NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ ĐỐI VỚI NỘI DUNG BÀI: “MÁY BIẾN ÁP. TRUYỀN TẢI ĐIỆN” SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ 12 NÂNG CAO - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ HUYỀN

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC
THEO CHỦ ĐỀ ĐỐI VỚI NỘI DUNG BÀI:
“MÁY BIẾN ÁP. TRUYỀN TẢI ĐIỆN”
SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÍ 12 NÂNG CAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


Đại Học Tây Bắc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô, Ban Giám Hiệu nhà
trường và tập thể lớp 12A1, 12A2 trường THPT Trần Quốc Tuấn – Quảng
Yên – Quảng Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi tổ chức thực nghiệm
sư phạm cho đề tài.
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện
Trần Thị Huyền

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Câu hỏi : CH
Câu hỏi bài học : CHBH
Chỉ số cố gắng : CSCG
Dạy học : DH

1.1.1. Bản chất hoạt động học 4
1.1.2. Bản chất của hoạt động dạy 4
1.2. Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS 5
1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 5
1.2.2. Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 5
1.2.3. Tính tích cực của học sinh trong học tập 6
1.3. Dạy học các ứng dụng kỹ thuật của vật lí 7
1.3.1. Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật trong dạy học vật lí
7
1.3.2. Hai con đường dạy học những ứng dụng kỹ thuật của vật lí 8
1.4. Dạy học theo chủ đề 9
1.4.1. Khái niệm dạy học theo chủ đề 9
1.4.2. Mục tiêu của dạy học theo chủ đề 10
1.4.3. Đặc điểm của dạy học theo chủ đề 12
1.4.4. Các giai đoạn tổ chức dạy học theo chủ đề 13
1.4.5. Ý nghĩa của dạy học chủ đề 13
1.5. Vai trò của giáo viên và học sinh 14
1.5.1. Vai trò của học sinh 14
1.5.2. Vai trò của giáo viên 15
1.6. Sự giống và khác nhau giữa dạy học truyền thống và dạy học theo chủ đề
19
1.6.1. Điểm giống nhau 19
1.6.2. Điểm khác biệt 19
1.7. Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học vật lí
20
1.7.1. Khái niệm về hoạt động nhóm
20
1.7.2. Một số kĩ thuật hoạt động nhóm
20
1.7.3. Ưu, nhược điểm của tổ chức hoạt động theo nhóm 23

1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn khóa luận
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập quốc tế về mọi mặt, sự phát
triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ, cũng
như khả năng ứng dụng chúng vào thực tế. Để đáp ứng được thực tế đó đòi hỏi
ngành giáo dục phải đổi mới trên mọi phương diện đặc biệt là đổi mới PPDH. Vì
vậy, người GV ngoài việc dạy cho HS kiến thức còn phải dạy cho HS cách học
để có thể học suốt đời. Luật giáo dục 2005, chương I, điều 2 đã viết: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1].
Đổi mới PPDH trong đó có môn vật lí nói riêng và các môn học khác nói
chung là một yêu cầu cấp thiết và cấp bách của giáo dục nước ta hiện nay. Trong
nghị quyết trung ương 4 khóa VII đã đề ra nhiệm vụ: Đổi mới PPDH ở tất cả các
cấp học, bài học. Hướng tới việc thực hiện đổi mới PPDH chú trọng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học cần phải có những PP và kĩ thuật
DH như: PPDH theo chủ đề, PPDH theo góc, hợp đồng, những mảnh
ghép Trong khóa luận này, tôi tập trung trình bày nghiên cứu về PP tổ chức
DH theo chủ đề.
DH theo chủ đề là mô hình DH mà nội dung học được xây dựng thành các
chủ đề có ý nghĩa thực tiễn và thể hiện mối liên hệ, liên môn, liên lĩnh vực (chủ
đề tích hợp) để HS có thể phát triển ý tưởng một cách toàn diện.
Trong chương trình Vật lí phổ thông, đặc biệt là chương trình vật lí 12
chương “Dòng điện xoay chiều” thường gây nhiều khó khăn cho HS. Để HS có
thể tự chủ, linh hoạt, tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và phát huy khả năng tư

biến áp. Truyền tải điện”.
5. Giả thuyết khoa học
Vận dụng cơ sở lí luận của DH theo chủ đề có thể tổ chức quá trình DH nội
dung kiến thức bài “Máy biến áp. Truyền tải điện” theo hướng phát huy tính tích
cực, tự chủ, sáng tạo của HS trong học tập.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức bài 32: “Máy biến áp. Truyền tải điện” chương “Dòng
điện xoay chiều” SGK vật lí 12 nâng cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng phối hợp các PP sau:
+ PP nghiên cứu lí luận.
+ PP điều tra.
+ PP thống kê toán học.

