TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
DẠY HỌC BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG
ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
1
HÀ NỘI, 2013
2
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
SGV: Sách giáo viên
THPT: Trung học phổ thông
PPDH: Phương pháp dạy học
ĐHSP: Đại học sư phạm
NXB: Nhà xuất bản
ThS: Thạc sĩ
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2.3.1. Mục đích của việc dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói
cá nhân 24
2.3.2. Những cơ sở định hướng vận dụng quan điểm tích cực vào
4
dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân 24
2.4. Những hoạt động dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá
nhân thể hiện quan điểm tích cực 26
2.4.1. Lời mở bài 26
2.4.2. Tiếp cận kiến thức 26
2.4.3. Luyện tập thực hành 27
2.4.4. Kiểm tra đánh giá 27
2.5. Quy trình bài học 27
2.6. Phương pháp dạy học 29
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm 36
3.1. Mục đích thực nghiệm 36
3.2. Đối tượng thực nghiệm 36
3.3. Chủ thể thực nghiệm 37
3.4. Thời gian thực nghiệm 37
3.5. Nội dung thực nghiệm 37
3.5.1. Cách thức tiến hành thực nghiệm 37
3.5.2. Giảng dạy bằng giáo án thực nghiệm 37
3.5.3. Kiểm tra đánh giá hiệu quả các biện pháp đề xuất cuối đợt
thực nghiệm 47
3.6. Kết quả thực nghiệm 48
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
5
MỞ ĐẦU
dung kiến thức mới, đòi hỏi phải tìm nhiều hình thức dạy học nhằm đạt
hiệu quả
Bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến
thức mới đối với học sinh. Qua bài học, hướng tới mục tiêu là giúp các em
nắm được biểu hiện của cái chung trong ngôn ngữ của xã hội và cái riêng
trong lời nói cá nhân, mối tương quan giữa chúng; nâng cao năng lực lĩnh hội
những nét riêng trong ngôn ngữ của cá nhân, đồng thời rèn luyện để hình
thành và nâng cao năng lực sáng tạo của cá nhân; có ý thức tôn trọng những
quy tắc ngôn ngữ chung của xã hội và góp phần vào sự sáng tạo, phát triển
ngôn ngữ của xã hội. Tuy nhiên, với một nội dung kiến thức mới, việc tìm ra
hình thức dạy học là cần thiết. Bởi đó là cơ sở để việc dạy học bài này đạt
hiệu quả cao nhất.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học bài
"Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân" trong sách giáo khoa Ngữ văn
11 theo quan điểm tích cực.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu quan điểm tích cực trong dạy học
Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề phát
huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học.
Trong bài Bàn về phương pháp giáo dục tích cực, GS. Phạm Viết Vượng
nhấn mạnh “Phải lấy người học làm trung tâm như một quan điểm giáo dục
đào tạo, cốt lõi của nó là vì học sinh, bởi học sinh” [20, 22] (Tạp chí Nghiên
cứu giáo dục số tháng 8/1995).
Trong bài Đổi mới phương pháp tích cực hoá hoạt động của học sinh,
tác giả Lê A cũng nhấn mạnh “Tư tưởng dạy học tích cực lấy người học làm
2
trung tâm cần được hiểu như một quan điểm, một cách tiếp cận quá trình dạy
học. Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm không có nghĩa là
chúng ta bỏ đi những phương pháp dạy học truyền thống mà chúng ta cần
phát triển nó, vận dụng nó trên quan điểm mới này” [2, tr.37].
trình trên chưa trình bày cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra một hướng dạy học bài Từ
ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân đạt hiệu quả, từ đó có thể vận dụng vào
các bài dạy Tiếng Việt theo quan điểm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu có những nhiệm vụ sau:
Hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu để xác định cơ sở lí luận và cơ sở
thực tiễn của đề tài.
Áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh vào dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách
giáo khoa Ngữ văn 11.
Tổ chức thực nghiệm và rút ra kết luận khoa học.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức dạy học theo hướng tích
cực, chủ động của học sinh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được triển khai trong phạm vi bài Từ ngôn ngữ chung đến
lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
5. Phương pháp nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
4
5.1. Phương pháp thống kê
Phương pháp này được dùng trong việc phân loại và phân tích kết quả
khảo sát thực trạng của học sinh trước khi tiến hành thực nghiệm, phân tích
kết quả thực nghiệm.
5.2. Phương pháp hệ thống hoá
Phương pháp này dùng để hệ thống hoá các cơ sở lí luận về dạy học
của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động thích ứng và góp
phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của
sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
Tính tích cực học tập được biểu hiện cụ thể ở hoạt động nhận thức, đặc
trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình
chiếm lĩnh tri thức. Đó là những cơ sở cần thiết nhằm làm chuyển biến vị trí
của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm hiểu tri thức, để
nâng cao hiệu quả học tập.
