JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci. 2011, Vol. 56, No. 4, pp. 52-61
DẠY HỌC THEO GÓC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG
CHẤT LỎNG TRONG SÁCH GI ÁO KHOA VẬT LÍ 10 NÂNG CAO
VÀ CÁC KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
Đỗ Hương Trà
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trần La Giang
Trường Trung học phổ thông Ch uyên Sơn La
Tóm tắt. Bài báo giới thiệu kết quả thu được qua việc vận dụng dạy họ c
theo góc trong năm học 2009 - 2010 với học sinh của 2 lớp 10 trường THPT
Chuyên của tỉnh Sơn La khi dạy các kiến thức phần Chất lỏng ở chương
Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể. Kết quả này đưa đến triển vọng có
thể vận dụng linh hoạt dạy học theo góc trong một số nội dung kiến thức
Vật lí ở trường Trung học phổ thông nhằm làm cho người học tự giác, tham
gia tích cực vào hoạt động học để nắm được kiến thức.
1. Mở đầu
Dạy học theo góc được hiểu như một kiểu tổ chức dạy học, trong đó với cùng
một vấn đề, giáo viên có thể thiết kế các nhiệm vụ để học sinh giải quyết vấn đề
theo các cách khác nhau. Nội dung kiến thức có thể vượt ra ngoài kiến thức giáo
khoa, liên hệ chặt chẽ với các vấn đề của thực tiễn.
Trong chương trình Vật lí phổ thông, phần Chất lỏng là một phần khó nhưng
có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Để đảm bảo những kiến thức thu được thực sự
có chất lượng, sâu sắc, vững chắc và đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng của thực
tiễn, chúng tôi nhận thấy có thể tổ chức dạy học theo gó c các kiến thức ở phần này.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cơ sở lí luận của dạy học theo góc
Dạy học theo góc là một kiểu tổ chức dạy học theo đó học sinh thực hiện
các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng
hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập [1].
Mỗi học sinh thường có phong cách học khác nhau, có học sinh có năng lực
+ Học tập là một qui trình tích cực, trong đó người học liên tục mở rộng hoặc
thay đổi cấu trúc kinh nghiệm.
+ Mỗi người học có một tập hợp cấu trúc tư duy riêng, dựa trên các kinh
nghiệm họ đã có và dựa trên cách thức họ thiết lập tri thức để phản ánh kinh nghiệm
mới và do vậy mỗi người có cách thức học tập riêng.
- Theo cơ sở sinh lí thần kinh, dạy học cần khai thác các chức năng của bán
cầu não trái và bán cầu não phải để làm sao cho hai bán cầu não phải được hoạt
động, phát triển cân bằng và phối hợp tốt với nhau để con người phát triển to àn
diện về cả trí tuệ và thể lực, về suy nghĩ và hành động
53
Đỗ Hương Trà và Trần La Giang
2.1.3. Thiết kế các nhiệm vụ khi tổ chức dạy học theo góc
Trong dạy học theo góc, g iá o viên cần thiết kế các nhiệm vụ sao cho học sinh
có nhiều sự lựa chọn ứng với mỗi phong cách học và cho họ được trải qua tất cả các
phong cách học khác nhau. Có nhiều phân loại về phong cách học, ở đây, chỉ xin
giới thiệu cách phân loại theo chu trình học tập của David Kolb. Chu trình học tập
có thể bắt đầu từ bất cứ điểm nào trong 4 điểm/giai đoạn và nó có hình xoáy ốc.
Hình 1. Chu trình học tập của Kolb [3]
Trong chu tr ình học tập trên, Kolb giải thích:
- Kinh nghiệm cụ thể: có nghĩa là người học huy động vốn kiến thức đã biết
trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tậ p nhằm hình thành kiến thức mới.
- Quan sát phản ánh: có nghĩa là người học xem xét lại những vấn đề đã làm
và trải qua trong quá trình học tập.
- Tư duy trừu tượng: người học phân tích, tổng hợp các vấn đề, diễn giải các
sự kiện và tìm mối quan hệ giữa chúng để hình thành khái niệm.
- Thử nghiệm tích cực: cho phép người học có được sự hiểu biết mới và suy
diễn thành những dự đoán về những gì diễn ra sau đó và những hành động nào cần
phải thực hiện để cải thiện cách thức học tập hoặc thực hiện công việc.
Dựa vào chu trình học tập của Kolb có thể chia thành 4 kiểu học hay 4 phong
cách học tương ứng, đó là:
hoạt động từ dễ đến khó, do đó học sinh có sở thích, năng lực khác nhau, nhịp độ
học tập và phong cách học khác nhau đều có thể tìm cách thích ứng và thể hiện
năng lực của mình. Điều này cho phép giáo viên giải quyết vấn đề đa dạng trong
nhóm, học sinh có cơ hội thể hiện năng lực của mình.
