Tổ chức dạy học theo chủ đề chương Mắt – Các dụng cụ quang vật lý 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin - Pdf 23

1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 3

Danh mục các bảng, biểu đồ, đồ thị 4

MỞ ĐẦU 5

1. Lý do chọn đề tài 5

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

3. Mục tiêu của đề tài 9

4. Giả thuyết khoa học 9

5. Nhiệm vụ nghiên cứu 9

6. Đối tượng nghiên cứu 10

7. Phạm vi nghiên cứu 10


1.3.2. Vai trò của CNTT trong dạy học theo chủ đề 32

1.4. Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG MẮT –
CÁC DỤNG CỤ QUANG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT
34
2.1. Đặc điểm nội dung chương Mắt – Các dụng cụ quang 34

2.1.1. Cấu trúc chương Mắt – Các dụng cụ quang 34

2.1.2. Mục tiêu dạy học chương Mắt – Các dụng cụ quang 35

2.1.3. Thực trạng dạy học chương Mắt – Các dụng cụ quang 36

2.2. Lựa chọn chủ đề dạy học chương Mắt – Các dụng cụ quang 37

2.3. Giới thiệu website dạy học chương Mắt – Các dụng cụ quang 37

2.4. Thiết kế các chủ đề dạy học chương Mắt – Các dụng cụ quang 44

2.5. Soạn thảo tiến trình dạy học theo chủ đề chương Mắt – Các dụng cụ quang
với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin 54
2.6. Kết luận chương 2 64

CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 65

3.2. Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 65

Dạy học
ĐC
:
Đối chứng
GV
:
Giáo viên
HS
:
Học sinh
PPDH
:
Phương pháp dạy học
PTDH
:
Phương tiện dạy học
QTDH
:
Quá trình dạy học
SGK
:
Sách giáo khoa
SGV
:
Sách giáo viên
THPT
:
Trung học phổ thông
TLHT
:

69

Bảng 3.3

Bảng phân phối tần suất tích luỹ

70

Bảng 3.4
Bảng phân loại theo học lực của HS
71

Bảng 3.5

Bảng các thông số thống kê

71

Biểu đồ 3.1
Biểu đồ phân bố điểm số của hai nhóm ĐC và TN
69

Biểu đồ 3.2

Biểu đồ phân phối tần suất lũy tích

70

Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi ngành giáo dục phải có sự đổi mới đồng bộ

và toàn diện trên tất cả các khâu của quá trình DH, đặc biệt là đổi mới PPDH. Đây

là mục tiêu lớn được Đảng, Nhà nước, Ngành Giáo dục và Đào tạo đặt
ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng
các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào QTDH "[21].
Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (Ban hành kèm theo QĐ số

201/2001/QĐ-TT ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), ở mục

5.2 cũng khẳng định rằng: "Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển

từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học
chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp
tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp,
phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học
sinh trong quá trình học tập…"[8]
Như vậy, giáo dục ở trường phổ thông không chỉ hạn chế ở khâu truyền thụ
kiến thức đơn thần mà điều quan trọng hơn, cơ bản hơn là xây dựng cho thế hệ trẻ
phương pháp suy nghĩ và làm việc, cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề thực tiễn,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và xu thế
của thời đại. Đây là nhiệm vụ to lớn, không thể giải quyết trọn vẹn trong trường phổ

6

thông, cũng như trong phạm vi một bộ môn nhưng đó là mục tiêu tập trung của các
môn học, trong đó có vật lý.

Ở nước ta, việc DH theo chủ đề trong DH nói chung và DH theo chủ đề trong
7

vật lý nói riêng chưa được áp dụng rộng rãi và chưa có sự quan tâm
đúng mức. Trong xu thế đổi mới PPDH hiện nay là tăng cường hoạt động của người
học, đặc
8

biệt là hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân, rèn luyện những kỹ năng thiết yếu
của người lao động mới thì đây là một hạn chế. Nguyên nhân là do GV chưa có
quan niệm cụ thể về DH theo chủ đề và khai thác nó trong DH vật lý, việc DH theo
chủ đề cũng đòi hỏi phải dành nhiều thời gian và công sức hơn. Do đó, việc nghiên
cứu đưa ra một hệ thống cơ sở lý luận cho DH theo chủ đề trong DH vật lý để từ đó
có thể áp dụng đối với từng chủ đề cụ thể là rất thiết thực nhằm đổi mới PPDH vật

lý theo đúng yêu cầu đặt ra.

