Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DẠY - HỌC TRUYỆN CƯỜI TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2007 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên §¹I HäC TH¸I NGUY£N
TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M
THÁI NGUYÊN - 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Đề tài đƣợc lựa chọn từ yêu cầu giải quyết vấn đề dạy học tác
phẩm văn chƣơng theo hƣớng tích hợp và tích cực.
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chương theo hướng tích hợp và tích
cực là một vấn đề còn mới mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này. Nhiều nhà khoa học và nhiều thầy cô giáo ở các trường phổ thông
đã quan tâm và có những ý kiến đóng góp không nhỏ cho việc giảng dạy tác
phẩm văn chương theo hướng tích hợp và tích cực. Ngay từ thập niên chín
mươi ta có thể nói đến cuốn sách Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để
phát triển các năng lực ở nhà trường của tác giả Xavier Roegiers (Nxb Giáo
dục 1996 do Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch - trong khuôn khổ
dự án VNM 137-3000/94/096 - 01 của Liên hiệp Châu Âu). Trong công trình
này, người viết đã chỉ ra giá trị lý luận về nội dung và bản chất của tích hợp,
nêu bật những ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình
SGK cũng như kiến thức mà học sinh lĩnh hội được. Đây là những đóng góp
quan trọng trong việc định hướng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà
trường hiện nay.
Thế nhưng ở công trình này, tác giả mới chỉ chú ý đến ảnh hưởng chung
của khoa sư phạm tích hợp với tất cả các vấn đề trong nhà trường, mà chưa đi
vào cụ thể việc dạy - học tác phẩm văn chương nhất là các thể loại văn học dân
gian (VHDG) đặc biệt là các thể loại tự sự (trong đó có truyện cười) thì chưa
được quan tâm đầy đủ. Mặc dù chúng ta đều biết rằng, dạy một tác phẩm VHDG
3
Trong quá trình thực hiện chương trình SGK mới, với nhiều yêu cầu mới giáo
viên và học sinh không phải không gặp những khó khăn nhất định. Giáo viên
phải tìm ra cách tiếp cận phù hợp để hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, khám phá
tự chiếm lĩnh tri thức. Thực hiện được những yêu cầu đó không phải là điều dễ
dàng.
Trong đợt thực tế Sư phạm vừa qua, chúng tôi đã chú ý tìm hiểu việc
dạy học truyện cười trong SGK Ngữ văn 10 ở một số trường PT (Trường
THPT thực nghiệm Nguyễn Gia Thiều - Gia Lâm - Hà Nội), Trường PTTH số I
Lạng Giang - Bắc Giang; Trường THPT Yên Dũng số II Bắc Giang. Chúng tôi
nhận thấy, trên thực tế việc dạy - học truyện cười ở trường THPT có thuận lợi
(đa số HS yêu thích vì thể loại này rất giàu tính chất duy lý). Song, điều đó
không có nghĩa là việc dạy - học truyện cười đã đạt được hiệu quả như mong
muốn. Trong những giờ học đó vẫn có những bài học được khai thác giống
như bài học ở các thể văn học thành văn. GV chỉ phân tích một cách cô lập
trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm vào môi trường VHDG, thời
điểm phát sinh...để khai thác hoặc có bài lại được dạy theo cách tầm chương
trích cú, nhấm nháp ngôn từ, hình ảnh, làm cho HS "thấy cây mà không thấy
rừng"; hoặc viện dẫn quá xa, luận bàn lan man ra ngoài tác phẩm. Vì thế trong
giờ học, tính tích cực chủ động của HS chưa được phát huy, HS còn thụ động
trong việc tiếp thu, lĩnh hội tác phẩm. Vậy dạy - học như thế nào để kích thích
được hứng thú và lôi cuốn được tất cả HS vào hoạt động liên tưởng, tưởng
tượng, tìm tòi, khám phá, sáng tạo?
Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp
một tiếng nói giải quyết khó khăn cho những người đứng lớp khi thực hiện
chương trình mới này trong đó có chúng tôi. 4
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của HS, chủ thể học
tập ở tất cả mọi khâu: từ việc chuẩn bị bài, sưu tập tài liệu, phát biểu trong
tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn, tham quan, hoạt động thực tế theo đặc
trưng bộ môn, …
Cũng ở đây tác giả còn đề cập tới tích cực trong dạy tiếng Việt, Làm
văn, Ngữ văn … được biểu lộ ntn? Muốn phát huy tốt tính tích cực ta phải có
những hình thức học tập, cách kiểm tra đánh giá … ntn?
2.1.2. Trong cuốn sách Ngữ văn 10 tập 1 do GS Phan Trọng Luân
(Tổng chủ biên) phần “Lời nói đầu” đã nêu rõ mục tiêu và cấu trúc của SGK
THPT có sự kế thừa và phát triển vận dụng hướng tích hợp ở mức cao hơn,
phù hợp với trình độ tư duy của học sinh bậc THPT: “Học Ngữ văn là để trau
dồi tình cảm thẩm mỹ và nhân cách. Học Ngữ văn phải hướng vào cuộc sống
để vận dụng kiến thức và để sống đúng, sống đẹp”. Đặc biệt các tác giả khẳng
định: “Học Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là một yêu cầu quan trọng đối với
mỗi HS”.
Về vấn đề tích cực, các tác giả cho rằng: “Điểm mới quan trọng của
SGK nhằm giúp HS tự học”. Vì vậy, các phần dẫn dắt HS trong mỗi bài đều
là những gợi ý giúp HS tự mình chiếm lĩnh TPVC hay một bài học cụ thể.
2.1.3. Người quan tâm đặc biệt đến vấn đề đọc - hiểu và vấn đề tích
hợp, tích cực là GS, TS Nguyễn Thanh Hùng. Trong bài Tích hợp trong dạy
học Ngữ văn đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục (số 6 tháng 3 năm 2006)
viết: “Tích hợp là điểm nổi bật nhất của chương trình và SGK Ngữ văn mới,
đã chi phối cách xây dựng chương trình, chỉ đạo nội dung và phương pháp
dạy học Ngữ văn”. Một cách chung nhất có thể hiểu tích hợp (Integration) là
6
phương pháp phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tậpcủa
nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một
môn Ngữ văn. Trên cơ sở phân tích nguồn gốc tư tưởng tích hợp tác giả nêu
bật ý nghĩa của vấn đề tích hợp: “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học
tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của
cũng chính là rèn luyện cho HS tư duy tổng hợp”.
Cũng theo TS việc dạy học tích hợp “Được nhìn nhận như là quá trình
GV tổ chức và hướng dẫn người học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể
tiềm năng sang khả năng thực hiện”.
Trên đây là một số cuốn sách bàn về tích hợp, tích cực trong dạy học
Ngữ văn mà người làm luận văn hệ thống được.
Ngoài ra còn một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn viết về tích
hợp, tích cực trong dạy học. Rõ ràng là, đề cập tới vấn đề tích hợp, tích cực
chúng ta có thể thấy rằng, ở mỗi công trình nghiên cứu có thể bàn đến một
góc độ khác nhau của vấn đề. Nhưng nhìn chung, các tác giả đều khẳng định
vai trò quan trọng và tính tất yếu, khách quan của quan điểm dạy học này.
Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ có tính khái quát, chưa bàn cụ
thể tới vấn đề dạy học loại thể truyện cười cho HS lớp 10 theo hướng tích
hợp, tích cực.
2.2. Về vấn đề dạy - học truyện cƣời trong SGK Ngữ văn 10 theo
hƣớng tích hợp, tích cực.
Đối với thể loại truyện cười ở chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 do
yêu cầu đổi mới phương pháp tuân thủ theo quan điểm tích hợp và tích cực
nên nội dung, phương hướng bài dạy cũng có nhiều thay đổi.
8
Gần đây khi SGK Ngữ văn 10 được thực hiện trong nhà trường, có
nhiều cuốn sách tham khảo được xuất bản, nội dung phần nhiều theo hướng
tích hợp và tích cực. Sách tham khảo dạy học Ngữ văn 10 được chia làm hai
loại: Loại sách phân tích, bình giảng các tác phẩm có trong Ngữ văn 10; Loại
sách gợi ý về phương pháp dạy học.