3
8. Đóng góp của khóa luận
Vận dụng cơ sở lí luận của DH theo chủ đề vào tiến trình DH nội dung kiến
thức bài “Máy biến áp. Truyền tải điện” SGK vật lí 12 nâng cao.
Có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và GV phổ thông.
9. Cấu trúc của khóa luận
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1 : Cơ sở lí luận.
Chương 2 : Tổ chức DH các kiến thức bài “Máy biến áp. Truyền tải điện”
SGK vật lí 12 nâng cao.
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm.
Phần III: Kết luận

là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà
học tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã
được khái quát hóa, hệ thống hóa.
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những kĩ năng, kĩ xảo
mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động
học. Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, PP học.
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi HS. Do đó, nó giữ vai trò
chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lí người học.
1.1.2. Bản chất của hoạt động dạy
Bản chất của quá trình DH là quá trình nhận thức độc đáo của HS dưới vai
trò chủ đạo của GV [8].
Quá trình DH cần phải chú ý tới tính độc đáo đó trong quá trình nhận thức
của HS để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá
trình nhận thức của HS. Tuy nhiên, không vì quá coi trọng tính độc đáo mà thiếu
quan tâm đến việc tổ chức cho HS dần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động
tìm tòi khám phá khoa học vừa sức, nâng cao dần để chuẩn bị cho các em tự
khai thác tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học trong tương lai. 5
1.2. Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS
1.2.1. Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, độc
lập, sáng tạo hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của
người học [6].
DH tích cực là thuật ngữ dùng để chỉ những PP giáo dục, DH theo hướng
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng
tới hoạt động hóa, tích cực hóa người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính
tích cực của người học trong hoạt động nhận thức. PPDH tích cực hàm chứa cả
PP dạy và PP học.

nhận xét trong tư duy, tò mò khoa học. Đây chính là trạng thái tâm lí tích cực có
mục đích và đối tượng rõ rệt, có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó [6].
Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy. GV có thể
căn cứ vào những biểu hiện sau (theo các cấp độ từ thấp lên cao) để phát hiện
tính tích cực của HS:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của GV, của bạn,…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác
nhau về một số vấn đề,…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
- Chú ý học tập, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, ghi chép,…
- Tốc độ học tập nhanh.
- Ghi nhớ những điều đã học.
- Hiểu bài và có thể trình bày lại nội dung bài học.
- Hoàn thành tốt những nhiệm vụ học tập được giao.
- Đọc thêm và làm các bài tập khác ngoài những công việc được GV giao.
- Hứng thú học tập, có nhiều biểu hiện sáng tạo trong học tập.
- Biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.
Tính tích cực có liên quan đến nhiều phẩm chất và hoạt động tâm lý nhận
thức của con người. Cụ thể là động cơ tạo ra hứng thú, hứng thú lại là tiền đề
của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực. Tính
tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng
tạo. Như thế, để đạt được mức độ độc lập, sáng tạo trong nhận thức, GV phải
thường xuyên phát huy tính tích cực học tập ở HS.
Tóm lại, tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến
vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức
sang chủ đề tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Tất cả các PP nhằm
tích cực hóa hoạt động học tập của HS đều được coi là PPDH tích cực. 7

- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật là con đường tốt nhất tạo điều kiện phát
triển tư duy vật lí kỹ thuật của HS.
Trong quá trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật, HS làm quen với việc vận
dụng các kiến thức vật lí (định luật, nguyên lí, ) vào giải thích hoạt động của