- Hướng tới việc học sinh được thực hành, khám phá và thử nghiệm qua mỗi
hoạt động. Khi thực hiện nhiệm vụ tại các góc, học sinh sẽ bị cuốn hút vào việc
học tập tích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám
phá các cơ hội học tập mới mẻ như: “khám phá, thực hành”; sáng tạo; đọc hiểu các
nhiệm vụ và các bảng hướng dẫn; tự áp dụng, tự khẳng định, tự phát triển năng
lực của mình cũng như năng lực hợp tác học tập với nhau;. . .
- Tạo ra sự tương tác tích cực giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh với
nhau. Căn cứ vào nội dung bài học, đặc trưng của dạy học theo góc và điều kiện
55
Đỗ Hương Trà và Trần La Giang
thực tế của lớp học, giáo viên cần xác định: số góc; nhiệm vụ và qui định thời g ia n
tối đa hoạt động ở mỗi góc; những thiết bị, đồ dùng, phương tiện cần thiết cho hoạt
động cũng như hướng dẫn học sinh chọn góc và luân chuyển qua đủ các góc; thiết
kế hoạt động đánh giá và củng cố nội dung bài học.
2.2. Lựa chọn nội dung và tổ chức dạy học theo góc một số kiến
thức chương Chất lỏng
2.2.1. Lựa chọn nội dung
Dựa trên tiến trình nhận thức các kiến thức vật lí, trên cơ sở phân tích nội
dung kiến thức khoa học về các hiện tượng mặt ngoài chất lỏng, chúng tôi nhận
thấy có 2 con đường xây dựng kiến thức ở bài Chất lỏng. Hiện tượng căng bề mặt
của chất lỏng và bài Hiện tượng dính ướt và không dính ướt. Hiện tượng mao dẫn.
Con đường thứ I: bằng thực nghiệm lần lượt phát hiện ra sự tồn tại của lực
căng mặt ngoài, hiện tượng dính ướt và không dính ướt, hiện tượng mao dẫn. Sau
đó sử dụng thuyết cấu tạo phân tử và tính linh động của các phân tử chất lỏng, để
giải thích các hiện tượng.
Con đường thứ II: xuất phát từ thuyết cấu tạo phân tử và cấu trúc của chất
- Câu hỏi nghiê n cứu: Mặt ngoài của chất lỏng có tác dụng lực lên vậ t tiếp
xúc với đường giới hạn của nó không?; Phương và chiều của lực căng mặt ngoài
được xác định như thế nào?; Độ lớn của lực căng mặt ngoài phụ thuộc vào các yếu
tố nào?; Xây dựng các phương án thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm đo lực căng
mặt ngoài, sau đó điền kết quả và o bảng sau:
Khung
Chiều
dài
Khối lượng
thanh trượt
Khối lượng
gia trọng
móc vào
Khối lượng
tổng cộng
Trọng
lượng tổng
cộng
Lực căng
mặt ngoài
(m) (mg) (mg) (mg) (N) (N)
1
2
3
- Hướng dẫn của giáo viên: Gợi ý để học sinh nêu được các phương án thí
nghiệm, hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm, thông qua các thí nghiệm nhận biết
được sự tồn tại của lực căng mặt ngoài, xác định được phương chiều, độ lớn của lực
căng mặt ngoài.
Thí nghiệm 1: Dao lam trên mặt nước, khung hình chữ U có thanh trượt,
khung chữ nhật có hai cạnh là hai sợi chỉ để nhận biết sự tồn tại của lực căng mặt
số căng bề mặt của chất lỏng?
- Hướng dẫn của giáo viên: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu sách giáo khoa để
trả lờ i các câu hỏi nghiên cứu trong phiếu học tập.
- Sản phẩm: Hoàn thành phiếu học tập để rút ra kết luận về lực căng mặt
ngoài.
2.3. Đánh giá kết quả thu được
Qua phân tích băng hình, phân tích các sản phẩm họ c tập của học sinh chúng
tôi đã thu được một số kết quả như sau:
2.3.1. Tính khả thi của phương án dạy học đã thiết kế
* Bài Chất lỏng. Hiện tượng căng bề mặt của chất lỏng
Học sinh đã đạt được mục tiêu đặt ra trong quá tr ình học, kết quả thu được
cụ thể như sau:
- Góc quan sát: Học sinh thích thú và rất chú ý quan sát thí nghiệm mô phỏng
về sự dịch chuyển của thanh trượt, que diêm, thanh kim loại, hình dạng của dây chỉ,
sự tăng, giảm các móc nặng khi thay đổi chiều dài đường giới hạn mặt thoáng chất
lỏng, thay đổi bản chất, nhiệt độ chất lỏng. Học sinh tích cực tr ao đổi, thảo luận
trong nhóm để thống nhất rút ra được kết luận về sự tồn tại, phương chiều và các
vị trí tồn tại của lực căng mặt ngoài, sự phụ thuộc độ lớn của lực căng mặt ngoài
vào bản chất của chất lỏng và chiều dài đường giới hạn mặt thoáng chất lỏng.