Chúng tôi xin đề cấp tới vấn đề dạy - học truyện cười ở một số công
trình sau:
2.2.1. Cuốn Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10 do TS Nguyễn Trọng Hoàn
(Chủ biên) Nxb Giáo dục, 2006. Ở thể loại truyện cười với hai tác phẩm cụ
thể: Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày, các tác giả đưa ra cách
phê phán”, … Tác giả còn nêu rõ: “Căn cứ vào ý nghĩa và chức năng của cái
cưòi và cái đáng cười nêu trên” mà có thể phân loại truyên cười.
Đến phần “Một số điểm cần lưu ý”, tác giả tiếp tục giúp người đọc nắm
rõ hơn về thể loại này với những thông tin về: nhân vật truyện cười, nghệ
thuật truyện cười, kết cấu truyện cười, ngôn ngữ truyện cười… Từ đó tiến
hành phân tích hai tác phẩm nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần khai thác
trong tác phẩm.
Như vậy, ở đây qua những tri thức cụ thể về thể loại truyện cười HS có
thể tự tổng hợp rồi chiếm lĩnh tác phẩm. Nói khác đi cách khai thác này sẽ
giúp các em nắm vững thể loại và nội dung tác phẩm đồng thời biết só sánh
với các thể loại khác đã học và sẽ học để hiểu rõ hơn dụng ý của tác giả dân
gian khi xây dựng tác phẩm.
Bên cạnh đó việc cho HS tập kể truyện cười một cách nghệ thuật, giải
nghĩa từ, … Nghĩa là giúp HS tích hợp với Tiếng Việt, Làm văn,… để hiểu rõ
hơn về thể loại.
10
Cách khai thác này của tác giả sẽ là những gợi ý quý báu giúp chúng tôi
trong quá trình nghiên cứu đề tài.
2.2.4. Cuốn Thiết kế bài học ngữ văn 10, Phan Trọng Luân (Chủ biên)
Nxb Giáo dục 2006. Ở thể loại này với hai tác phẩm đã nêu, tác giả thiết kế
tiến hành các bước hết sức chặt chẽ.
a) Tìm hiểu phần tiểu dẫn:
Khơi gợi HS bằng câu hỏi
b) Học văn bản:
- Đọc: GV yêu cầu HS đọc, nhận xét giọng đọc, kể hoặc diễn hoạt
cảnh, … Tính tích cực được cụ thể hoá từ cách đọc – giúp HS dễ nhận thấy
vấn đề cần khai thác HS được sống với thế giới trong truyện (nếu được diễn
hoạt cảnh, …).
- Tìm hiểu mâu thuẫn trong tình huống gây cười.
HS nắm vấn đề theo câu hỏi của GV dẫn dắt theo vấn đề của tác phẩm,
5.4. Đề xuất một phương án có tính khả thi, nhằm nâng cao giờ học
truyện cười theo hướng tích hợp và tích cực (thể hiện qua thiết kế hai bài học
truyện cười trong SGK Ngữ văn 10).
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận: Tổng hợp các bài viết,
các công trình nghiên cứu về truyện cười, về phương pháp dạy - học truyện
cười trong SGK Ngữ văn 10.
6.2. Phương pháp khảo sát:
12
Khảo sát các giờ dạy - học truyện cười ở lớp 10 THPT ở hai trường
THPT Yên Dũng số II và trường THPT Lạng Giang số I - Bắc Giang để tìm
ra vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
6.3. Thiết kế bài học hai truyện cười trong sách Ngữ văn 10 theo hướng
tích hợp và tích cực.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn của chúng tôi gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy - học truyện cười theo hướng tích
hợp và tích cực.
Chương 2: Tổ chức giờ học truyện cười theo hướng tích hợp và tích
cực.
Chương 3: Thiết kế bài học về hai truyện cười trong sách Ngữ văn 10
theo hướng tích hợp và tích cực.
cười là phải xác định được nội dung cơ bản của khái niệm truyện cười, nhận
14
ra được những đặc điểm chủ yếu nhất của thể loại này để phân biệt với các thể
loại truyện dân gian khác.