8
một ứng dụng kỹ thuật hay tham gia vào quá trình thiết kế một ứng dụng kỹ
thuật. Ban đầu, HS có thể được lôi cuốn tự lực chuẩn bị các dụng cụ mang tính
chất thiết kế đơn giản dưới dạng hình vẽ, sơ đồ, bản vẽ kèm theo những lời chú
thích tương ứng. Ở mức độ cao hơn, HS có thể thảo luận về mặt lý thuyết một số
vấn đề cụ thể của ứng dụng kỹ thuật vật lí. Quá trình này sẽ tạo điều kiện phát
huy óc sáng kiến kỹ thuật, phát triển tư duy sáng tạo của HS.
- Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật giúp HS thấy được ý nghĩa to lớn của việc
phát minh ra các định luật, nguyên lí, hiệu ứng,… vật lí và hiểu được ứng dụng
của chúng trong cuộc sống hàng ngày. Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật là
sự minh chứng cho vai trò ngày càng tăng của việc ứng dụng vật lí vào nền công
nghiệp sản xuất hiện đại phát triển cao. Qua đây HS có thể nhận thức được công
lao to lớn của các nhà bác học cũng như hiểu được phát minh của họ đã phục vụ
cho loài người như thế nào.
- Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật kích thích hứng thú, nhu cầu học tập
của HS đối với môn vật lí.
Các vấn đề trong kỹ thuật, đời sống được đặt ra và giải quyết ở giờ học vật
lí. Qua đó HS hiểu được mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn của các kiến
thức vật lí trong đời sống sản xuất. Điều đó tạo ra hứng thú học tập cho HS.
1.3.2. Hai con đường dạy học những ứng dụng kỹ thuật của vật lí
* Con đường thứ nhất
Quan sát cấu tạo của đối tượng kĩ thuật đã có sẵn và tìm hiểu, giải thích
nguyên tắc hoạt động của nó dựa trên các định luật vật lí.
Tiến trình nghiên cứu con đường này gồm các giai đoạn chính sau:
Giai đoạn 1: Quan sát thiết bị máy đã có cho vận hành và xác định chính

Trong đó:
- HS: Được tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung kiến
thức của chủ đề. Họ sẽ làm quen với tiến trình khoa học và kết quả sau khi học
bản thân họ tự lực tìm tòi và xử lí thông tin.
- GV: Giao cho HS nhiệm vụ học tập và đưa vào đó những nội dung kiến
thức mà HS cần nắm bắt được khi học chủ đề, định hướng giúp đỡ họ hoàn
thành nhiệm vụ.
- Hình thức: Kết hợp cách tổ chức học theo truyền thống và học theo nhóm
nhưng chủ yếu vẫn là theo nhóm.
- Phương tiện: Kết hợp các phương tiện DH truyền thống và hiện đại (kết
hợp giữa SGK, tài liệu tham khảo, thiết bị, dụng cụ thí nghiệm và các phần mềm
hỗ trợ) đặc biệt là kết hợp công nghệ thông tin vào DH.
- Mối quan hệ giữa học – dạy – kiểm tra đánh giá trong DH chủ đề:

10
+ Học: Kết hợp giữa học trên lớp với tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo.
Người học là một chủ thể tích cực chủ động tìm ra kiến thức bằng hành động
của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn.
+ Dạy: Dạy cho người học biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo.
Trong DH chủ đề, GV tổ chức và hướng dẫn quá trình dạy – tự học, quá trình
kết hợp giữa cá nhân hóa với xã hội hóa việc học.
+ Kiểm tra, đánh giá: Kết hợp giữa đánh giá kết quả và đánh giá quá trình,
kết hợp giữa đánh giá của HS với đánh giá của GV.
Trong chương trình vật lí ở phổ thông hiện nay nội dung kiến thức đã được
biên soạn theo hướng tích hợp. Tuy nhiên, trong các chủ đề lớn (cơ, nhiệt, điện,
quang,…) việc DH vẫn được tiến hành theo hình thức từng bài đã được quy định
trong chương trình, nội dung và cách học còn mang nặng tính lí thuyết, hàn lâm,
xa rời thực tiễn, xa rời nhu cầu của đa số người học nên hiệu quả học tập chưa
cao. Có nhiều nội dung có thể tổ chức thành chủ đề và tổ chức DH theo chủ đề.
Ví dụ như các chủ đề về: công – năng lượng, cảm ứng điện từ, dòng điện trong