Qua nghiên cứu cấu trúc, nội dung kiến thức và tìm hiểu thực trạng DH chương
Mắt – Các dụng cụ quang vật lý 11 nâng cao hiện nay, chúng tôi nhận thấy phần
kiến thức trong SGK tương đối khó, khá nặng về lí thuyết và thiếu mối liên hệ với
thực tế, do đó chất lượng và hiệu quả giảng dạy còn chưa cao. Những kiến thức về
chương Mắt – Các dụng cụ quang là cơ sở của nhiều ứng dụng trong đời sống và
trong các ngành kĩ thuật. Chính vì thế, việc tổ chức kiến thức chương Mắt – Các
dụng cụ quang thành chủ đề không chỉ cung cấp cho HS một khối lượng kiến thức
nền tảng mà còn thay đổi không khí học tập giúp cho các em cảm thấy hứng thú
hơn, đồng thời bồi dưỡng khả năng tự học và rèn luyện những kỹ năng cần thiết mà
xã hội đang đòi hỏi.

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức dạy học
theo chủ đề chương Mắt – Các dụng cụ quang vật lý 11 nâng cao với sự hỗ trợ

tính với các hệ thống đa phương tiện và mạng Internet, truy cập một số địa chỉ trên
mạng Internet để lấy thông tin phục vụ công tác nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra,
một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến việc ứng dụng CNTT trong DH vật lý như
Nguyễn Thị Kim Thu sử dụng Microsoft Powerpoint để thiết kế bài giảng và giảng
dạy bài tập vật lí ở trường phổ thông. Các tác giả: Nguyễn Văn Cần, Nguyễn Hoàng
Nam thì khai thác Microsoft Frontpage để thiết kế bài giảng điện tử ở các phần khác
nhau trong chương trình vật lí phổ thông. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ứng
dụng của CNTT nhưng những nghiên cứu về ứng dụng của nó trong DH theo chủ
đề còn rất hạn chế.

DH chủ đề ra đời từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX và được nhiều nước có
nền giáo dục phát triển áp dụng như một chiến lược đổi mới giáo dục phổ thông.
Trong những năm gần đây, DH chủ đề là một trong những hướng nghiên cứu ở các
trường đại học sư phạm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật
lý. Với mong muốn vận dụng những ý tưởng hay phù hợp với thực tiễn giáo dục
nước ta, đã
có một số nghiên cứu DH chủ đề vào chương trình vật lý phổ thông, trong đó có tác

giả Tăng Thị Ngọc Thắm với đề tài “Dạy học chủ đề và việc vận dụng vào thiết kế

giảng dạy phần Từ trường và cảm ứng điện từ vật lý 11 trung học phổ thông”[22]

đã trình bày cơ sở lý luận của DH theo chủ đề và ứng dụng nó trong phần Từ trường

và cảm ứng điện từ vật lý 11. Tác giả Trần Thị Vân với đề tài “Ứng dụng công nghệ
11

thông tin vào dạy học theo chủ đề cho phần cơ học chương trình vật lí 10 trung học
phổ thông”[27] cũng đề cập đến các đặc trưng cơ bản của DH theo chủ đề và việc tổ
12

Các dụng cụ quang.
- Xây dựng các chủ đề DH chương Mắt – Các dụng cụ quang .

- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho các chủ đề của chương Mắt – Các dụng

cụ quang vật lý 11 nâng cao THPT.

- Thiết kế tài liệu hỗ trợ DH để HS tham khảo.

- Soạn thảo một số tiến trình DH cụ thể các chủ đề của chương Mắt – Các
dụng cụ quang vật lý 11 nâng cao THPT.
- Tiến hành TNSP nhằm đánh giá hiệu quả của việc DH theo chủ đề chương

Mắt – Các dụng cụ quang.

13

6. Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học theo chủ đề chương Mắt – Các dụng cụ quang vật lý 11

nâng cao với sự hỗ trợ của CNTT.

7. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu và xây dựng các chủ đề chương Mắt – Các dụng

cụ quang trong chương trình vật lí 11 nâng cao THPT và tiến hành thực nghiệm ở

trường THPT Đồng Hới - Quảng Bình.

9. Những đóng góp của đề tài

Về lí thuyết:

- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về DH theo chủ đề đặc biệt là xây dựng được quy
trình và tiến trình DH theo chủ đề.
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về ứng dụng CNTT trong DH theo chủ đề

14

Về thực tiễn:

- Thiết kế Website hỗ trợ DH chương Mắt – Các dụng cụ quang làm PTDH vật

lý để nâng cao chất lượng của QTDH.

- Thiết kế được ba chủ đề trong chương Mắt – Các dụng cụ quang vật lí lớp 11

nâng cao và mỗi chủ đề được thiết kế theo tiến trình DH đã đề xuất.

