm ma, làm chay cho người chết:
Sống thì con chẳng cho ăn,
Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi.
Rồi rút ra kết luận về sự khôn dại ở đời:
Thế gian còn dại chưa khôn,
Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành.
Đến như cái cảnh “mèo tha miếng thịt xôn xao; kễnh tha con lợn thì nào
thấy chi” cũng có thể nói là một hiện tượng hoàn toàn có thật trong gia đình,
trong làng bản và nói rộng ra trong cả xã hội. Đây là một chuyện thường tình:
Cả nhà chỉ có được miếng thịt, mua khi có công việc, thế mà con mèo lại tha
đi, làm chi bố mẹ con cái phải nháo nhác cả lên. Ngược lại khi con cọp vào
bản vác cả con lợn đi thì mọi người lại im thin thít sợ hãi, không ai dám lên
tiếng. Từ cái cảnh thực có này, ca dao chỉ cần nhấn vào cái mâu thuẫn có tính
hài hước đó để nêu bật ý nghĩa xã hội của nó:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

21

22
Đó cũng là khi trong thực tế đời sống cũng như trong thế giới nội tâm,
con người không phải bao giờ cũng có sẵn cái hài hước đáng cười; hoặc giả
có đấy, nhưng không phơi bầy lộ liễu, mà tồn tại dưới sự che đậy hoặc biết
cách ẩn giấu kín đáo, tinh vi, không dễ mà phát hiện, vạch ra cho mọi người
cũng thấy. Phải có cách nhìn sâu sắc, soi chiếu vào thực chất bên trong của
hiện tượng, thấy cả được những mặt trái của nó, mới có thể khám phá và bộc
lộ ra được cái mâu thuẫn, cái nghịch lý, trái khoáy, trái lẽ thường, đến mức
phải bật ra tiếng cười:
- Ra đường bà nọ bà kia,
Về nhà không khỏi cái nia, cái sàng.
- Hòn đất mà biết nói năng,
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.
Nếu như ở trên kia, nội dung ca dao là phản ánh sự thực một cách trực
tiếp, trung thành, có sao nói vậy, thì đến đây bắt đầu đã có sự gia giảm, thêm
dấm thêm ớt. Để tạo ra những tiếng cười hài hước đa dạng hơn, sắc bén hơn,
lắm khi tinh vi hơn và đặc biệt là giàu trí tuệ và có sức mạnh hơn, ca dao đã
cái biến mọi tài liệu thực tế, không dùng đến những bức ảnh chụp nữa, mà
đưa ra cho thấy những bức tranh với nhiều nét phác họa, tô điểm, thậm chí
thêu dệt, theo cách nhìn, cách nghĩ chủ quan của người sáng tác. Nội dung các
sự kiện được đề cập ở đây do đó hoàn toàn là những cái không thể có trên đời,
không bao giờ xảy ra trên thực tế:
- Ba đồng một mớ đàn ông,
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha.
Ba trăm một mụ đàn bà,
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
- Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông Nguyệt Lão, đánh mười cẳng tay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


trị gì. Cần phải tự đặt câu hỏi tại sao lại có thể nói ngoa đến mức như vậy, và
câu trả lời sẽ cho ta thấy dụng ý hài hước một cách hiển nhiên.
Trong thể loại truyện cười dân gian, người ta phân biệt ra hai loại truyện
khôi hài và truyện trào phúng, nhằm mục đích chỉ ra hai mức độ của hài hước:
một bên có tính chất mua vui, giải trí nhẹ nhàng, một bên nặng về châm biếm
đả kích, có giá trị như một vũ khí đấu tranh xã hội. Ca dao hài hước thì không
chỉ có hai loại đó. Bên cạnh những bài là vũ khí đấu tranh với kẻ địch, kẻ
thống trị, đả kích châm biếm mọi thói hư tật xấu, mọi quan niệm sống nỗi
thời, những bài có tác dụng phê phán, giáo dục trong nội bộ nhân dân bằng
tiếng cười khoẻ khoắn, lành mạnh.
Điều đáng chú ý ở đây là cái hài hước không ở trong bản thân sự kiện
hay sự việc được chỉ ra, mà lại nằm ngay trong cách nói, trong lời diễn đạt.
Câu ca dao mang đến cho ta sự cảm nhận một điều thú vị, làm hé nở một nụ
cười. Đó chính là tác dụng, hiệu quả của hài hước.
Đương nhiên, mức độ của hài hước không chỉ dừng lại ở đấy. Cũng như
trong ngôn ngữ thường ngày của những người vui tính, thích khôi hài, pha
trò; ca dao truyền thống của ta không ngớt vang lên tiếng cười đùa vui, nhẹ
thì giễu cợt, chế nhạo, nặng thì mỉa mai, châm biếm hoặc bài xích phê phán.
Nặng hơn nữa - và là nặng nhất thì đả kích, đập phá không tiếc tay, như một
vũ khí sắc bén trong đấu tranh xã hội. Mức độ hài hước từ thấp lên cao như
vậy tuỳ thuộc vào nội dung hài hước, đồng thời cũng tuỳ thuộc vào tính cực
đoan của cách thể hiện, đẩy cái cười đến cực điểm của khoái trá mà chúng ta
có thể gọi chúng bằng một vài tên gọi khác mạnh hơn như trào lộng, trào
phúng, một nét đặc trưng của thơ.
Ca dao hài hước nhiều khi là sản phẩm của lối nói nửa đùa nửa thật,
bạo mồm bạo miệng, hoặc liều lĩnh đến mức quá quắt, chua ngoa. Trong
sự tìm hiểu và phân tích những loại câu như vậy không nên gán cho tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status