thuật, công nghệ xung quanh các vấn đề liên quan đến nội dung học làm cho
kiến thức được học gắn kiền với thực tiễn mà HS đang sống, gần với nhu cầu
hiểu biết của HS, giúp họ tìm được ý nghĩa của việc học và mong muốn vận
dụng kiến thức vào thực tiễn xung quanh mình, cũng là làm cho họ thích thú,
say mê khoa học…
* Hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn luyện các kĩ năng giải quyết vấn
đề theo tiến trình khoa học.
Khác với quan niệm truyền thống là lĩnh hội kiến thức, trang bị hiểu biết
phương thức làm việc trong khoa học vật lí, rèn luyện các kĩ năng cần thiết để
hoạt động nghiên cứu và học tập vật lí. DH theo chủ đề dù là đối với nội dung
môn học nào cũng hướng tới trang bị hiểu biết về tiến trình khoa học và rèn các
kĩ năng tiến trình khoa học. Đó là tiến trình và các kĩ năng có thể vận dụng để
giải quyết các vấn đề khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống,
nghề nghiệp sau này: Quan sát thực tiễn, thu thập thông tin, xử lí thông tin, suy
luận và áp dụng thực tiễn.
* Rèn luyện các kĩ năng tư duy bậc cao như phân tích – tổng hợp, đánh giá,
sáng tạo.
Các mô hình DH tích cực hiện nay đều hướng tới phát triển các kĩ năng tư
duy bậc cao vì ngày nay, để giải quyết bất cứ vấn đề thực tiễn nào con người
cũng phải tiến hành việc phân tích, so sánh, đánh giá,… trong khi DH truyền
thống rất ít quan tâm và ít tạo được cơ hội tư duy đến mức này (do phải tập
trung phần lớn thời gian và sự quan tâm vào việc truyền thụ và lĩnh hội nội
dung). Trong DH theo chủ đề việc quan tâm đến các câu hỏi khái quát và câu
hỏi bài học là quan tâm đến mục tiêu này.
* Rèn luyện các kĩ năng sống và làm việc như: ngôn ngữ, giao tiếp, hợp tác…

12
Là các mục tiêu quan trọng mà tất cả các mô hình DH tích cực ngày nay
hướng tới. Đó là những kĩ năng không thể thiếu cho sự thành công của mỗi người
trong thời đại ngày nay dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực thực tiễn nào. Trong mô

13
1.4.4. Các giai đoạn tổ chức dạy học theo chủ đề [3]
Trong DH chủ đề, GV có thể thực hiện các công việc của mình theo các
giai đoạn dưới đây để tổ chức hoạt động nhận thức của người học:
Chọn chủ đề, xác định ý tưởng tổ chức chủ đề (ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa
học của chủ đề,…), có thể mô tả dưới dạng sơ đồ tư duy.

Xác định mục tiêu của chủ đề (mục tiêu nhận thức và mục tiêu nhân văn)

Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
(gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung)

Xây dựng các bài tập trước, trong và sau khi học chủ đề, giao cho HS và
chuẩn bị tài liệu hỗ trợ HS; Xây dựng các tiêu chí đánh giá quá trình và kết
quả học tập của HS.

Tổ chức các nhóm học tập để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Đánh giá quá trình và đánh giá kết quả học tập của HS dựa trên những tiêu chí
đã xây dựng.
Hình 1.1: Các giai đoạn DH theo chủ đề
1.4.5. Ý nghĩa của dạy học chủ đề
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội thì
vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới là:
- Làm thế nào để kiến thức được học, dù là các kiến thức cổ điển vẫn hấp
dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay?
- Làm thế nào để nội dung học có sự tích hợp, tinh giản và bền vững?

- Phải hoàn thành các bài tập trước, trong và sau khi học. Điều này có thể
kết hợp giữa học cả lớp và học theo nhóm.
- Cần có sự phân công việc trong nhóm một cách hợp lí, đồng thời cử ra
trưởng nhóm đóng vai trò là người quản lí các hoạt động của từng thành viên

15
trong nhóm. Ghi đầy đủ thông tin vào bảng phân công công việc của nhóm, biên
bản thảo luận nhóm, biên bản tự đánh giá và đánh giá các thành viên,…
- Tham giam tích cực vào việc trao đổi thông tin, tranh luận, đóng góp ý
kiến,… để hoàn thành tốt việc thu thập và xử lí thông tin, đưa ra kết quả cuối cùng.
- Hoàn thành các sản phẩm từ các bài tập được giao và trình bày sản phẩm
của nhóm.
- Tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá các thành viên trong nhóm về
ý thức, thái độ, hiệu quả làm việc. Thông qua tự đánh giá và đánh giá các thành
viên, HS nhận rõ được ưu, nhược điểm của những công việc mình đã làm,
những khó khăn gặp phải, những gì đã làm được, những gì cần chỉnh sửa, bổ
sung hoặc phải thay đổi hoàn toàn, những gì cần phát huy,…
1.5.2. Vai trò của giáo viên
Trong DH theo chủ đề, GV không còn là người thuyết trình, diễn giảng mà
đóng vai trò là người hướng dẫn bên cạnh HS. GV luôn phải đặt ra những câu
hỏi cho HS suy nghĩ và thử thách họ nhằm hỗ trợ những kết quả của họ. GV
không dạy kiến thức mà thông qua sự chỉ dẫn, làm mẫu giúp cho HS tự lực
chiếm lĩnh kiến thức. Vai trò của GV sẽ không còn là những chuyên gia, bản
thân họ cũng phải tìm kiếm và xử lí thông tin cùng với HS.
Các nhiệm vụ cụ thể của GV như sau:
* Xác định chủ đề dạy học
Giai đoạn chọn chủ đề là giai đoạn hết sức quan trọng của mô hình DH này.
Trước tiên GV phải là người lựa chọn được chủ đề (tức là cần xem xét
những nội dung kiến thức nào có thể tích hợp thành một chủ đề và có thể tổ
chức dạy DH chủ đề một cách thuận lợi), phải xác định được những nội dung

