1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
PHAN THỊ NHUNG
DẠY HỌC BÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ
NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Phạm Kiều Anh
HÀ NỘI, 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Phạm Kiều Anh. Cô
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và khuyến khích tôi thực hiện
khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy
học Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
5
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DẠY HỌC BÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ
VIẾT TRONG SGK NGỮ VĂN 10 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
6
1.1. Những vấn đề chung về tích hợp
6
1.1.1. Khái niệm tích hợp
6
1.1.2. Các hình thức tích hợp
7
1.1.3. Định hướng dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp
7
1.1.4. Ý nghĩa của quan điểm tích hợp trong dạy học tiếng Việt
9
17
1.4. Cơ sở thực tiễn
1.4.1. Khảo sát sách giáo khoa
17
17
6
1.4.2. Điều tra giáo viên
18
1.4.3. Điều tra học sinh
18
1.4.4. Nhận xét chung về hoạt động dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ
nói và ngôn ngữ viết trong SGK Ngữ văn 10 theo quan điểm tích hợp
18
Tiểu kết chương 1
19
Chương 2: DẠY HỌC BÀI “ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ
21
2.2.2. Nội dung tích hợp
22
2.2.3. Mức độ tích hợp
23
2.3. Các hoạt động dạy học sử dụng quan điểm tích hợp
24
2.3.1. Tích hợp thông qua kiểm tra bài cũ
24
2.3.2. Tích hợp thông qua giới thiệu bài mới
25
2.3.3. Tích hợp thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài
26
2.3.4. Tích hợp thông qua nội dung tiểu kết từng phần hay tổng kết
của giờ học
3.2. Đối tượng và chủ thể thực nghiệm
34
3.3. Địa điểm thực nghiệm
35
3.4. Thời gian thực nghiệm
35
3.5. Nội dung thực nghiệm
35
3.5.1. Giảng dạy bằng giáo án
35
3.5.2. Phát phiếu học tập để kiểm tra trình độ của học sinh
49
3.6. Cách thức tiến hành thực nghiệm
49
3.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm
1.2. Dạy học môn Tiếng Việt ở THPT theo quan điểm tích hợp còn
nhiều tồn tại
Tích hợp là một quan điểm mới mẻ đối với nền giáo dục nước ta. Vận
dụng quan điểm này vào đổi mới giáo dục được thể hiện rõ qua việc xây dựng
chương trình SGK. Cụ thể, chương trình Ngữ văn hiện hành đã hợp nhất ba
bộ phận: Tiếng Việt, Làm văn, Văn thành một thể thống nhất “Ngữ văn”
nhằm mục đích tạo khả năng liên môn, phát huy hết năng lực sáng tạo của học
sinh. Tuy nhiên, thực tế dạy học ở trường THPT còn hạn chế. Giáo viên gặp
khó khăn trong việc thiết kế bài giảng và tổ chức những giờ học mang tính
2
tích hợp vừa phù hợp với nội dung bài học vừa phù hợp với năng lực của học
sinh. Học sinh chưa quen và chưa hứng thú với phương pháp dạy học mới,
bởi vậy các em chưa biết cách liên hệ các kiến thức với nhau. Vì thế, chất
lượng giáo dục chưa thực sự đạt hiệu quả.
1.3. Dạy học bài: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết chưa
đáp ứng mục tiêu mà SGK đề ra
Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là một bài tiếng Việt khá
mới mẻ so với trước đây. Nó được triển khai nhằm giúp học sinh nắm rõ được
những đặc điểm, các mặt thuận lợi và hạn chế của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết. Tuy nhiên, thực tế dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ
viết chưa thực sự đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra. Học sinh chưa nắm
được những ưu và nhược điểm của từng loại ngôn ngữ, chưa biết cách phân
biệt được hai loại ngôn ngữ này. Vì thế, các em chưa có kỹ năng nói và viết
tốt theo đặc điểm của từng loại ngôn ngữ.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: Dạy học bài Đặc
điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong SGK Ngữ văn 10 theo quan
điểm tích hợp.
hợp là sự hợp nhất ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Văn. Đó là một phương
hướng tích cực, có hiệu quả trong dạy học Ngữ văn.
Trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK
môn Ngữ văn 10, GS. Phan Trọng Luận và GS. Trần Đình Sử đã đưa ra quan
điểm của mình về việc lấy quan điểm tích hợp làm tư tưởng chủ đạo trong
việc xây dựng nội dung chương trình SGK là điều cần thiết. Đó là những định
hướng cho việc triển khai đề tài này. Tuy nhiên, những công trình trên chỉ
mang tính khái quát, chưa đề cập nội dung này vào bài Đặc điểm của ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết trong SGK Ngữ văn 10.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài nói trên, chúng tôi nhằm hướng tới những mục đích
cụ thể sau:
4
- Tìm hiểu những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
- Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học tiếng Việt nói chung và
dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nói riêng nhằm tạo
ra những hiệu quả nhất định.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, khoá luận chúng tôi hướng tới những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu để kế thừa và vận dụng vào giải
quyết vấn đề.
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của việc vận dụng quan
điểm tích hợp khi dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
điểm tích hợp.
- Chương 2: Dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
trong SGK Ngữ văn 10 theo quan điểm tích hợp.
- Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm
6
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC BÀI
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT
TRONG SGK NGỮ VĂN 10 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
1.1. Những vấn đề chung về tích hợp
1.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại, tiên tiến đang được áp
dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, khi bàn về quan điểm tích hợp lại xuất
hiện nhiều ý kiến khác nhau:
Trong SGV Ngữ văn 6, GS. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) có nêu:
“Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá
trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình,
cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác
nhau” [14; tr.32].
Còn TS Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “Tích hợp và liên hội hướng tới
kết nối trong dạy học Ngữ văn”quan niệm rằng: Tích hợp là thuật ngữ mà nội
hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác các giá trị của các
tri thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò là
kiến thức nguồn”.
Tuy các ý kiến có những nhận định khác nhau, song đều có điểm chung
sinh biết liên hệ kiến thức, rèn luyện tư duy khái quát tổng hợp, có khả năng
chiếm lĩnh tri thức một cách có hệ thống từ cái cũ đến cái mới, từ cái đã biết
đến cái sẽ biết”[5; tr.76].
1.1.3. Định hướng dạy học tiếng Việt theo quan điểm tích hợp
Chương trình THPT được xây dựng theo quan điểm tích hợp. Không
ngoại lệ, tiếng Việt - một hợp phần của Ngữ văn cũng được triển khai theo
quan điểm này. Bởi vậy, khi dạy học tiếng Việt, giáo viên cần xác định rõ
những định hướng khái quát khi vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học
tiếng Việt. Cụ thể:
8
1.1.3.1. Tích hợp Văn trong dạy học tiếng Việt
Tiếng Việt và Văn có quan hệ mật thiết với nhau, chúng vừa hỗ trợ vừa
tác động lẫn nhau nên việc tích hợp giữa hai phần này là điều tất yếu. Nguyên
tắc tích hợp Văn trong dạy học tiếng Việt thể hiện ở chỗ:
Khi cung cấp một đơn vị kiến thức tiếng Việt nào đó, ta lấy nguồn ngữ
liệu trong các phần đọc - hiểu để phân tích và rút ra kiến thức tiếng Việt.
VD: Trong bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khi giáo viên dạy về
các đặc trưng của phong cách nghệ thuật, giáo viên có thể lấy ngữ liệu trong
các tác phẩm văn chương nghệ thuật: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), Từ ấy
(Tố Hữu), Con cò (Chế Lan Viên), Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương). Hơn
nữa, việc giáo viên sử dụng tác phẩm văn học làm ngữ liệu sẽ là cơ sở giúp
học sinh nhận ra được cách diễn đạt sáng tạo. Qua đó, giúp học sinh thấy
được sự giống và khác nhau trong văn phong của mỗi nghệ sỹ. VD: Cách diễn
đạt táo bạo, mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương qua các bài thơ: Tự tình, Mời
trầu… Cách diễn đạt nhẹ nhàng, uyển chuyển của Thạch Lam qua truyện
ngắn Hai đứa trẻ.
Như vậy, qua viêc phân tích từ ngữ, hình ảnh trong tác phẩm văn học ta
sinh. VD: Khi cho học sinh làm bài tập trong bài Thực hành phép tu từ ẩn dụ
và hoán dụ giáo viên cần khơi gợi cho học sinh nhớ lại kiến thức về ẩn dụ và
hoán dụ đã được học ở THCS.
Sự tích hợp tiếng Việt với tiếng Việt còn được thể hiện rõ qua bài thực
hành và luyện tập, đặc biệt là bài tổng kết ôn tập cuối năm.