- Tạo cơ hội cho HS tiếp cận với CNTT, làm việc theo nhóm và tự giải quyết
vấn đề.
- Từ nghiên cứu lý luận và triển khai vận dụng vào thực tiễn DH, chúng tôi đã
chứng minh được việc tổ chức DH theo chủ đề với sự hỗ trợ của
CNTT trong QTDH đã phát huy được tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS, góp
phần nâng cao chất lượng DH vật lý ở trường THPT.
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho GV khi giảng dạy chương Mắt – Các
dụng cụ quang.
10. Cấu trúc của luận văn


giá kết quả học tập. Tuy nhiên, việc thực hiện đổi mới PPDH rõ ràng là không đơn
giản. Sau đây, chúng ta sẽ phân tích một số lí do làm cho chất lượng giáo dục chưa
cao.- Đa số GV vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình xen kẽ hỏi đáp để thông

báo, giảng giải kiến thức nên chưa phát huy được tính tích cực, tự lực, sáng tạo của

HS.- Việc sử dụng các PTDH hiện đại vào DH còn hạn chế, hoặc chỉ
được sử

dụng trong các tiết dạy tốt, thao giảng.

- Nhiều GV còn ngại đổi mới, chưa thực sự thấm nhuần bản chất,
phương hướng và cách thức đổi mới PPDH; những hiếu biết về cơ sở lý luận của
đổi mới PPDH chưa sâu sắc.
- HS ít có cơ hội làm việc nhóm hay hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề

về bài học.

- Nội dung kiến thức còn ít liên hệ với thực tiễn và đời sống. Việc rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức môn học, tri thức liên môn vào giải quyết những chủ đề có
tính chất phức tạp, gắn liền với thực tiễn chưa được chú ý.
Những vấn đề trên đã phần nào làm ảnh hưởng đến mục tiêu của
đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay: “Thay đổi lối DH truyền thụ một chiều
sang DH theo PPDH tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

vấn đề - giải quyết vấn đề; các PPDH được thiết kế trên cơ sở các phương pháp
nhận thức khoa học như phương pháp giả thuyết - thực nghiệm, phương pháp
tương tự - mô hình; các PPDH theo quan điểm kiến tạo, DH khám phá, DH theo
chủ đề, DH dự án nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động DH.
2 - Dạy học bằng hoạt động và thông qua hoạt động của HS

Chiến lược quan trọng của việc đổi mới PPDH là: Dạy học thông qua việc tổ
chức các hoạt động của HS. Theo lí thuyết của Vưgốtxki, bằng hoạt động và thông
qua hoạt động, mỗi người tự hình thành, tạo dựng, phát triển ý thức và nhân cách
của mình. Vận dụng vào DH, thông qua hoạt động học, HS tự cải tạo chính mình:
chiếm lĩnh kiến thức mới, khắc phục những hiểu biết sai lầm, phát triển năng lực trí
tuệ, trau dồi ngôn ngữ, thể hiện những quan điểm đạo đức và thái độ ứng xử của

18

mình. Vai trò chủ yếu của GV là tổ chức, hướng dẫn và phải tìm cách kiểm tra được
kết quả hoạt động của HS bằng cách:
- Tăng cường sử dụng PPDH “vấn đáp tìm tòi”: bằng những câu hỏi rõ ràng,

có tính chất gợi ý, nêu vấn đề, GV tạo điều kiện cho HS phải động não, tư duy để
tích cực tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri thức. Trật tự lôgic của câu hỏi hướng
dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, quy luật của hiện tượng, kích
thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn hiểu biết.
- Dành “đất” cho hoạt động độc lập của HS: bằng các câu hỏi mở buộc HS

phải vận dụng trí nhớ về kiến thức đã học đồng thời phải tư duy để giải quyết vấn
đề. Nó đòi hỏi HS phải động não nhiều hơn, chủ động và sáng tạo hơn trong học
tập.

- Trao nhiệm vụ học tập ngày càng nặng dần cho HS. Thông thường,

PPDH

tương tác theo nhóm để tổ chức DH cho HS.