Các câu hỏi bài học có đặc điểm sau:
- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan đến chủ đề và môn học cụ thể đối với câu
hỏi khái quát.
- Các câu hỏi bài học thường mở ra và gợi ý những hướng nghiên cứu,
bàn luận.
- Được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của HS.
Câu hỏi nội dung: Là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung và mục
tiêu bài học. Đó là những câu hỏi yêu cầu người học trả lời dựa trên thực tế bài
học. Các câu hỏi nội dung chú trọng vào sự kiện hơn là giải thích sự kiện đó và
thường có câu trả lời rõ ràng.
Với DH chủ đề thì các câu hỏi nội dung sẽ cụ thể hóa những kiến thức cần
xây dựng (có thể dưới dạng sơ đồ tư duy), cũng có thể định hướng cho quá trình
thảo luận của HS hay đơn giản là giúp cho họ tái hiện lại kiến thức đã tìm hiểu.
* Xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học chủ đề
Đối với DH chủ đề, GV cần phải xây dựng hệ thống bài tập trước, trong và
sau khi học chủ đề.

17
- Bài tập trước khi học: Thường được giao cho HS sau khi họ đã lựa chọn
được chủ đề. Đó có thể là nghiên cứu tài liệu để xây dựng sơ đồ những kiến thức
cần nghiên cứu, cũng có thể là tìm hiểu một ứng dụng thực tế nào đó của kiến
thức có trong chủ đề,…
- Bài tập trong khi học: Là bài tập giao cho các nhóm HS thực hiện trong
đó lồng vào những kiến thức mà họ phải lĩnh hội. Như vậy, trước khi xây dựng
các bài tập này, GV phải có ý định tổ chức các nhóm học tập trên lớp cho phù
hợp với mục tiêu đề ra. Các bài tập trong khi học thường là những bài có gắn với
những ứng dụng thực tế thường gặp.
- Các bài tập sau khi học: Có thể kết hợp các loại bài tập như: trắc nghiệm
khách quan, trắc nghiệm tự luận, bài tập có nội dung thực tế,…
* Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh, chuẩn bị cơ sở vật

Với DH theo chủ đề, bài kiểm tra, các câu hỏi không còn là cách thức duy
nhất để đánh giá HS nữa. Thay vào đó là những kĩ thuật đánh giá đa dạng, khác
nhau, có thể là:
- Nhận định những phản hồi dưới hình thức thảo luận với bạn học và với GV.
- Việc tự đánh giá sẽ giúp phát triển sâu về nhận thức cũng như tư duy sâu
hơn trong học tập.
- Việc đánh giá chất lượng sản phẩm và hoạt động sẽ do bạn cùng học và
GV tiến hành.
Trong DH theo chủ đề, đánh giá liên tục và định kì là khâu tất yếu. Để làm
tốt công việc này thì việc đánh giá nên tập trung vào các câu hỏi cụ thể sau:
+ HS hướng tới các mục tiêu học tập như thế nào?
+ HS sử dụng được các kĩ năng tư duy nào?
+ Liệu HS có nâng cao được khả năng tự quản lí, tư duy sâu để học tốt
hơn không?
+ HS tích cực và sử dụng thông tin mới hiệu quả đến mức nào?
+ Điều gì đã thúc đẩy động cơ của HS?
+ Hiệu quả của các can thiệp đặc biệt của GV như thế nào?
+ Liệu chiến lược DH có cần phải thay đổi không?
GV sẽ tổ chức cho HS đánh giá quá trình học tập theo nhóm của từng cá
nhân và kết quả học tập. Giúp họ tự nêu ra những khó khăn trong quá trình thực
hiện, nhận ra những chỗ hạn chế, cách khắc phục, những chỗ có thể bổ sung,
phát triển để mở rộng…
Để giúp HS thành công trong quá trình đánh giá và tự đánh giá GV cần
cung cấp cho HS:
+ Các tiêu chuẩn rõ ràng.
+ Những cơ hội để HS theo dõi sự tiến bộ của chính mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status