Tổ chức dạy học chương “Mắt Các dụng cụ quang” (Vật lý 11- nâng cao) theo định hướng phát huy tính tích cực, tự lực học sinh - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 
KHOA VẬT LÍ 

‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐‐ 

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY 

 

Giáo viên hướng dẫn: Thầy Nguyễn Mạnh Hùng
Sinh viên thực hiện: Lê Bá Mạnh Hùng

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2008


LỜI CẢM ƠN
Để có thể được làm luận văn tốt nghiệp này, lời dầu tiên, tôi xin chân
thành cảm ơn toàn thể quí thầy cô giảng viên khoa Vật Lý, cảm ơn quý thầy cô
đã tận tình dạy dỗ tôi trong bốn năm học qua.
Để hoàn thành luận văn này, trước hết, tôi xin gửi cảm ơn chân thành,
sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Mạnh Hùng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Kế đến, tôi xin cảm ơn thầy Nguyễn Văn Vinh đã cho phép tôi giảng dạy
tại lớp, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo các kinh nghiệm giảng dạy trong quá trình
tôi vận dụng thực giảng phương pháp mới.
Ngoài ra, tôi cũng xin cảm ơn ban giám hiệu trường THPT Bùi Thị
Xuân, Quận I đã tạo điều kiện cho phép tôi giảng dạy thử phương pháp mới tại
trường.
Lời cuối cùng, tôi xin kính chúc quí thầy cô trong ban giám hiệu nhà

“Tổ chức dạy học chương “Mắt. Các dụng cụ quang” (Vật lý 11- nâng cao) theo định
hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh” làm luận văn tốt nghiệp. Hy vọng rằng


với đề tài này, tôi có thể chuẩn bị cho mình hành trang để trở thành người giáo viên tốt
trong tương lai.
2. Những nghiên cứu liên quan đến đề tài:
- Do thời gian làm luận văn có hạn, những tài liệu mà tôi tiếp cận cũng không nhiều
nên những nghiên cứu liên quan đến đề tài, tôi cũng không được trực tiếp đọc và nghiên
cứu. Đa số những tư liệu mà tôi sử dụng trong bài luận văn này đều được dịch lại và biên
soạn lại theo tư tưởng của các tác giả trong nước. Tuy nhiên, qua nghiên cứu những tài
liệu có được, tôi cũng có một số thông tin về các nghiên cứu liên quan đến phương pháp
dạy học tích cực.
- Trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát triển, phương pháp giáo dục
nhằm hướng đến phát huy tính tích cực, tự lực, năng lực tư duy sáng tạo đã được nghiên
cứu từ rất lâu. Cụ thể là nhà giáo dục Đức A. Đixtervec đã khởi xướng phương pháp giáo
dục tích cực từ năm 1956. Đến những năm 70 của thế kỉ XX, ông I.F. Kharlamop đã
nghiên cứu sâu sắc hơn và hệ thống lại trong các phương pháp giáo dục tích cực của nền
giáo dục Xô viết trong cuốn sách “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào ?”
(Sơ thảo về lý luận dạy học) (NxbGD.1978. Người dịch: Đỗ Thị Trang, Nguyễn Ngọc
Quang). Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác như Polya, K.Đ. Usinxki, M.Vaxiliep, L.V.
Đancôp, A.Anhstanh(Mỹ)….
- Ở nước ta, ngày nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học
tích cực của các tác giả Phạm Hữu Tòng, Nguyễn Ngọc Quang,… Từ những năm 90, giới
nghiên cứu LLDH Việt Nam tập trung nghiên cứu Phương pháp giáo dục tích cực LẤY
NGƯỜI HỌC LÀM TRUNG TÂM với định nghĩa và các đặc trưng cơ bản sau:
“ PPGD tích cực lấy người học làm trung tâm là sự tích hợp thường xuyên các mối
quan hệ giáo dục trò – lớp – thầy trong quá trình hoạt động giáo dục theo quan điểm
người học là trung tâm với những đặc trưng cơ bản sau đây:


4. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Đọc tài liệu có liên quan
- Xây dựng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
- Soạn giáo án theo lí thuyết đã đề ra
- Vận dụng giảng một số tiết học
- Rút kinh nghiệm, hoàn thiện lí thuyết đã đề ra.
5. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu và tham khảo các tài liệu về tâm lí, giáo dục học đại cương, triết học,…
có liên quan đến phương pháp dạy học và các tài liệu về phương pháp dạy học tích cực.
- Phương pháp thực nghiệm: vận dụng lí thuyết đã nghiên cứu, rút kết được vào việc
soạn giáo án một số bài trong chương “Mắt. Các dụng cụ quang” (Vật lí 11- nâng cao)
sau đó vận dụng thực tế giảng dạy và rút ra các kết luận.
6. Phạm vi giới hạn của đề tài:
- Do thời gian và khả năng của em có hạn, việc nghiên cứu và ứng dụng đề tài chỉ áp
dụng cho một số bài trong chương “Mắt. Các dụng cụ quang” (Vật lí 11- nâng cao). Cụ
thể là bài:
 Thấu kính mỏng
 Mắt