1.1.4. Ý nghĩa của quan điểm tích hợp trong dạy học tiếng Việt
Tích hợp có ý nghĩa rất lớn trong việc dạy học tiếng Việt. Vận dụng
quan điểm này trong dạy học tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực, tự học
của học sinh trong mọi khâu của quá trình học. Hơn nữa, nó còn giúp học sinh
có khả năng liên hệ tốt với các phần Làm văn, Văn và các ngành khoa học
khác, đặc biệt là liên hệ với đời sống xã hội. Việc vận dụng quan điểm này
trong dạy học còn nhằm hướng tới mục đích đào tạo ra những thế hệ học sinh
tự giác có năng lực, có ý thức tự lập và có khả năng tư duy, sáng tạo.
10
1.2. Cơ sở lý thuyết về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.2.1. Khái niệm về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Giao tiếp là một trong những hoạt động cơ bản của con người. Cùng
với các hoạt động lao động, cải tạo thế giới, hoạt động giao tiếp là một trong
những yếu tố tạo nên xã hội loài người.
Theo Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991) định nghĩa “Sự giao
tiếp là sự tiếp xúc giữa cá thể này với cá thể khác trong một cộng đồng xã
hội, cộng đồng không có giao tiếp chỉ là một quần thể không có tính chất xã
hội”. Từ quan niệm trên, ta có thể hiểu giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ
người này sang người khác, với mục đích nhất định nào đó. Và hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ là một dạng của hoạt động giao tiếp, hoạt động này
dùng ngôn ngữ (nói, viết) để truyền đạt thông tin nhằm một mục đích nhất định.
Theo GS. Phan Trọng Luận (chủ biên) trong SGK Ngữ văn 10 cho
Trong đoạn hội thoại trên, các nhân vật giao tiếp luân phiên lượt lời với
nhau. Do giao tiếp trực tiếp nên ngôn ngữ của Hoa và Nam không được gọt
giũa (sử dụng cả những câu rút gọn, câu đặc biệt: Ừ; Còn lâu!; Eo!). Bởi vậy,
ta có thể khẳng định đây là hoạt động giao tiếp sử dụng ngôn ngữ nói.
1.2.2.2. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là hoạt động giao tiếp mà
người viết và người đọc giao tiếp với nhau bằng chữ viết. Do sử dụng chữ viết
để giao tiếp nên người viết và người đọc có nhiều thời gian suy nghĩ và lựa
chọn ngôn ngữ.
VD: “Chiều, chiều rồi. Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng
ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi
tối, muỗi đã bắt đầu vo ve. Liên ngồi yên lặng bên quả thuốc sơn đen; đôi mắt
chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm
12
hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man
mác trước cái giờ khắc của ngày tàn.”
(Trích: Hai đứa trẻ - Thạch Lam - SGK 11. Tr.95)
Trong VD trên, ta có thể xác định người viết là tác giả Thạch Lam,
người đọc là các độc giả. Ngôn ngữ tác giả gửi đến độc giả được mã hóa bởi
các ký tự, chữ viết. Những từ ngữ đó, được tác giả gọt giũa, lựa chọn kỹ càng
nên tạo ra những câu văn bóng bẩy, trau chuốt. Dựa vào sự phân tích trên, ta
có thể xác định đây là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ viết.
1.3. Cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1.3.1. Ngôn ngữ nói
1.3.1.1. Khái niệm
Tác giả Nguyễn Quang Ninh, trong cuốn: Một số vấn đề dạy ngôn bản
nói và ngôn bản viết ở Tiểu học theo hướng giao tiếp quan niệm:“Ngôn bản
“Chủ tâm hắn cũng chẳng muốn chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô lại
cứ đẩy cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:
- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với
anh ấy!
Thị cong cớn:
- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói
khoác đấy?
Tràng ngoái cổ lại vuốt mặt trên mặt cười:
- Thật đấy có đẩy thì ra mau lên!
Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng
- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ. - Thị liếc mắt cười tít”
(Trích: Vợ nhặt - Kim Lân -SGK 12)
Trong giao tiếp bằng lời nói, ngữ điệu thường đi liền với cử chỉ, nét
mặt, điệu bộ. Từ những yếu tố phi ngôn ngữ, ta có thể hiểu về ngôn bản một
cách chính xác, tinh tế hơn.
14
Ngôn ngữ nói thường sử dụng từ ngữ đa dạng, bao gồm lớp từ mang
tính khẩu ngữ, từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ, trợ từ, thán từ,
từ ngữ đưa đẩy, chêm xen,...
VD: “Cháu là cháu dại lắm! Bác không biết cháu nghĩ thế nào? Chứ
ăn một cái kẹo nó khác, nó béo bổ vào người. Đằng này, trời ơi! Đằng này
cháu lại hút thuốc lá! Thì có lợi gì không? Hay là nó chỉ có hại”
(Theo SGK Tiếng Việt 11)
Câu trong ngôn ngữ nói khá đa dạng, có thể là câu tỉnh lược, câu rút
gọn, nhiều khi câu rườm rà có nhiều yếu tố dư thừa, trùng lặp.
