Dạy học dự án một số kiến thức chương Mắt và các dụng cụ quang Vật lí lớp 11 ban cơ bản THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM























HOÀNG VĂN CHÍNH

















HOÀNG VĂN CHÍNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ MẮT VÀ CÁC
DỤNG CỤ QUANG” – VẬ LÍ 11 CƠ BẢN THPT
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH Chuyên ngành: L

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ phương pháp giảng
dạy khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Hoàng Quốc Việt, Võ Nhai,
Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và tiến
hành thực nghiệm đề tài. Xin cảm ơn toàn thể học sinh lớp 11A3 đã cộng tác
với tôi thực nghiệm thành công đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những
người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu để hoàn thiện luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2012
Tác giả Hoàng Văn Chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4iii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1

người học 10

1.5. Dạy học dự án 11

1.5.1. Lịch sử dạy học dự án 11

1.5.2. Khái niệm dạy học dự án 13

1.5.3. Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án 14

1.5.4. Phân loại các dự án học tập 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5iv

1.5.5. Các giai đoạn của dạy học dự án 17

1.6. Công cụ đánh giá trong dạy học dự án 18

1.6.1. Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 18

1.6.2. Tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án 20

1.6.3. Cách tính điểm cho mỗi nhóm và mỗi học sinh trong nhóm 29

1.7. Thực trạng dạy học chương “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ
QUANG” ở một số trường THPT 30



2.2.4. Đặc điểm của chương “Mắt và các dụng cụ quang” 45

2.3. Dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ
quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự
lực và sáng tạo của học sinh 45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6v
2.3.1. Lí do tổ chức dạy học dự án 45

2.3.2. Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của
học sinh trong dạy học vật lý bằng phương pháp DHDA 46

2.3.3. Triển khai bài học thành dự án 47

2.3.4. Kế hoạch bài dạy 50

Kết luận chương 2 60

Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1. Mục đích thực nghiệm 61

3.2. Đối tượng thực nghiệm 61

3.3. Thời điểm thực nghiệm 61



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Viết tắt Viết đầy đủ
1. D&HTC Dạy và học tích cực
2. DHDA Dạy học dự án
3. ĐH Đại học
4. ĐHQG Đại học quốc gia
5. ĐHSP Đại học sư phạm
6. GV Giáo viên
7. HS Học sinh
8. NXB Nhà xuất bản
9. PPDH Phương pháp dạy học
10. SGK Sách giáo khoa
11. TST Tính sáng tạo
12. TTC Tính tích cực
13. TTL Tính tự lực
14. THPT Trung học phổ thông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”.
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng
thành công ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên, phương
pháp dạy học dự án (DHDA) đang còn tương đối mới ở Việt Nam.
DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm
dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động.
DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà
trường và xã hội, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, tinh thần
trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học. Ở Việt Nam trong
những năm gần đây, với mục đích giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng đã
có một số nghiên cứu vận dụng DHDA.
Trong dạy học vật lí, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học dự án
như: “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương
“Dòng điện xoay chiều” sách giáo khoa vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ
thông”- Vũ Văn Dụng- Luận văn thạc sĩ, ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009;
“Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “Dòng điện trong chất bán dẫn”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 102
sách giáo khoa vật lí lớp 11 nâng cao trung học phổ thông”- Phạm Văn
Hoạch- Luận văn cao học ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009 hay trong luận
văn cao học năm 2006 của Trần Thị Thuý Hằng và Đào Thu Thuỷ, ĐHSP Hà
Nội 2005 đã vận dụng dạy học dự án vào việc việc tổ chức các hoạt động
nhận thức khi dạy học các kiến thức về bảo toàn năng lượng lớp 9 và cảm ứng
điện từ lớp 11, “Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy
học các nội dung kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 ban
cơ bản - Nguyễn Thị Diệu Linh - luận văn thạc sĩ ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà

Hoạt động dạy và học theo dự án.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng dạy học dự án trong dạy học vật lí phù hợp với đặc điểm
môn vật lí trong trường phổ thông thì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực và năng
lực sáng tạo của học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tính tích cực và năng lực sáng tạo
- Nghiên cứu các quan điểm dạy học hiện đại, trong đó đặc biệt quan
tâm đến lí luận dạy học dự án.
- Thực trạng dạy học dự án trong dạy học vật lí nhằm phát huy tính tích
cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập.
Đề xuất cách thực hiện dạy học dự án trong dạy học vật lí nhằm phát
huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang”-
Sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban cơ bản.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 124
- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn vật lí đặc biệt là chương “Mắt và các
dụng cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản.
- Thiết kế tiến trình dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và
các dụng cụ quang”- Vật lí lớp 11 ban cơ bản nhằm phát huy tính tích cực và
năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình đã soạn thảo.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.