 Kính lúp
 Thực hành: “Đo tiêu cự của thấu kính phân kì”
Đồng thời, để dễ dàng hơn cho việc soạn giáo án và tiến hành giảng dạy, luận văn này
chỉ tiến hành thực giảng trên đối tượng học sinh giỏi, khá, các em học sinh trong lớp học
khá đều nhau.


CHƯƠNG I:  

CƠ SỞ LÍ LUẬN 

học hiện đại. Có tư duy sáng tạo, kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có
tính tổ chức kỉ luật.
- Có sức khỏe.


Muốn đào tạo được con người khi vào đời là con người tự chủ, năng động,

sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và
phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong học
tập và lao động ở trường và ở nhà.


Các phương pháp dạy học đã có hiện nay chủ yếu chỉ dựa trên những yêu

cầu của xã hội cũ, chủ yếu là việc cung cấp và truyền thụ các kiến thức và kĩ năng tương
ứng theo một chiều: “Thầy truyền thụ, trò tiếp nhận”. Có hai hình thức chủ yếu:
+ Kiểu dạy thứ nhất là người giáo viên truyền đạt (thông báo) cho học sinh các tri
thức về thế giới tự nhiên và phương thức hoạt động của con người, còn học sinh thì tiếp
thu các thông tin ấy một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua các phương tiện khác
nhau như lời nói, đồ vật, với các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Học sinh cố gắng
hiểu, ghi nhận và ghi nhớ các thông tin ấy. Dù giáo viên hoạt động giảng bài hay cho học
sinh nghiên cứu sách giáo khoa, hay dùng các phương tiện hiện đại như phim, ảnh, máy
chiếu hình, các thí nghiệm… thì bản chất của nó vẫn là thầy cung cấp thông tin còn học
sinh thì tiếp thu thông tin với tất cả các phương tiện mình có. Kiểu dạy học này còn được
gọi là giải thích- minh họa hoặc thông tin- tiếp thu.
+ Kiểu dạy thứ hai là giáo viên tạo ra những điều kiện để học sinh nhớ lại, củng cố,
vận dụng theo mẫu những tri thức và phương thức hoạt động mà học sinh đã tiếp thu
được từ giáo viên. Nó thể hiện ở việc giáo viên cho luyện tập, làm bài tập, làm các thí



ăn cơm sau khi bật đèn sáng hoặc bấm chuông. Lặp đi lặp lại nhiều lần, tạo thành phản xạ
có điều kiện.
Theo Pavlôp, dạy là thành lập những phản xạ có diều kiện hình thành kinh nghiệm
hành động, học là hình thành những phản xạ trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ không
điều kiện được di truyền.
Cơ chế hình thành một phản xạ có điều kiện là phối hợp một kích thích có điều kiện
với một kích thích không điều kiện để tạo ra một trả lời không điều kiện. Theo đó, quá
trình dạy học gồm các khâu chủ yếu sau:
+ Xác định yêu cầu dạy học
+ Tăng hiệu quả dạy học
Theo học thuyết này, bài học là do người thầy đưa ra, áp đặt cho đối tượng học, mục
đích và nội dung đều do người thầy định đoạt. Đó là dạy học thụ động, lấy việc dạy
(người thầy) làm trung tâm, người học thụ động tiếp thu những gì thầy truyền đạt.
 Học thuyết B.F. Skinner 
Theo Skinner, học là tự điều hòa hành vi dẫn đến một hành vi mong muốn bằng cách
thử sai.
Thí nghiệm nổi tiếng theo trường phái Skinner là dạy bồ câu cách chọn đúng thức ăn
trong đời sống thiên nhiên, dạy chuột đạp cần câu cơm…
Trong các thí nghiệm trên, mục tiêu, động cơ hành động của người học (chim bồ câu,
chuột) là không do chủ quan người dạy áp đặt mà xuất phát từ động cơ bình thường trong


