Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ĐÀO THỊ THU HÀ THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƢƠNG “QUANG HÌNH HỌC” SGK VẬT LÝ 11 CƠ BẢN
NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA
HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ VĂN BÌNH THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố
trong
một công trình nào khác.
Thái nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả Tác giả Đào Thị Thu Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
I. Lý do chọn đề tài 1
II. Mục đích nghiên cứu 3
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
IV. Giả thuyết khoa học 3
V. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
VI. Phương pháp nghiên cứu 4
VII. Giới hạn của đề tài 4
VIII. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH
DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP 5
1.1. Dạy học hướng vào học sinh 5
1.1.1. Nguồn gốc của dạy học hướng vào học sinh 5
1.1.2. Bản chất của dạy học hướng vào học sinh 7
1.1.3. Đặc điểm của dạy học hướng vào học sinh 7
1.1.3.1. Về mục tiêu dạy học 7
1.1.3.2. Về nội dung dạy học 8
1.1.3.3. Về phương pháp dạy học 8
1.3.3. Xác định các hoạt động dạy và hoạt động học 36
1.3.4. Thiết kế các phương tiện giảng dạy - học tập và học liệu 37
1.3.5. Thiết kế tổng kết và hướng dẫn học tập 38
1.3.6. Thiết kế môi trường học tập 38
1.3.7. Xác định tiến trình hoạt động DH cụ thể. 39
1.4. Thiết kế tiến trình dạy học một bài học vật lý 40
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
Chƣơng 2. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI
HỌC PHẦN "QUANG HÌNH HỌC” LỚP 11 CƠ BẢN
THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ
LỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP 44
2.1. Phân tích cấu trúc nội dung của phần "quang hình học” lớp 11 cơ bản 44
2.1.1. Nội dung của phần "Quang hình học" lớp 11 Cơ bản 44
2.1.2. Phân tích cấu trúc của phần "Quang hình học" lớp 11 Cơ bản 44
2.2. Điều tra thực trạng dạy học phần"quang hình học” lớp 11 cơ bản
THPT theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong học tập 47
2.2.1. Mục đích điều tra 47
2.2.2. Kết quả điều tra 47
2.3.1. Tiến trình dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 50
2.3.1.1. Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức hiện tượng "khúc
xạ”, "định luật khúc xạ” và khái niệm "chiết suất” 50
2.3.1.2. Xác định mục tiêu dạy học bài "Khúc xạ ánh sáng” 54
2.3.1.3. Xác định các công việc cần chuẩn bị nhằm hỗ trợ việc dạy
bài "Khúc xạ ánh sáng” 54
2.3.1.4. Xây dựng các tình huống vật lý dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 55
2.3.1.5. Tổ chức hoạt động dạy học bài"Khúc xạ ánh sáng” 56
2.3.4.5. Tổ chức họat động dạy học bài "Kính lúp” 90
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 96
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 98
3.1. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phương pháp của thực nghiệm
sư phạm (TNSP) 98
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm 98
3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 98
3.1.3. Đối tượng và cơ sở TNSP 98
3.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 100
3.1.5. Ước lượng các đại lượng đặc trưng cho TNSP 100
3.1.5.1. Đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh qua các biểu
hiện trong quá trình hoạt động nhận thức 100
3.1.5.2. Đánh giá TTC, tự lực của HS qua kết quả các bài kiểm tra 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
3.2. Tiến hành thực nghiệm 102
3.2.1. Chuẩn bị 102
3.2.2. Tiến hành hoạt động trên lớp 103
3.3. Kết quả và xử lý kết quả TNSP 104
3.3.1. Các kết quả của việc phát triển tính tích cực và tính tự lực học
tập của học sinh trong quá trình hoạt động nhận thức 104
3.3.2. Các kết quả của việc phát triển tính tích cực và tính tự lực học
tập của học sinh qua các bài kiểm tra 105
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 109
KẾT LUẬN 110
KIẾN NGHỊ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC
sự nghiệp CNH, HĐH hay không, đất nước ta có thật sự phát triển để vươn
tới ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới và khu vực hay không hoàn
toàn phụ thuộc vào những người chủ tương lai của đất nước - những thế hệ
học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông hiện nay.
Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành GD&ĐT đã và đang từng bước
đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương pháp dạy học, trong đó đặc biệt là đổi
mới phương pháp dạy và học nhằm đào tạo ra những con người có khả năng
đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Hội nghị lần thứ hai BCH TW Đảng
CSVN khoá VIII đã nêu ra: "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là
nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích
cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy
sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi ". Hội nghị cũng đã chỉ rõ:"Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp GD - ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học ". Tuy nhiên trong
thực tế giảng dạy ở trường phổ thông trong những năm qua vẫn còn chậm đổi
mới. Phương pháp dạy học vẫn xoay quanh, thầy đọc - trò ghi có xen kẽ vấn
đáp, giải thích, minh hoạ là chính. GV không cố gắng tổ chức cho HS hoạt
động nhận thức. Các tiết dạy ít sử dụng thí nghiệm vì sợ không thành công và
mất nhiều thời gian để chuẩn bị cũng như thực hiện. Kiểu dạy học như vậy
không phát huy được TTC của học sinh, làm cho khả năng tự học, tự tìm tòi,
nghiên cứu của học sinh bị hạn chế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và để góp
phần khắc phục những tồn tại về phương pháp dạy học như nêu trên, trong
thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực, tự chủ
của học sinh trong dạy học Vật lý. Về nghiên cứu lý luận có:
Tìm giải pháp xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức thuộc
chương "Quang hình học" (Vật lý 11 cơ bản THPT) nhằm phát triển hoạt
động nhận thức tích cực, tự lực của HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức
III. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học ở GV và HS trong giờ vật lý.
Nội dung một số kiến thức thuộc chương"Quang hình học" theo SGK
Vật lý 11 cơ bản.
IV. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học một cách phù hợp trên cơ sở vận
dụng sáng tạo các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập và
rèn luyện kỹ năng liên hệ thực tế của học sinh thì sẽ phát huy tính tích cực,
tự lực học tập của học sinh.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học nhằm phát huy tính tích cực,
tự lực của học sinh trong học tập để từ đó lựa chọn phương pháp, hình thức
tổ chức quá trình dạy học một số bài học phần:"Quang hình học” lớp 11
ban Cơ bản.
- Nghiên cứu cấu trúc logic về nội dung kiến thức trong phần:"Quang
hình học” lớp 11 ban Cơ bản cùng mối liên hệ của nó với các phần khác.
- Tìm hiểu thực tế dạy học các kiến thức phần:"Quang hình học” lớp 11
ban Cơ bản ở một số trường THPT trong Thành phố, từ đó tìm ra những khó
khăn cũng như những sai lầm mà học sinh thường gặp phải.
- Sọan thảo tiến trình dạy học một số bài học phần:"Quang hình học”
lớp 11 ban Cơ bản theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
trong học tập .
- Thực hiện thực nghiệm sư phạm ở 3 trường THPT trong Thành phố
để xác định mức độ phù hợp, tính khả thi, phạm vi áp dụng của đề tài.
- Nhận xét và một số ý kiến đề xuất thêm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC
CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP
1.1. DẠY HỌC HƢỚNG VÀO HỌC SINH
1.1.1. Nguồn gốc của dạy học hƣớng vào học sinh
Chúng ta đều biết quá trình dạy học luôn gồm hai mặt quan hệ chặt chẽ
với nhau: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
Chính vì điều đó mà đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về vai trò của giáo
viên và học sinh nhưng nhìn chung cũng chỉ là hai hướng: hoặc tập trung vào
vai trò của GV tức là lấy giáo viên làm trung tâm hoặc tập trung vào vai trò
của người học sinh tức là hướng vào học sinh.
Những năm gần đây trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã và
đang chuyển dần từ kiểu dạy học truyền thống, giáo viên làm trung tâm
sang kiểu dạy học mới, hướng vào học sinh. Đây cũng là một quá trình
chuyển biến tất yếu của lịch sử giáo dục.
Từ xa xưa, ở xã hội nông nghiệp hay tiền nông nghiệp, thời gian do
chu kỳ mặt trăng hay mặt trời quyết định; quá khứ đi vào hiện tại và tự nó lặp
lại trong tương lai; việc chuẩn bị cho một đứa trẻ vào đời là trang bị cho
chúng những kỹ xão, những bí quyết mang tính cha truyền con nối, kiến thức
được truyền một cách thụ động thông qua gia đình hoặc các thể chế tôn
giáo…Trong thời kỳ này người đóng vai trò thầy giáo luôn là sự chú ý của
mọi học trò, thầy giáo chi phối toàn bộ quá trình dạy học, áp đặt hoặc nhồi
nhét những giá trị đạo đức, kiến thức hay kỹ xão như là lời kinh thánh hay
lời giáo huấn; trò chỉ việc công nhận, học thuộc lòng rồi lặp lại lời thầy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Riêng ở Việt Nam ta, tiếp theo đó là kiểu dạy học theo nhóm nhỏ với
nhiều lứa tuổi và trình độ khác nhau, có thể là những đứa bé mới bắt đầu học
cũng có thể là những môn sinh học để đi thi tú tài hay cử nhân… Thầy giáo
cực, chủ động của học sinh trong học tập, cần quan tâm đến nhu cầu và lợi ích
của mỗi học sinh hơn. Phương pháp dạy học tích cực hướng vào người học
(học sinh) đã ra đời trong bối cảnh đó.