Tính tích cực học tập liên quan trước hết tới động cơ học tập. Động cơ
đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là
hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực. Tính tích cực học tập có quan hệ chặt
chẽ với tư duy độc lập. Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.
Ngược lại học tập độc lập tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác hứng thú
và nuôi dưỡng động cơ học tập. Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu
hiệu như: Tập trung chú ý vào nội dung bài học, ghi chép đầy đủ, có ý thức tự
giác tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, có sáng tạo trong quá trình học
tập, trao đổi thảo luận về vấn đề giáo viên đưa ra, hiểu bài và biết vận dụng
những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn
6
1.1.2. Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực
Về bản chất phương pháp dạy học tích cực hướng đến việc hoạt động
hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào
phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy
tính tích cực của người dạy. Theo đó, nó có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, dạy học tích cực phải thông qua tổ chức hoạt động của học
sinh. Trong dạy học tích cực, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy,
vừa là chủ thể của hoạt động học do giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Nhờ đó,
học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức chứ không phải là tiếp thu thụ động
những kiến thức một chiều từ phía giáo viên. Học sinh trực tiếp quan sát, thảo
luận nội dung học tập và vận dụng vào thực tiễn cuộc sống giúp các em hình
việc kiểm tra đánh giá kiến thức ở học sinh thì giáo viên cần khuyến khích trí
thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống trong cuộc sống.
1.1.3. Các mức độ tích cực và các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực
1.1.3.1. Tính tích cực học tập của học sinh được thể hiện ở ba cấp độ
Bắt chước: Nghĩa là học sinh cố gắng thực hiện theo những mẫu hành
động của thầy, của bạn Đây là cấp độ thấp nhất, là biểu hiện đầu tiên trong
tính tích cực của học sinh. Ở cấp độ này các em mới chỉ biết làm theo những
mẫu, những định đề có sẵn, chưa có biểu hiện của những tìm tòi, sáng tạo mới
trong học tập. Tính tích cực của các em cần được phát huy cao hơn nữa.
Tìm tòi: Nghĩa là học sinh độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm
cách giải quyết khác nhau về một vấn đề Ở cấp độ này tính tích cực của học
sinh đã phát triển cao hơn cấp độ bắt chước. Học sinh đã chủ động, độc lập
suy nghĩ, tìm cách giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Sáng tạo: Nghĩa là học sinh tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu
hiệu. Đây là cấp độ cao nhất của tích cực. Học sinh phát huy toàn bộ năng lực
8
trí tuệ, tư duy sáng tạo của mình để giải quyết tình huống đặt ra. Tính tích cực
của học sinh đạt tới mức độ này giờ học sẽ đạt kết quả cao, tạo không khí lớp
học sôi nổi.
1.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực của học sinh
Yếu tố thứ nhất là bản thân học sinh. Vì học sinh là chủ thể của hoạt
động học tập cho nên các em là yếu tố quan trọng, trực tiếp chi phối tới hoạt
động dạy học tích cực. Nó được thể hiện ở đặc điểm hoạt động của trí tuệ. Tri
giác học sinh lứa tuổi thanh niên có mục đích, có kế hoạch, toàn diện hơn so
với lứa tuổi thiếu niên. Từ đó, tính lựa chọn, ý nghĩa ổn định tăng lên rõ rệt. Trí
nhớ có chủ định, đặc biệt là trí nhớ trừu tượng phát triển mạnh, ghi nhớ ý
nghĩa chiếm vị trí quan trọng. Học sinh xác định được tài liệu phải học thuộc
lòng, tài liệu nào phải diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình.
Trong học tập, chú ý có chủ định chiếm ưu thế. Sự tập trung có chú ý,
sự di chuyển của chú ý, khối lượng chú ý tăng lên rõ rệt. Do vậy cần tổ chức
thức mới một cách trực quan, khái quát. Từ đó, các em có thể phát huy khả
năng tư duy lôgic, khoa học, tăng cường khả năng ghi nhớ thông qua quá
trình nhớ lại kiến thức đã học và củng cố kiến thức mới. Còn giáo viên với vai
trò là người tổ chức điều khiển hoạt động lĩnh hội kiến thức của học sinh sẽ
phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo chuyên môn của bản thân. Điều này đòi hỏi
giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối
quan hệ của giáo viên với học sinh. Bên cạnh đó cần khai thác động lực học
tập ở người học để phát triển chính họ, coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân
để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích nghi với đời sống xã hội.