đời sống, người dạy dạy cái mà người học cần chứ không chỉ áp đặt theo ý đồ riêng của
mình.
Từ thực nghiệm, Skinner rút ra được ba quan niệm lí thuyết:
- Chỉ học cái đang làm, làm là để học. Hiểu biết tức là hành động có hiệu quả.
- Học bằng kinh nghiệm: trẻ phải được tiếp xúc với môi trường nó đang sống. Giáo
viên phải cung cấp cho học sinh cơ hôi tích lũy kinh nghiệm bản thân.
- Học bằng cách thử sai.
Theo Skiner, ông có khuynh hướng lập lại hành vi nào đem lại hiệu quả và có lợi,

học hay năng lực tự học của trò dù là non nớt đến đâu vẫn là nội lực quyết định sự phát
triển của bản thân người học. Chất lượng giáo dục đạt đỉnh cao khi tác động của ngoại
lực (thầy, môi trường học tập) cộng hưởng được với nội lực- năng lực tự học của trò.
Chính vì vậy, hoạt động dạy học cần được tổ chức sao cho người học phát huy được
tối đa tinh thần tích cực, tự lực, hoàn thành các nhiệm vụ học tập nhằm phát triển, hoàn
thiện nhân cách bản thân.

3. Giáo dục học 
Theo quan điểm của giáo dục học, học là hành động của người học thích ứng với tình
huống, qua đó, người học chiếm lĩnh được kinh nghiệm xã hội, lịch sử biến thành năng
lực thể chất tinh thần của cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân.
Mục đích của giáo dục là phát triển nhân cách của người học một cách toàn diện và
hài hòa. Trong cấu trúc của cá nhân thì phát triển trí tuệ giữ vai trò quyết định, chính vì
vậy, việc tổ chức hoạt động dạy học sao cho người học hình thành được nhân cách tự


chủ, tích cực, sáng tạo, có khả năng giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra là rất cần
thiết.

4. Tâm lý học 
Tâm lí học hoạt động là một trong những cơ sở quan trọng khẳng định yêu cầu của
việc tổ chức hoạt động học tập tích cực, tự lực cho học sinh.
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ của mình với thế giới bên
ngoài (tự nhiên và xã hội), giữa mình với người khác, giữa mình với bản thân. Trong quá
trình đó, con người bộc lộ tâm lí (năng lực, ý chí, mong muốn…) ra bên ngoài. Diễn ra
song song với quá trình này là quá trình con người chuyển đối tượng hoạt động của mình
vào thế giới nội tâm tạo nên tâm lí, nhân cách bản thân. Tóm lại, trong quan hệ giữa mình
với bên ngoài, con người vừa thay đổi thế giới bên ngoài, vừa thay đổi bản thân, vừa tạo
ra sản phẩm lao động đồng thời hình thành nên nhân cách bản thân.
Cấu trúc hoạt động (theo A.N Lêonchive) bao gồm: động cơ, mục đích, các hành

chúng ta, ngay cả hiện nay, tư tưởng này vẫn rất phổ biến, nhà giáo ngăn cấm hoặc hầu
như rất ít khi tạo điều kiện cho người học hoạt động một cách tích cực, tự lực. Tiếp nhận
quan điểm giáo dục này, người học chỉ có nhiệm vụ tiếp thu từ bên ngoài những sản
phẩm chế biến sẵn của tri thức và đạo đức của ngời lớn, mối quan hệ giáo dục được tiến
hành bằng áp lực của một phía và sự tiếp nhận của phía bên kia. Từ quan điểm đó, những
công việc của học sinh, ngay những việc làm cá nhân nhất (làm một bài văn, bài toán,
viết một bài luận…) rất ít khi là sự tìm tòi, nghiên cứu của cá nhân, chỉ là sự luyện tập bị
áp đặt hoặc sự sao chép theo mẫu bên ngoài.
Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp là cần thiết để xây dựng được con người có
nhân cách tích cực mà mục tiêu dạy học đã đề ra.


III. Đặc điểm bộ môn vật lý: 
Vật lí học là môn khoa học tự nhiên, các kiến thức vật lí được hình thành chủ yếu dựa
vào các thao tác tư duy, suy diễn, tiên đoán, mang rất nhiều dấu ấn của sự sáng tạo. Vì
vậy, trong quá trình người học tiếp thu các kiến thức vật lí, có nhiều điều kiện thuận lợi
để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực.

B. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 
I. Phương pháp dạy học tích cực: 
Hệ phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm gọi tắt là phương
pháp dạy học tích cực được xem như một hệ thống phương pháp tích cực có thể đáp
ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thế kỉ XXI, có khả năng định
hướng cho việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân
hóa và xã hội hóa việc học. Hệ thống phương pháp đó cũng là sự kết hợp, tích hợp
nhiều phương pháp gần gũi nhau như phương pháp tích cực, phương pháp hợp tác,
phương pháp giải quyết vấn đề, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học…. Hệ
thống đó cũng là sự kết hợp tư tưởng và thành tựu giáo dục hiện đại của thế giới với
truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học và tư tưởng giáo dục tiến bộ của dân tộc.
Trong phương pháp này, người học không thụ động, chỉ nghe thầy giảng và thu

Trò

Chủ thể

Học một biết mười chính là học cách học, học cách làm, cách giải quyết vấn
đề, cách xử lí các tình huống, cách tìm ra chân lí, phát huy tìm năng tự học, sáng
tạo trong mỗi con người. Lấy bất biến ứng vạn biến chính là nắm cho được
nguyên lí côt lõi, cách tiếp cận, cách sống… để vận dụng thiên biến vạn hóa.


Học để hành, hành để học, tức là tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính
mình nhằm mục tiêu con người hành động, con người thực tiễn. Học và hành phải
đi đôi. Học mà không có hành thì học vô ích. Hành mà không có học thì hành
không trôi chảy ( Hồ Chí Minh). Cách tốt nhất để hiểu là làm (Emanuel Kant, triết
gia Đức). Suy nghĩ tức là hành động (Jean Piaget, nhà tâm lí Thụy Sĩ). Chính vì
vậy, quá trình học kiến thức cần phải kết hợp chặt chẽ, đi đôi với việc rèn luyện
các kĩ năng tương ứng.
“Tôi nghe tôi quên
Tôi nhìn tôi nhớ
Tôi làm tôi hiểu”
Quá trình người học tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức cũng là quá trình người
học tự tìm ra ý nghĩa của việc học, chiếm lĩnh kĩ xảo của nhận thức và tạo ra các
cầu nối của nhận thức. Đó là quá trình cá nhân hóa việc học.
Tât nhiên tri thức người học tự tìm ra dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu
khoa học. Bằng con đường nào có thể làm cho tính chất cá nhân đó trở thành
khách quan, khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp
tác với các bạn trong cộng đồng lớp học.
 Người học tự thể hiện mình, hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học, 
làm  cho  kiến  thức  cá  nhân  tự  tìm  ra  mang  tính  chất  xã  hội,  khách  quan 
hơn, tức là xã hội hóa việc học. 

trình bày, bảo vệ sản phẩm của mình ở tập thể lớp học, trao đổi, tranh luận với các


bạn cùng lớp, kiến thức chủ quan của người học mới giảm bớt phần chủ quan,
phiến diện, tăng thêm tính khách quan khoa học. Học bạn, hợp tác với bạn, người
học mới có thể tự nâng mình lên trình độ mới.
Trong quá trình lao động tập thể, tranh luận ở lớp học, thường diễn ra các tình
huống đấu tranh giữa chủ quan và khách quan, đúng và sai, khẳng định và phủ
định, cá nhân và tập thể…Các tình huống đó lập đi lập lại làm cho người học phát
hiện ra các mối quan hệ cần duy trì với các sự vật và người khác, dần dần tìm ra
được cách ứng xử với sự vật và con người, từ đó, quá trình khám phá tri thức mới
cũng là quá trình hình thành nhân cách thông qua vai trò của lớp học được tiến
hành.
Như vậy, tác động xã hội hóa của sự hợp tác trò- trò, của cộng đồng lớp học là
vô cùng quan trọng, không thể thiếu được, song vẫn là ngoại lực, có thể trở nên
hình thức nếu không dựa trên cơ sở phát huy khả năng tự lực, năng lực tự học, tính
tích cực, chủ động của người học, thông qua các hoạt động hợp tác, người học
phải chủ động thể hiện mình, tức là tự đặt mình vào tình huống nhiệm vụ học, đưa
ra cách xử lí tình huống, tự trình bày và bảo vệ đến cùng sản phẩm nghiên cứu của
bản thân mình, tỏ rõ thái độ của mình trước ý kiến của bạn, tranh luận đúng sai,
tập giao tiếp, hợp tác với các bạn trong quá trình tự tìm ra kiến thức, tự rút ra kết
luận, bài học cho bản thân qua các hành động tập thể…
Tuy nhiên, cả cá nhân và cộng đồng các chủ thể có thể gặp phải những vấn đề
nan giải, những tình huống không xử lí được, những vật cản khó vượt qua, những
cuộc tranh luận không kết thúc được, những tri thức mới cả lớp chưa ai biết
đến…Và cuối cùng phải nhờ đến thầy.
 Nhà giáo‐ người tổ chức quá trình học tập tích cực cho người học
Thầy chủ động điều hành tam giác sư phạm, lấy cực trò (việc học) làm trung
tâm quá trình giảng dạy của mình.