- Cuốn Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian
(Đỗ Bình Trị, 1999) có viết: “Truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn
cười, thể hiện ở hành vi của nhân vật (bao gồm cả hành động nói năng),
nhằm gây cười”.
- Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, (Nxb Giáo dục – Đinh Gia
Khánh (Chủ biên) in lần thứ 10 – 2006) cho rằng: “Truyện cười nói một cách
đơn giản là những truyện làm cho người ta cười, có thể là cười mỉm, nhưng
thường là cười giòn giã. Có thể là cười một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng
thường là cười mà phẫn nộ, khinh ghét”.
- SGK Ngữ văn 6 tập một (Nxb Giáo dục – Nguyễn Khắc Phi (Chủ
biên), 2002) viết: “Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng
cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra những tiếng cười mua vui hoặc phê phán
những thói hư, tật xấu trong xã hội”.
- SGK Ngữ văn 10 tập một: (Nxb Giáo dục – 2006 - Phan Trọng Luận
(Chủ biên) viết: “Truyện cười : tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt
chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống,
có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán”.
- Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục 1997 - Trần Đình Sử, Lê
Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi) cho rằng: “Truyện cười dân gian là một thể loại
truyện dân gian chứa đựng cái hài, dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu
để thực hiện chức năng phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu và mua vui giải
trí”.
Từ một số định nghĩa về truyện cười nêu ở trên, ta có thể thấy được
một số điểm của thể loại truyện cười như sau:
- Đặc điểm về nội dung:
15
điểm sau đây: Có truyện dài, nhiều sự việc, nhiều nhân vật, có truyện ngắn, ít
nhân vật, có truyện có khả năng gây cười manh mẽ, có truyện chỉ vừa đủ gây
cười một cách nhẹ nhàng, thậm chí có truyện khiến người ta vừa cười xong
liền phải suy nghĩ, có truyện nhằm đạt yêu cầu giải trí là chính, có truyện lại
kết hợp tác dụng giải trí với ý nghĩa phê phán, có truyện ít vận dụng nghệ
thuật cường điệu; có truyện, trái lại triệt để vận dụng nghệ thuật đó. Có truyện
lấy đề tài trong sinh hoạt bình thường của người nông dân, có truyện lấy đề tài
trong sinh hoạt của các tầng lớp khác: nho sinh, thầy đồ, nhà sư, lý trưởng,
thầy bói, …Có truyện ít yếu tố tục, có truyện lại khiến tiếng cười nổ ra mạnh
mẽ nhờ vận dụng yếu tố tục đúng chỗ, có truyện có kết luận hẳn hoi, có
truyện chỉ buông lửng để người ta suy nghĩ về vận dụng ý bao hàm ở trong.
Như vậy, với một loại hình bao gồm nhiều dạng như trên tất nhiên vấn
đề phân loại phải đặt ra. Ở Việt Nam vấn đề này còn thiếu sự thống nhất trong
các nhà nghiên cứu. Đến nay tuy đã có một số các phân loại truyện cười được
nêu nhưng chưa có bảng phân loại nào được giải quyết đầy đủ trên cơ sở
những tiêu chí rõ ràng và nhất quán. Văn Tân trong Tiếng cười Việt Nam và
Nguyễn Hồng Phong trong Truyện tiếu lâm thì cho rằng: “Có thể chia
truyện cười thành hai loại" và họ: “Có chú ý phân biệt truyện tiếu lâm và
truyện khôi hài mà Nguyễn Hồng Phong gọi là truyện cổ thế sự [32,165].
Cách phân loại này của họ dựa trên căn cứ về cách cấu tạo về mục đích và
nội dung của truyện cười”.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn
Khắc Phi, Nxb Giáo dục) “Có thể chia truyện cười dân gian ra thành hai loại
chính: Truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi.” [25;251].
Nguyên nhân của sự thiếu thống nhất trong phân loại cũng như trong định
17
nghĩa truyện cười là do sự phức tạp của đối tượng (truyện cười) và do sự thiếu
thống nhất về quan niệm và phương pháp của các nhà nghiên cứu.