1.2. Ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân
1.2.1. Ngôn ngữ chung
Ngôn ngữ là tài sản chung của một dân tộc, một cộng đồng xã hội (có
thể bao gồm những người cùng một dân tộc, hoặc thuộc các dân tộc khác
10
nhau). Muốn giao tiếp với nhau, xã hội phải có phương tiện chung, trong đó
phương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ. Phương tiện đó vừa giúp cho mỗi
cá nhân trình bày những nội dung mà mình muốn biểu hiện, vừa giúp họ lĩnh
hội được lời nói của người khác. Cho nên, mỗi cá nhân đều phải tích luỹ và
biết sử dụng ngôn ngữ chung của cộng đồng xã hội.
Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ được một cộng đồng xã hội sử dụng
thống nhất để giao tiếp. Với người Việt, ngôn ngữ chung là tiếng Việt, “thứ
của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh).
Ngôn ngữ chung được thể hiện cụ thể qua hệ thống các đơn vị, các quy
tắc, các chuẩn mực xác định về ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp. Từ
đó, mọi thành viên của dân tộc, của cộng đồng phải có vốn hiểu biết về các
đơn vị chung ấy. Có như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp mới diễn
ra thuận lợi, thông suốt.
Muốn có vốn hiểu biết về ngôn ngữ chung, nhất thiết phải thường
xuyên học hỏi. Có hai cách học hỏi chủ yếu: một là học qua giao tiếp tự
nhiên, hàng ngày; hai là học qua nhà trường, sách vở, báo chí. Qua giao tiếp
cay độc.
Biểu hiện tiếp theo của lời nói cá nhân đó là cách diễn đạt riêng của
mỗi người. Nó góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn.VD:
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Chưa bao giờ người ta
thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như
Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược
Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ vĩ như Chế Lan
Viên, thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.
(Thi nhân Việt Nam - tr.31)
Từ cách diễn đạt riêng và giọng điệu riêng của mỗi người sẽ tạo ra
những dấu ấn riêng của mỗi cá nhân, không thể trộn lẫn với người khác.
12
Lời nói cá nhân được con người tạo ra trên cơ sở ngôn ngữ chung
nhưng có tính sáng tạo. Từ ngữ là vốn chung, quen thuộc của toàn xã hội,
nhưng ở lời nói cá nhân có sự chuyển đổi sáng tạo trong nghĩa từ, trong kết
hợp từ ngữ, trong việc tách từ, gộp từ, chuyển loại từ hoặc mang sắc thái
phong cách. VD
1
: Trong câu thơ của Xuân Diệu
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng)
Từ "buộc" được chuyển nghĩa (chỉ mong muốn không có gió hoặc gió
ngừng thổi) nên kết hợp được với từ gió.
VD
2
: Các từ: Bướm chán ong chường, dày gió dạn sương, bướm lả ong
lơi (Nguyễn Du) được Nguyễn Du sáng tạo nhờ sử dụng biện pháp tách từ.
Trong văn chương nghệ thuật, dấu ấn cá nhân được trau chuốt thành lời
nói và phong cách nghệ thuật. Nhà văn Tô Hoài đã nói: “Từ lúc mới cầm bút
(Nguyễn Duy - Tre Việt Nam)
Trong câu thơ trên, tác giả đã dùng ngôn ngữ chung (8 tiếng) đã được
hiện thực hoá theo quy tắc cấu tạo ngữ động từ, ngữ danh từ, quy tắc cấu tạo
câu với hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ), và một thành phần trạng
ngữ chỉ tình huống. Tuy nhiên, nét riêng của Nguyễn Duy được thể hiện rõ
khi tác giả đã sáng tạo từ áo (chỉ cái bẹ mo nang) và khi dùng từ con (chỉ cây
măng - tre non mới mọc). Những sáng tạo riêng ấy làm các từ áo và con có
thêm các nghĩa mới, nếu các nghĩa đó được nhiều người sử dụng một cách ổn
định thì sẽ đi vào ngôn ngữ chung.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Nội dung chương trình, bài dạy
1.3.1.1. Nội dung chương trình
Theo phân phối chương trình, bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá
nhân được triển khai trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, và được dạy trong hai tiết.
14
1.3.1.2. Nội dung bài dạy
Nội dung bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân gồm 3 phần chính:
* Ngôn ngữ - tài sản chung của xã hội.
Ngôn ngữ - tài sản chung của một cộng đồng xã hội (một dân tộc hay
một số dân tộc). Nó là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy chung của cả
cộng đồng xã hội.
Cho học sinh chỉ ra tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng biểu hiện
qua các phương diện nào. Sau đó học sinh trả lời.
Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố chung cho tất cả mọi
cá nhân trong cộng đồng. Mỗi cá nhân đều cần tích luỹ những yếu tố chung
đó và biết sử dụng chúng để tạo nên lời nói, đáp ứng nhu cầu biểu hiện nội
dung và giao tiếp với người khác. Những yếu tố chung bao gồm:
Các âm và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu).
Các tiếng (âm tiết) do sự kết hợp của các âm và thanh theo những quy
tắc nhất định.
Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra những lời nói cụ
thể của mình, đồng thời lĩnh hội được lời nói của cá nhân khác. Muốn tạo ra
lời nói (khi nói, khi viết) để thoả mãn nhu cầu biểu hiện và giao tiếp trong
những tình huống cụ thể, mỗi cá nhân phải huy động các yếu tố ngôn ngữ
chung và vận dụng các quy tắc và phương thức chung. Mặt khác khi nghe, khi
đọc mỗi cá nhân cần tiếp nhận, tìm hiểu, lĩnh hội nội dung và mục đích giao
tiếp trong lời nói của người khác, lúc đó cá nhân cũng cần dựa trên cơ sở
những yếu tố chung, những quy tắc và phương thức chung thuộc ngôn ngữ
của cộng đồng xã hội.
Lời nói cá nhân là thực tế sinh động hiện thực hoá những yếu tố chung
những quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ.
16
VD: Quy tắc cấu tạo câu đơn gồm ba phần:
Trạng ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ được hiện thực hoá qua câu thơ đầu tiên
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
Chính những sự biến đổi và chuyển hoá diễn ra trong lời nói cá nhân
dần góp phần hình thành và xác lập những cái mới trong ngôn ngữ, nghĩa là
làm cho ngôn ngữ chung phát triển
1.3.2. Điều tra giáo viên và học sinh
1.3.2.1. Điều tra khảo sát giáo viên
* Phát phiếu thăm dò giáo viên
Để đánh giá thực trạng dạy học, chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò ý
kiến giáo viên xoay quanh khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá
nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
Phiếu điều tra được phát cho giáo viên tổ Văn, Trường THPT Nguyễn
Huệ, tỉnh Yên Bái. Nội dung phiếu xoay quanh vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học nói chung và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân nói
riêng, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Nội dung gồm 3
Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
Phương pháp thảo luận nhóm.
Phương pháp vấn đáp.
Thủ pháp so sánh, đối chiếu.
* Dự giờ giáo viên
Kết hợp với việc phát phiếu thăm dò điều tra, chúng tôi tiến hành dự
giờ giáo viên khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân để đánh giá
kết quả về việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực của giáo viên. Qua dự
giờ chúng tôi nhận thấy:
18
Đa số giáo viên đi theo trình tự của SGK: Đưa ra ngữ liệu để học sinh
phân tích, từ đó rút ra kiến thức bài học.
Giáo viên vẫn còn phụ thuộc vào hệ thống ngữ liệu trong SGK, ít cung
cấp ngữ liệu ngoài cho học sinh. Điều này khiến giáo viên gặp hạn chế trong
quá trình giảng dạy và học sinh khó nắm kỹ kiến thức.
Khi dạy học, giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học
truyền thống, cung cấp kiến thức cho học sinh một chiều, phụ thuộc vào sách
giáo khoa nên bài dạy chưa thật sự sinh động, không gây được hứng thú đối
với học sinh.Việc tổ chức luyện tập thực hành cho học sinh còn nhiều hạn
chế, do sự chi phối về thời gian dạy.
Như vậy, qua khảo sát và dự giờ giáo viên chúng tôi thấy việc dạy học
tiếng Việt ở trường THPT hiện nay thường rơi vào tình trạng dạy học máy
móc, ít sáng tạo. Mặc dù có nhiều giáo viên phát hiện ra trọng tâm của bài học
và sự lựa chọn những phương pháp dạy học, song hiệu quả giờ học chưa cao
do phương pháp mà giáo viên lựa chọn chưa phù hợp với đối tượng học sinh.
Khi dự giờ chúng tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa chú ý đến bài giảng
của giáo viên, không tham gia xây dựng bài, còn nói chuyện trong giờ học.
Chính điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ
năng giao tiếp cho học sinh.
1.3.2.2. Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh
bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân, với bốn bài tập trong phần luyện
tập của bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân.
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ % học sinh đạt điểm khá, giỏi
tương đối nhiều, bài đạt điểm yếu kém chiếm tỉ lệ ít. Học sinh đã nắm được lí
thuyết và biết vận dụng vào thực hành. Trong quá trình làm bài tập, các em đã
tích cực trao đổi, thảo luận khi làm bài tập. Cũng qua điều tra chúng tôi nhận
thấy, để nâng cao tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi thì giáo viên cần sử dụng
linh hoạt nhiều phương pháp dạy học, trong đó có áp dụng dạy học theo quan
điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì hoạt động dạy và học
sẽ đạt được kết quả cao nhất và học sinh sẽ nắm bài tốt, khắc sâu nội dung bài
học. (Nội dung cụ thể của phiếu điều tra học sinh, chúng tôi xin trình bày ở
phần Phụ lục cuối khoá luận.)
20