- Góc hoạt động: Học sinh hào hứng, hăng hái tham gia đề xuất phương án
thí nghiệm, tiến hành các thí nghiệm đo được độ lớn của lực căng mặt ngoài. Một
số học sinh còn đề xuất phương án cải tiến thí nghiệm. Các nhóm đều trả lời được
58
Dạy học theo góc một số kiến thức chương Chất lỏng
câu hỏi trong phiếu học tập và rút ra được kết luận.
- Góc phân tích: Học sinh tự giác, tập trung nghiên cứu SGK một cách độc
lập, sau đó tích cực thảo luận đi đến thống nhất nội dung về sự tồn tại, phương
chiều, các vị trí tồn tạ i của lực căng mặt ngoài và công thức xác định độ lớn của lực
căng mặt ngoài. Học sinh nêu được ý nghĩa của hệ số căng bề mặt của chất lỏng.
Từ kết quả thu được, học sinh đã trả lời được câu hỏi cho vấn đề đặt ra : Vì
nhân gây nên hiện tượng mao dẫn, vận dụng được kiến thức để giải thích các hiện
tượng thực tiễn, nêu được ứng dụng của hiện tượng mao dẫn trong sản xuất, kĩ
thuật. . ., vận dụng được công thức tính độ cao cột chất lỏng dâng lên trong ống
59
Đỗ Hương Trà và Trần La Giang
mao dẫn, độ cao của cột chất lỏng dâng lên giữa hai tấm thủy tinh khi chất lỏng
làm dính ướt hoàn toàn thủy tinh để g iải một số bài tập.
2.3.2. Tiến trình dạy học đối với việc phát triển tư duy của học sinh
* Phát triển ngôn ngữ (nói, viết)
- Học tập theo tiến trình dạy học có soạn thảo trước đã phát triển cách diễn
đạt bằng lời của học sinh:
+ Thứ nhất là các em tự tin khi giao tiếp: vì thường xuyên tra o đổi, thảo luận
trong nhóm, trong lớp nên các em đã có thói quen dám nói ra và bảo vệ ý kiến của
mình trước đông người đồng thờ i cũng phát triển ở các em khả năng suy nghĩ, xử
lí tình huống một cách nhanh nhạy.
+ Thứ hai là các em đã biết cách sử dụng ngôn ngữ vật lí để mô tả, giải thích
hiện tượng vật lí.
+ Thứ ba là khi trình bày bảo vệ ý kiến của mình và bác bỏ ý kiến của người
khác, các em đã có thái độ hợp tác và chú ý cách dùng từ ngữ để tránh gây ra tranh
luận căng thẳng. Qua đó các em rèn luyện được kĩ năng g ia o tiếp, ứng xử của mình.
- Qua tiến trình dạy học, các em đã phát triển được ngôn ngữ viết: biết cách
tự ghi chép những kiến thức cần thiết trong bài, biết sửa lỗi chính tả khi cùng làm
việc, trao đổi với các bạn trong nhóm. Trong các bài học cũng như trong các bài
kiểm tra, các em đã tiến bộ rất nhiều khi trình bày điều mình hiểu.
* Rèn luyện các thao tác tư duy, các hành động nhận thức trong
học tập Vật lí
- Học sinh biết phân tích một hiện tượ ng vật lí phức tạp thành các hiện tượng
đơn giản, biết cách tìm hiểu t ác động của một yếu tố lên một hiện tượng khi có
nhiều yếu tố tác động cùng một lúc.
- Học sinh đã được làm quen với cách đo lực một cách gián tiếp qua việc các
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng và Cao Thị Thặng,
2009. Dạy và học tích cực. Một s ố kĩ thuật và phương pháp dạy học. Nxb Đại học
Sư phạm Hà Nội.
[2] Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E. Pollock. Các phương pháp dạy
học hiệu quả. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[3] Madeline Hunter, Robin Hunter, 2004. Làm chủ phương pháp giảng dạy, (nhóm
dịch: Nguyễn Đào, Quý Châu). Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh.
ABSTRACT
Working "in corners" with some knowledges on Liquid
presented in the 10 Advanced Physics textbook
of the 10th class and some obtained results
This paper presents some of our results obtained in the academic year 2009
- 2010 throughout the application of working "in corners" with some knowledge
of Liquid presented in chapter Solid and Liquids - Transformation of States to the
students of the 10th classes of two High schools in Son La Province. The results
show that it may flexibly organize activities of working "in corners" with some
knowledges of Physics in High Schools, that make students more self-conscious and
active in their studies.
61