Một trong những cách phân loại truyện cười được nhiều người tán
thành và vận dụng hiện nay là “Chia truyện cười thành hai loại: truyện khôi
hành vi buồn cười do lầm lỡ thường tình, vô hại: “anh có con trai bị đẻ non,
có lẽ do quá lo lắng “sợ không nuôi được” mà quên rằng đứa bé mà mình hỏi
“rồi có nuôi được không?” ấy là . bố của bạn!” [30;110].
- Hành vi của một nhân vật truyện hài hước thường không gắn với cái
xấu. Vì thế cái cười hài hước thưòng chỉ dừng lại ở hành vi của nhân vật. Nói
khác đi, nhân vận của truyện hài hước chỉ bị phê phán đơn thuần về hành vi.
- Trong truyện hài hước, nhân vật của truyện hài hước là đối tượng của
cái cười hài hước.
- Nhân vật - đối tượng của cái cười hài hước (nhân vật phụ) có chức
năng làm lộ ra cái đáng cười tiềm ẩn nơi hành vi của nhân vật chính.
Chẳng hạn truyện Đậu phụ có hai nhân vật: Sư cụ và chú tiểu. Trước
hết ta cười chú tiểu vì chú gọi con chó bằng “đậu phụ”. Nhưng nghĩ lại ta sẽ
thấy chỗ trái khoáy thì làm gì có “đậu phụ làng” và “đậu phụ chùa” và làm
gì có “con đậu phụ” để mà cắn nhau. Rõ ràng thực chất hành vi buồn cười ở
đây là cái cười hài hước. Do đó ta có thể nói: “Nhân vật của truyện hài hước
chỉ bị phê phán đơn thuần về hành vi” [30;112]
1.1.2.2. Truyện trào phúng (châm biếm)
Nếu như, nhân vật của truyện hài hước là đối tượng của cái hài hước thì
nhân vật của truyện châm biếm là đối tượng của cái cười châm biếm.
- Nhân vật truyện châm biếm
19
Tuy đều đặt vào loại tình huống sinh hoạt “đời thường” nhưng “chỉ
riêng hành vi ứng xử của nhân vật truyện châm biếm là gây phản ứng phê
phán của cả tư duy suy nghĩ, lẫn tư duy xã hội và ý thức tư tưởng. Là vì
những hành vi này gắn với cái xấu”. [30;107]
Chẳng hạn truyện cười: May không đi giày cười hành vi nhân vật hà
tiện, tuy chỉ biểu lộ một cách tự phát nhưng đã để bộc lộ nét bản chất của
người hà tiện “trọng của hơn người”.
Truyện cười này, ta cười bản thân anh người Giang Nam vì hành vi ấy
gắn với tính cách hà tiện, thể hiện rõ nét bản chất của con người anh ta.
thức những tác phẩm chung về mặt thể loại mà dưới hình thức những tác
phẩm thuộc một thể loại xác định. Đó là những câu tục ngữ, những bài ca dao,
chèo, vè, những truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện cười …
Bản chất cũng như những đặc trưng cơ bản của VHDG đều mang
những biểu hiện cụ thể khác nhau tuỳ theo thể loại. Mỗi thể loại VHDG có
cách phản ánh thực tại và thái độ đối với thực tế riêng mà một số nhà khoa
học gọi là phương pháp lịch sử đặc thù của nó. Thể loại, do đó là đơn vị cơ sở
của VHDG và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu VHDG.
b) Những đặc sắc của VHDG thể hiện không chỉ ở nội dung (nó nói cái
gì?) mà còn ở bản thân những thủ pháp phản ánh thực tại, phương pháp nghệ
thuật của nó (nó nói như thế nào?). Hơn nữa phương pháp nghệ thuật đó lại
phụ thuộc rất nhiều vào đặc trưng của thể loại. Theo cuốn Văn học dân gian
Việt Nam: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười – Nxb Văn hoá
nghệ thuật TPHCM -1997, Vũ Tiến Quỳnh (Biên soạn), tr.120 viết: “Thể
loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ sự hiểu biết
21
nghệ thuật”. Do vậy, không thể nắm được phương pháp nghệ thuật của
VHDG nếu không tìm hiểu, trước hết thi pháp thể loại của nó.
c) Mỗi một thể loại VHDG có cách nói riêng nhằm biểu đạt nội dung
của mình. Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Có nắm được thi pháp
thể loại mới có khả năng “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại. Người ta sẽ
không thể “giải mã” được các tác phẩm thuộc thể loại khác nhau nếu không
nắm được các thi pháp thể loại của chúng.