1.1.2. Bản chất của dạy học hƣớng vào học sinh
Có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà giáo dục về kiểu dạy học
này, nhưng điểm chung của các quan niệm cũng có thể được xem như là
bản chất của dạy học này là dạy học hướng vào người học, nhấn mạnh hoạt
động và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học, giáo viên không phải là
người quyết định toàn bộ quá trình dạy học mà chủ yếu là đóng vai trò người
tổ chức, cố vấn, hỗ trợ học sinh, học sinh mới là người đóng vai trò chủ động,
quyết định phần lớn đến công việc học tập của mình. Theo quan điểm này thì
giáo viên phải quan tâm đặc điểm cá nhân của mỗi học sinh, cố gắng tạo
cơ hội cho tất cả học sinh trong học tập và rèn luyện. Học sinh người đóng
vai trò trung tâm trong quá trình dạy học:
- Học phải tự lực, học để khám phá và làm giàu kiến thức.
- Học phải tăng cường sự trao đổi giữa giáo viên và các học sinh khác.
- Học phải tích cực, chủ động tham gia vào quá trình tìm tòi và
khám phá tri thức.
- Phải mạnh dạn trình bày những ý tưởng và kinh nghiệm mới mẻ.
- Phải được tạo cơ hội và được rèn luyện kỹ năng liên hệ kiến thức
được học với thực tế cuộc sống và khoa học kỹ thuật.
1.1.3. Đặc điểm của dạy học hƣớng vào học sinh
1.1.3.1. Về mục tiêu dạy học
Dạy học hướng vào học sinh ngoài việc hướng tới mục đích phát triển
cá nhân mỗi học sinh ở các mức độ khác nhau còn phải hướng học sinh chuẩn
bị thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập vào cộng đồng đang phát triển như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Dựa trên quan điểm đó, phương pháp dạy học chủ yếu là hướng dẫn
tổ chức cho học sinh họat động độc lập hoặc theo nhóm (có thể là thảo luận,
làm thí nghiệm hoặc quan sát thực tế,…). Thông qua đó học sinh vừa tự lực
nắm được tri thức, kỹ năng mới đồng thời rèn luyện được phương pháp tự
học, cũng như tập dượt phương pháp nghiên cứu sau này. Với phương pháp
này thì bước cuối cùng luôn là việc giáo viên góp ý nhằm hòan thiện một tri
thức hay kỹ năng và khẳng định những tri thức khoa học đó.
Giáo án lên lớp chủ yếu tập trung vào hoạt động của học sinh, cách tổ
chức các hoạt động cũng như diễn biến và những khả năng xảy ra các hoạt
động của học sinh. Mặt khác giáo án phải linh hoạt và có thể điều chỉnh cho
phù hơp với hoạt động dạy, với từng đối tượng học sinh khác nhau. Đồng thời
qua đó tạo điều kiện để học sinh bộc lộ những khuyết điểm cũng như những
năng lực riêng của mình.
1.1.3.4. Về phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học phải thật linh hoạt sao cho phù hợp với điều
kiện cơ sở vật chất, thời tiết, đối tượng học sinh,…
Phương tiện dạy học có thể là tranh ảnh (ảnh tĩnh, ảnh động,…), là dụng
cụ thí nghiệm,… và lớp học cũng được xem là một trong những phương tiện
phục vụ đắc lực cho hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh.
Ngày nay, máy vi tính và các phần mềm dạy học là những phương tiện
dạy học được xem là hiện đại với những đóng góp to lớn trong việc phát huy
tính tích cực và tự lực của học sinh trong học tập.