PPDH theo nhóm tiêu biểu cho một kiểu làm việc trí tuệ theo
nhóm (tổ). Phương pháp này có hai điểm mấu chốt mà ta cần lưu ý:
- Điểm thứ nhất: “tiếp xúc trực diện” đòi hỏi giữa GV và HS cũng như giữa

HS với nhau phải có mối quan hệ tế nhị, tốt đẹp, đồng thời HS cần phải phát triển ở
mình một mức độ tự tin nhất định và các em phải được đảm bảo rằng
những ý tưởng của mình sẽ được lắng nghe thật sự tuy rằng không nhất thiết sẽ
được chấp nhận.
- Điểm thứ hai: “Tự do trao đổi những ý tưởng”. Điều này chỉ có thể xảy ra
trong môi trường lớp học thân thiện, thoải mái và quan trọng là trong tình huống ở
bất cứ đâu HS cũng có thể liên hệ mật thiết với chủ đề học tập. Nếu HS không biết
hoặc biết rất ít về nội dung học tập thì GV khó có thể thực hiện thành công phương
pháp này và việc thảo luận nhóm rất có thể chỉ kết cục bằng sự thuyết giảng của GV
về chủ đề đó. Do đó, việc cung cấp cho HS những thông tin cần thiết đúng lúc, đúng
chỗ sẽ giúp ích rất nhiều cho việc thành công của PPDH theo nhóm.
PPDH theo nhóm nếu được áp dụng đúng đắn có thể giúp HS:

+ Biết phán xét, suy luận tốt hơn vì có thỏa thuận chung của nhóm;

+ Nâng cao tính nhạy cảm của mỗi người cả với chủ đề học tập lẫn với những
bạn cùng tham gia;
+ Biết lắng nghe ý kiến người khác tranh luận, ứng xử và cộng tác trong nhóm;

+ Chuẩn bị được những phương thức lựa chọn và giải pháp chặt chẽ cho vấn

đề đã trình bày ban đầu.

vô cùng phong phú, đa dạng. Làm sao các em có thể giải quyết được các tình huống
đó? Tất cả những thực tế đó đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải bồi dưỡng cho HS
những kỹ năng sống cần thiết bên cạnh việc truyền thụ hệ thống kiến thức. Trong số
những kỹ năng cần rèn luyện cho HS, người ta đặc biệt chú ý tới các kỹ năng thực
hiện các tiến trình khoa học. Đó là các kỹ năng thu thập thông tin, xử lý thông tin và
truyền đạt thông tin.
6 – Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn bè và tự đánh giá

Trong DH, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng

và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của GV. Trước đây, GV giữ độc quyền đánh
giá HS. Trong PPDH tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh
giá để tự điều chỉnh cách học và tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia
đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực
rất cần thiết
cho sự thành công trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS.

23

7 – Nghiên cứu, đổi mới quá trình thực hành, thí nghiệm

Vật lí học là môn học khoa học thực nghiệm, do đó thực hành vật lí là một
trong những biện pháp quan trọng để thu lượm thông tin từ thực tế. Thông qua thực
hành không những kỹ năng quan sát, lắp ráp thí nghiệm, đo đạc, vẽ đồ thị được rèn
luyện mà cả óc suy đoán, tư duy suy luận cũng phát triển. Muốn thế, GV không thể
cho HS thực hành theo cách chỉ đâu làm đấy một cách máy móc, mô tả đơn giản
một hiện tượng xảy ra đã rõ ràng mà cần cho HS nắm được mục đích, xây dựng
phương án thí nghiệm, làm các thí nghiệm minh họa, xử lý kết quả để rút ra kết
luận. Từ đó, phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trong học tập.


24

- Chuẩn bị các thiết bị thí nghiệm, các PTDH cần thiết.

25

- Hoạch định các hoạt động học của HS và các hoạt động dạy tương ứng của

GV trong tiết học. Ví dụ:Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- Tạo tình huống học tập, giao nhiệm vụ

học tập cho HS
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập.
- Tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho HS

+ Giảng sơ lược nội dung (nếu cần).

+ Giới thiệu và hướng dẫn cách tham
khảo tài liệu, làm thí nghiệm, lấy
kết quả thí nghiệm.
- Thu thập thông tin

+ Nghe GV giảng.

+ Tìm thông tin trong SGK và các tài


DH theo chủ đề không phải là phương pháp mà có thể coi nó như một cách
tiếp cận chương trình, một cách xây dựng cấu trúc hệ thống kiến thức, nhằm hướng
tới việc hình thành ở HS những kĩ năng của tiến trình khoa học, cũng như giúp HS

tự xây dựng cho mình một hệ thống kiến thức mang tính hệ thống và có tính thực
tiễn cao.
Theo chiến lược DH này, HS đóng vai trò chủ thể, trung tâm, tự tìm ra tri thức
bằng hoạt động của chính mình với sự hỗ trợ của các bạn (nhóm học tập) và GV

Trích đoạn Phương pháp thực nghiệm sư phạm Điều kiện triển khai dạy học theo chủ đề ở trường THPT Kết luận chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status