Với mỗi GV trong nhà trường phổ thông, dạy tác phẩm không có nghĩa
là chỉ truyền đạt những gì người GV cảm nhận được từ tác phẩm, mà còn là
hướng dẫn HS con đường khám phá tác phẩm, chiếm lĩnh tác phẩm. Cần phải
quy cách thức “giải mã” tác phẩm thành một hệ thống thao tác hợp lý. Đồng
thời, những thao tác này phải được thực hiện một cách nhất quán với các tác
phẩm thuộc cùng một thể loại.
Chính vì thế, việc nghiên cứu thi pháp thể loại sẽ giúp người giáo viên
thầy đồ đáng lẽ phải đạo mạo, gương mẫu về đạo đức lại dại gái, thù vặt với
cả học trò; một anh chồng trong xã hội trọng nam khinh nữ mà lại sợ vợ, …
Như vậy ta có thể nói rằng, vật liệu để xây dựng nên cái cười chính là ở
để tài có tính chất đáng cười.
b) Một số yếu tố gây cƣời
Bên cạnh đề tài - điều kiện thứ nhất trong quá trình gây cười thì cái trực
tiếp gây ra tiếng cười còn là các yếu tố gây cười: Lời nói đáng cười, cử chỉ
đáng cười, và rộng hơn nữa; hoàn cảnh đáng cười.
23
- Một số khá lớn truyện cười đã lấy lời nói ngộ nghĩnh (trái tự nhiên,
không hợp lẽ thường) để gây cười. Chẳng hạn những truyện: Mồ hôi sang cả
mình con; Đánh chết nửa người; Sao văn tế, …
- Một số truyện khác như: Đẻ ra sư; Con ruồi và quan huyện; Thầy đồ
liếm mật, … đã lấy một cử chỉ, một tư thế hoặc một hành động ngộ nghĩnh
oái oăm để gây cười. Truyện Đẻ ra sư: Một chị đàn bà lội xuống ao mò cua
chẳng may cua cắp phải bẹn đau quá, kêu váng lên. Một ông sư nhân đức đi
qua bèn ghé lại để cứu. Sợ uế tạp, ông không dám mó tay bèn ghé miệng lấy
răng cắn con cua ra. Chẳng ngờ và chẳng may con cua còn có một cái càng
nữa, quắp ngay vào mồm sư. Tư thế của nhà sư thật đáng cười, vì nhà sư
thường thì phải xa phụ nữ, mà ở đây con cua đã cắp bẹn của người đàn bà với
môi sư, không gỡ ra được. Cử chỉ của sư sợ uế tạp, không dám dùng tay mà
lại dùng răng cũng là một cử chỉ vô lý, tức cười.
- Lại có những truyện nêu lên một hoàn cảnh đáng cười. Ví dụ truyện
Mất rồi! … Cháy. Ở truyện này có bố trí một hoàn cảnh trong đó hai người
hiểu lầm nhau. Một người sắp đi xa dặn con rằng: “Ở nhà có ai hỏi thì bảo bố
đi chơi vắng”. Sợ con mải chơi quên mất nên người này lại lấy bút viết cho
con một cái giấy và bảo rằng: “ Có ai hỏi thì mày cứ đưa cái giấy này ra
nhé.” Cả ngày chẳng thấy ai hỏi, tối đến sẵn có ngọn đèn con lấy cái giấy ra
xem, chẳng may cháy vèo mất. Hôm sau, có người lại chơi hỏi: “Thầy mày có
nhà không?”. Đứa bé ngẩn ngơ sờ vào túi và nói rằng: “Mất rồi” khách giật