Do vậy lớp học không nhất thiết phải là những dãy bàn học sinh được
kê ngay ngắn và hướng về phía trước có bảng đen và bàn ghế giáo viên, mà
lớp học có thể xếp theo hình tròn, hình chữ U, lớp học cũng có thể là phòng
thí nghiệm, sân trường, là viện bảo tàng hay một góc của một nhà máy đang
sản xuất, một công trình đang họat động… Đặc biệt lớp học còn phải được
hiểu theo nghĩa rộng hơn: đó là thực tiễn xã hội của hôm nay và cả ngày mai
của học sinh ngay trong nhà trường.
11
- Do mỗi học sinh có sự phát triển cá nhân khác nhau nên cách thức
đánh giá cho từng học sinh cũng khác nhau, không sử dụng kiểu đánh giá
chung chung mà có thể đánh giá theo nhóm dựa trên báo cáo về việc thực
hiện nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm mà nhóm trưởng đang chịu
trách nhiệm.
- Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực, để đào tạo những con
người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra đánh giá
cần được chú ý và xem trọng. Giáo viên không thể chỉ yêu cầu học sinh dừng
lại ở việc tái hiện các kiến thức cũ và lặp lại các kỹ năng đã học mà phải kích
thích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực
tế, đặc biệt phải đánh giá cao những biểu hiện tư duy độc lập cá nhân.
1.2. PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC TRONG HỌC TẬP VẬT LÝ
CỦA HỌC SINH
1.2.1. Sự cần thiết phải phát huy tính tích cực, tự lực trong học tập vật
lý của học sinh
1.2.1.1. Tính tích cực trong học tập vật lý của học sinh
Tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Bởi vì, để tồn tại và
phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến tự nhiên môi
trường xã hội.Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực trong học tập của
học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo ra
những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng.
Trong quá trình dạy học, tính tích cực trong học tập của học sinh
thực chất là tích cực nhận thức, biểu hiện ở khát vọng hiểu biết, cố gắng về
trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Tính tích cực
nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập. Động cơ
đúng sẽ tạo hứng thú. Hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và sự tự
giác lại tạo nên tính tích cực. Ngoài ra, tính tích cực nhận thức còn tạo ra
sáng tạo, linh hoạt,… cho đất nước trong giai đoạn hội nhập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
1.2.1.2. Tính tự lực trong học tập vật lý của học sinh
Tự lực là không dựa dẫm, không ỷ lại vào người khác. Vì vậy, tự lực là
phẩm chất rất cần thiết phải có của con người mới.
Xã hội đang phát triển, điều kiện môi trường xung quanh luôn tác động
đến mỗi con người. Bởi thế cho nên, nếu mỗi con người không tự nỗ lực bản
thân, tự lực để biến đổi, điều chỉnh và làm phong phú mình hơn lên đến mức
cần thiết nhằm thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh, thì
hoặc là con người đó sẽ bị tụt hậu hoặc trở thành nỗi bận tâm của toàn xã hội.
Tự lực học tập là tự lực thu lượm kiến thức được xây dựng bằng trí
nhớ, tư duy và sự phát triển trí tuệ của học sinh. Tự lực học tập sẽ giúp học
sinh hiểu thấu đáo nội dung một kiến thức nào đó, là cơ hội thuận tiện để học
sinh phát huy tính sáng tạo.
Tự lực học tập tuy là khả năng riêng của mỗi học sinh nhưng nó sẽ
càng được phát huy hơn nếu có thêm động cơ học tập đúng đắn nhằm tạo
hứng thú học tập. Hứng thú sẽ giúp học sinh kiên trì và tự lực để khám phá
ra một chân lý mới, một tri thức mới.
Trên thực tế, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học vật lý nói
riêng, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy vừa là chủ thể của hoạt
động học. Thông qua hoạt động học dưới sự hướng dẫn của giáo viên người
học phải luôn tích cực chủ động để cải biến chính bản thân mình về kiến thức,
kỹ năng, thái độ và hoàn thiện nhân cách. Vì thế nếu người học không tự giác
chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tập tốt thì hiệu quả
của hoạt động dạy học sẽ bị kéo theo xuống mức thấp nhất. Ngược lại,
nếu giáo viên rèn luyện cho học sinh có được những phương pháp học tập
đúng, kỹ năng, thói quen, ý chí tự lực trong học tập sẽ tạo cho họ lòng ham
không? Tới mức độ nào?
+ Có biết vận dụng và liên hệ kiến thức mới vào thực tế được
không? Tới mức độ nào? Mức độ sáng tạo ra sao?
+ Có quyết tâm vượt khó thông qua việc có kiên trì hoàn thành các
bài tập khó, không nản trước những tình huống phức tạp không?