huống học. Thầy kích thích trò hoạt động và can thiệp đúng lúc cần thiết để cho
các cuộc tranh luận và hoạt động đi đúng hướng hoặc để đặt lại vấn đề, nêu thêm
các tình huống mới nảy sinh trong tiến trình hoạt động tập thể, tạo điều kiện thuận
lợi cho tất cả người học đều thể hiện được mình và rút ra những kinh nghiệm, bài
học cụ thể qua hoạt động nhóm, tổ, lớp… để tự điều chỉnh làm cho kiến thức cá
nhân tự tìm ra mang tính xã hội, khách quan, khoa học hơn.
Cuối cùng, khi cá nhân và xã hội đứng trước cuộc tranh luận chưa ngã ngũ,
một tình huống không xử lí được…lúc đó vai trò không thể thay thế được của nhà
giáo là vai trò người trọng tài khoa học kết luận có tính chất khẳng định về mặt
khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể lớp và xử lí đúng đắn các tình huống phức
tạp nổi lên trong quá trình hoạt động học. Kết luận của thầy là bài học cho người
học song không phải là bài học có sẵn trong sách giáo khoa mà là bài học tổng kết
từ những gì mà người học đã tự lực tìm ra với sự hợp tác của các bạn. Kết luận của
thầy là sản phẩm khoa học của cả trò, lớp và thầy: mô hình dạy học tích cực lấy
người học làm trung tâm, theo logic từ việc học đến việc dạy, nhưng vẫn thiết kế
theo hướng phát huy sự tương tác giữa các cực trò- lớp- thầy- khách thể, trong đó,
sáng kiến điều hành chung cả tam giác sư phạm bao giờ cũng thuộc về thầy: bao
giờ thầy cũng là người khởi xướng, tổ chức, hướng dẫn chương trình tự học, tự
nghiên cứu của trò. (Trong sơ đồ tam giác sư phạm, tác động lẫn nhau giữa các
cực bao giờ cũng xuất phát từ cực thầy, theo chiều mũi tên)
Tất nhiên thầy còn có chức năng kiểm tra, đánh giá việc học của trò.
 Người học tự kiểm tra, đánh giá, tự điều chỉnh 
Trong quá trình tự mình tìm ra kiến thức, người học tạo ra một sản phẩm giáo
dục ban đầu có thể là chưa chính xác, chưa khoa học, sau khi hợp tác, trao đổi với
các bạn, người học đã tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình cho khách quan
hơn. Với kết luận cuối cùng của thầy, sản phẩm đó mới được diễn đạt một cách


thực sự khách quan, khoa học. Căn cứ vào kết luận của thầy, người học tự kiểm
tra, đánh giá lại sản phẩm ban đầu của mình và tự điều chỉnh, tự hoàn thiện thành

Lấy trò làm trung tâm

- Thầy truyền đạt kiến thức.

- Trò tự mình tìm ra kiến thức bằng hành
động của chính mình.

- Thầy độc thoại, phát vấn.

- Đối thoại thầy- trò, trò- trò, hợp tác với
bạn, học bạn.

- Thầy áp đặt kiến thức có sẵn.

- Hợp tác với bạn, với thầy, khẳng định
kiến thức do trò tìm ra.
- Học cách học, cách giải quyết vấn đề,

- Trò học thuộc lòng.
- Thầy độc quyền, đánh giá, cho
điểm cố định.

cách sống và trưởng thành.
- Tự đánh giá, tự sửa sai, điều chỉnh làm cơ
sở cho thầy cho điểm cơ động.

2. Các pha của quá trình dạy học theo hướng tích cực: 
Có thể mô tả mối quan hệ trò - lớp - thầy đặc trưng cho phương pháp giáo dục tích
cực lấy người học làm trung tâm qua hoạt động dạy học cụ thể gồm 3 giai đoạn như sau:
+  Giai  đoạn  1: người học làm việc cá nhân trước tình huống khó khăn do thầy tổ


Tự nghiên cứu

(2) Tổ chức

Tự thể hiện

(3) Trong tài, cố vấn

Tự kiểm tra

Kết luận, kiểm tra

Tự điều chỉnh


Trích đoạn Trình độ sáng tạo (đề suất và giải quyết vấn đề không theo mẫu sẵn có) Trình Các kiểu đị nh hướng hành độ ng học tập t ự lực của học sinh: Sử dụng các phương tiện công nghệ thơng tin vào q trình dạy học vật lí Biện pháp tăng khả năng chú ở học sinh: Tạo bầu không khí học tập thân thiện, thoải mái trong lớp học:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status