1.3.2. Ngôn ngữ viết
1.3.2.1. Khái niệm
nguyên liệu.”
(Trích: Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh - SGK 12)
Ngôn ngữ viết thường sử dụng câu dài, nhiều thành phần. Các câu được
tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và các phép liên kết. VD: Khi
đánh giá về các nhân vật trong Truyện Kiều, nhà nghiên cứu Vũ Hạnh viết:
“Nhưng nếu Kiều là người yếu đuối, thì Từ là một kẻ hùng mạnh. Kiều là một
người tủi nhục thì Từ là kẻ vinh quang. Ở trong cuộc sống mỗi bước chân
Kiều đều vấp bất trắc thì trên quãng đường ngang dọc Từ không hề bắt gặp
những khó khăn”.
(Vũ Hạnh)
1.3.3. Sự phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Nói và viết là hai dạng tồn tại của ngôn ngữ, trong đó các nhà ngôn ngữ
học xác định nói là dạng nguyên cấp còn viết là dạng thứ cấp. Bởi thế, giữa
chúng có sự giống và khác nhau. Điều đó được tường minh trong bảng dưới
đây:
16
Loại
Tiêu chí
1. Về chất liệu
Ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ viết
- Sử dụng chất liệu âm - Sử dụng ký tự, chữ viết
thanh, là lời nói trong giao (những yếu tố ngôn ngữ và
tiếp hàng ngày.
từ địa phương. Viết đúng quy
cách con chữ, dùng tốt dấu câu,
tuân thủ nghiêm ngặt những
quy định hình thức của những
văn bản pháp quy.
- Từ ngữ sử dụng đa dạng,
4. Về cách sử có những lớp từ ngữ mang - Từ ngữ chính xác, được lựa
dụng từ ngữ
tính khẩu ngữ, từ ngữ địa chọn đúng phong cách với
phương, tiếng lóng, các từ các kiểu văn bản.
ngữ chêm xen, đưa đẩy.
- Sử dụng những câu ngắn
5. Về cách sử gọn, tỉnh lược. Cũng có khi
dụng câu
sử dụng câu rườm rà, có
nhiều yếu tố thừa.
- Thường là những câu dài,
đầy đủ thành phần ngữ pháp
được tổ chức mạch lạc, chặt
chẽ nhờ từ nối, quan hệ từ.
17
1.3.4. Ý nghĩa của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong dạy học Ngữ văn
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là phần kiến thức khá trọng tâm của
tiếng Việt lớp 10. Nó là sự kế tiếp, đi sâu của bài Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ và là cơ sở để học bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, Phong cách
cũng có khi là câu dài, rườm rà, chứa nhiều yếu tố dư thừa.
* Đặc điểm của ngôn ngữ viết
- Ngôn ngữ viết thể hiện bằng chữ viết, tiếp nhận bằng thị giác nên
người đọc và người viết đều phải biết chữ. Do giao tiếp gián tiếp nên các nhân
vật giao tiếp có thời gian suy nghĩ, lựa chọn từ ngữ. Phạm vi giao tiếp rộng cả
về không gian và thời gian.
- Ngôn ngữ viết được hỗ trợ bởi hệ thống dấu câu, bảng biểu, sơ đồ,...
- Từ ngữ trong ngôn ngữ viết chuẩn mực, đúng phong cách. Câu
thường là những câu dài, đầy đủ thành phần, được tổ chức chặt chẽ, mạch lạc.
* Luyện tập
1.4.2. Điều tra giáo viên
Để thấy rõ được cơ sở thực tiễn của khoá luận chúng tôi đã tiến hành
phát phiếu thăm dò và dự giờ giáo viên. Cụ thể như sau:
Phiếu thăm dò giáo viên (Phụ lục)
1.4.3. Điều tra học sinh
Đối tượng điều tra, khảo sát là học sinh lớp 10 Trường THPT Phả Lại Hải Dương. Phiếu điều tra gồm 50 phiếu, phát cho học sinh Trường THPT
Phả Lại.
Phiếu điều tra học sinh (Phụ lục)
1.4.4. Nhận xét chung về hoạt động dạy học bài Đặc điểm của ngôn ngữ
nói và ngôn ngữ viết trong SGK Ngữ văn 10
Do hạn chế về thời gian nên trong quá trình dạy học giáo viên ít có điều
kiện mở rộng kiến thức và luyện tập sử dụng kiến thức vào tạo lập văn bản