1.1.1. Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú: học sinh chú ý
lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy, cô giáo, khao khát tự nguyện tham gia trả
lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến
của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những
vấn đề chưa đủ rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước
những tình huống khó khăn.
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn. Ví dụ có
những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Biểu hiện qua kết quả học tập: học sinh chủ động vận dụng linh hoạt
những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới và đạt kết quả học
tập tốt hơn.
1.1.2. Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân
người học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung. Theo
G.I.Sukina chia tính tích cực ra làm ba cấp độ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 146
- Tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học
sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè.
- Tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết
tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết bài tập đã nêu ra,
tìm ra lời giải hợp lí nhất.
- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): học
sinh nghĩ ra cách giải mới hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới.
1.1.3. Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
Có nhiều yếu tố thúc đẩy quá trình dạy và học tích cực, trong đó có một

hợp và thay đổi cách kiểm tra đánh giá cũ cũng là động lực quan trọng tác
động trực tiếp đến hoạt động tích cực của học sinh.
1.2. Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Ngoài việc bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực trong học tập, chúng ta
cũng rất cần bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo để có thể giải quyết tốt
những tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống.
1.2.1. Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh
thần, tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành
công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Sản phẩm của sự sáng tạo không
thể suy từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước làm theo.
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ
thể. Trong bất cứ lĩnh vực nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì
càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để
lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển. Bởi vậy không thể rèn
luyện năng lực sáng tạo tách rời một kiến thức nào đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 168
1.2.2. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học
sinh trong dạy học Vật lí
Trong dạy học nói chung có một số biện pháp sau:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới.
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết.
- Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán.
- Cho học sinh làm các bài tập sáng tạo: bài tập thiết kế và bài tập
nghiên cứu.
1.3. Mối liên hệ giữa tính tích cực, tính tự lực, và tính sáng tạo
Tính tích cực, tính độc lập nhận thức tính sáng tạo của HS trong học tập

sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh trong quá trình học tập.
1.3.2. Các đặc điểm của dạy và học tích cực
1.3.2.1. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong D&HTC, người học được tham gia vào các hoạt động học tập do
GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá, tìm tòi kiến thức,
không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của giáo viên. Người học được
trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến
thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng nhận thức, khả năng sáng tạo của
mỗi cá nhân.
1.3.2.2. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
D&HTC coi việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện đại thông tin bùng nổ, khoa học, kĩ thuật, công nghệ
phát triển như vũ bão, trong khi đó thời gian trên lớp học nhà trường không
đủ điều kiện và không thể nhồi nhét vào đầu óc người học quá nhiều kiến
thức. Vì vậy cần phải dạy PP học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học
cao hơn thì càng phải được chú trọng.
Trong PP học thì cốt lõi là PP tự học. Điều quan trọng là phải giúp
người học biết cách khai thác, lựa chọn tìm kiếm thông tin bằng cách hình
thành thói quen tự học, tự nghiên cứu.Khi người học có phương pháp, thói
quen, ý chí tự học thì sẽ ham học, thích học, đó là điều kiện tốt để khơi dậy
nội lực, khả năng vốn có của mỗi cá nhân, kết quả học tập sẽ nâng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1810

1.3.2.3. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học, trình độ kiến thức, khả năng tư duy của học sinh
không đồng đều vì vậy không thể áp dụng cách dạy đồng loạt. Cách dạy này


Một số PP có tên gọi mới hiện tại đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế
giới và bước đầu đang được vận dụng ở nước ta như: Học theo nhóm, học
theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án…
Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế, không có phương PPDH
nào là phương pháp tối ưu. Trong khi đó D&HTC đòi hỏi cần kết hợp giữa lý
thuyết với thực hành và tăng cường liên hệ với thực tế cuộc sống. Vì vậy việc
vận dụng PHDH đạt được hiệu quả còn tuỳ thuộc vào năng lực sư phạm và
khả năng vận dụng sáng tạo của giáo viên. Đối với việc phát triển năng lực
sáng tạo, ngoài việc rèn luyện cho học sinh trong quá trình xây dựng kiến
thức mới, người giáo viên còn có thể rèn luyện cho học sinh trong việc giải
các bài tập sáng tạo. Trong loạt bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số
kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ
không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học.
1.5. Dạy học dự án
1.5.1. Lịch sử dạy học dự án
Dạy học dự án (Project based - learning) hay còn gọi là dạy học theo dự
án, dạy học tiếp cận dự án, là một phương pháp đã được sử dụng một thời
gian khá lâu trên thế giới, tuy nhiên trong gần một thập kỉ trở lại đây, việc
triển khai dạy học dự án đã phát triển chính thức thành một phương pháp dạy
học ở nước ta. Theo các nhà giáo dục học thì học tập dự án sẽ khiến học sinh
hứng thú hơn vì họ được tham gia vào giải quyết những vấn đề mang tính
thách thức cao, đôi khi lại rất khó khăn nhưng rất sát với thực tế đời sống.
Từ đầu thế kỉ 19, cách học theo dự án đã được xây dựng trên cơ sở các
công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí và các nhà giáo dục Jerome-Bruner,
Jean Piaget, Jonh Dewey, William H. Kilpatric … Một trong những thử
nghiệm đầu tiên đã được Deway tiến hành tại đại học Chicago của nước Mĩ.
Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ mà trong đó họ tham gia học đọc,
viết, tính toán, học cách lắng nghe người khác, cách đảm nhận trách nhiệm…
Từ đó Deway rút ra ba khẳng định chắc chắn: Tất cả học sinh, để học tập,

tính nối mạng giúp học sinh khai thác các thông tin từ nhiều nguồn, giúp gia
tăng sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để đạt được một cách tối ưu
mục đích học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2113

Tại Việt Nam, đầu thế kỉ 21, các phương pháp dạy học mở, đặc biệt là
phương pháp dạy học dự án đã được đưa vào nhằm đáp ứng tình hình phát
triển thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Vậy phương pháp
dạy học dự án là gì? Phương pháp dạy học dự án có đặc điểm gì?
1.5.2. Khái niệm dạy học dự án
1.5.2.1. Khái niệm dự án
Thuật ngữ dự án trong tiếng anh là project, có gốc tiếng La tinh là
projeyesre có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế. Theo từ điển bách khoa mở
Wikipedia thì “dự án là tập hợp các công việc nối tiếp nhau, được thực hiện
trong một khoảng thời gian xác định, với những nguồn lực nhất định nhằm
đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của đối
tượng hướng đến” [15].
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo
dục đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn
được sử dụng như một phương pháp dạy học mở tạo điều kiện cho học sinh
phát triển toàn diện.
1.5.2.2. Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based- Learning) là một phương pháp dạy
học tích cực trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện một nhiệm vụ
học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.[15]
Dự án học tập có thể nảy sinh từ ý tưởng của người dạy hoặc người

Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học dự
án trong trường học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tượng bỏ học,
thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập.
Đối với học sinh
- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập.
- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô
hình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm
hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học.
- Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giải
quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2315

- Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút
những học sinh thuộc các vùng văn hóa khác nhau.
Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của DHDA xuất phát từ tính thực tiễn
của kinh nghiệm. Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang
hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể. Ví dụ như thiết kế và tạo ra mô hình của
một máy phát điện, động cơ điện, thực hiện một đoạn video tài liệu về vấn đề
môi trường, thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch, quảng bá về các di tích lịch sử
quan trọng ở địa phương, hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện về những mặt
lợi và hại trong việc xây dựng phố mua sắm, học sinh đã được tham gia vào
những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học.
Đối với giáo viên
Những ích lợi do dạy học dự án mang lại là việc nâng cao tính chuyên
nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với
học sinh. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cảm thấy hài lòng với việc tìm ra được
một mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng học sinh đa dạng bằng

Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng
dẫn của nhiều GV. Ví dụ dự án cho toàn trường là dự án “tìm hiểu về an toàn
giao thông ở Việt Nam” với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên.
* Phân loại theo quỹ thời gian
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học.
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”),
nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần
(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”).
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ
thông. Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn.
* Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo
các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng. Ví dụ dự án
tìm hiểu các hiện tượng thời tiết, dự án tìm hiểu về các nhà máy điện sử dụng
năng lượng sạch,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25

Trích đoạn Kế hoạch bài dạy Mục đích thực nghiệ m Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạ m
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status