Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương sóng cơ và sóng âm (vật lý 12 cơ bản) nhằm phát huy tính tích cực, tự lực cho học sinh phổ thông dân tộc nội trú - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LƢƠNG VĂN LUYỆN
XÂY TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƢƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” (VẬT LÝ 12 BAN CƠ
BẢN) NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC
CHO HỌC SINH PT DÂN TỘC NỘI TRÚ
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp giảng dạy Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Thái nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Lương Văn Luyện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong
một công trình nào khác.
Thái nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả


1.1.5. Biện pháp chung phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 9
1.1.6. Vấn đề phát huy tính tự lực nhận thức của học sinh. 10
1.1.7. Mối quan hệ giữa tính tích cực và tự lực nhận thức của học sinh 11
1.1.8. Dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh 11
1.2. Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1. Đặc điểm hoạt động học tập của HS DTNT 17
1.2.2. Thực trạng dạy và học các kiến thức chương “ Sóng âm và sóng cơ” (Vật
lí 12 - Ban cơ bản) tại một số trường PT Dân tộc nội trú 19
1.2.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông dân
tộc nội trú 19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chƣơng 2: XÂY DỰNG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƢƠNG “SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM” (VẬT LÍ 12 – BAN CƠ BẢN)
THEO HƢỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC TRONG
HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HS PT DÂN TỘC NỘI TRÚ 24
2.1. Đặc điểm của chương “Sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12 - Ban cơ bản) 24
2.1.1. Vị trí, vai trò của chương “Sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12 - Ban cơ bản) 24
2.1.2. Cấu trúc và mục tiêu của chương “Sóng cơ và sóng âm” 25
2.2. Xây dựng tiến trình dạy học một số bài thuộc chương “Sóng cơ và sóng
âm” (Vật lí 12 - Ban cơ bản) nhằm phát huy tính tích cực, tự lực trong hoạt
động nhận thức của HS PT dân tộc nội trú 26
2.2.1. Bài 7: SÓNG CƠ VÀ SỰ TRUYỀN SÓNG CƠ 26
2.2.2. Bài 8: GIAO THOA SÓNG 33
2.2.3. Bài 9: SÓNG DỪNG 42
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 49
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 50
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 50

DH Dạy học
DTNT Dân tộc nội trú
GD Giáo dục
GV Giáo viên
HS Học sinh
MH Mô hình
PP Phương pháp
PPDH Phương pháp dạy học
PT Phổ thông
SGK Sách giáo khoa
TC Tích cực
THPT Trung học phổ thông.
TTC Tính tích cực
T/N Thí nghiệm
TN Thực nghiệm
TNSP Thực nghiệm sư phạm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đang diễn ra sôi động ở nước ta.
Việc rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh có vai trò rất quan trọng trong sự
phát triển toàn diện của học sinh. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng
cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo
dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính
tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư
duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi ”. Để đạt được mục tiêu đề ra, Nghị
quyết hội nghị cũng đã chỉ rõ “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục -
Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại
vào quá trình dạy học…”.
Cùng với sự quan tâm đến việc đổi mới phương pháp Giáo dục - Đào
tạo nhằm nâng cao chất lượng của cả hệ thống giáo dục Quốc dân, Đảng và
nhà nước cũng rất quan tâm đến việc phát triển giáo dục - đào tạo đối với
đồng bào các dân tộc thiểu số. Đảng, nhà nước đã đề ra các chủ trương,
chính sách dân tộc như: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng
phát triển”; “ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc
nội trú (PT DTNT) được thành lập ở hầu hết các tỉnh miền núi là sự cụ thể
hóa chính sách ưu tiên dân tộc của Đảng và nhà nước.
Tuy nhiên hiện nay, chất lượng giáo dục và kết quả học tập của HS ở
nhiều trường PT DTNT còn nhiều hạn chế. Thực tiễn dạy và học Vật lí trong
trường PT DTNT cho thấy đa số giáo viên chưa có biện pháp khơi dậy và phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Mặt khác học sinh dân tộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/



Tuy nhiên đa số học sinh thường thấy khó và trừu tượng khi học chương “Sóng
cơ và sóng âm” nên chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong học tập.
Để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung và dạy học Vật lí
trong trường PT DTNT, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng tiến
trình dạy học một số kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12 -
Ban cơ bản) nhằm phát huy tích cực, tự lực cho học sinh trường PT dân tộc
nội trú”.
II. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học một số bài chương “Sóng cơ và sóng âm”
(Vật lí 12 - Ban cơ bản) theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực trong hoạt
động nhận thức của HS PT dân tộc nội trú.
III. Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trong tiến trình dạy -
học chương “Sóng cơ và sóng âm” theo chương trình Vật lí 12 - Ban cơ bản.
IV. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
tự lực trong hoạt động nhận thức của HS về chương “Sóng cơ và sóng âm” sẽ
góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí ở các trường PT dân tộc nội trú .
V. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất tiến trình dạy học phù hợp với kiến thức chương
“Sóng cơ và sóng âm” (Vật lí 12 - Ban cơ bản) với điều kiện, cơ sở vật chất,
khả năng của học sinh PT dân tộc nội trú.
VI. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của đề tài tôi đã xác định những nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu lí luận dạy học hiện đại về việc phát huy tính tích cực hoạt
động nhận thức của HS trong dạy học Vật lí.
- Nghiên cứu lí luận về dạy học Vật lí trong trường phổ thông.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp thu tri
thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập [12]; [27].
TTC, nét tính cách rất quan trọng trong nhân cách thể hiện ở năng lực
làm thay đổi thực tiễn, theo nhu cầu, mục đích của mình trong hoạt động sản
xuất, học tập, sáng tạo, đấu tranh,…
TTC cần phải được định hướng đúng đắn, phải nhằm phục vụ cho những
mục đích tốt đẹp, cao cả, thì hoạt động của con người mới có giá trị đích thực,
mới đem lại lợi ích cho bản thân và xã hội. Nét tính cách này cần được GD
ngay từ bé bằng cách tạo ra những tình huống để trẻ em tự tìm cách thỏa mãn
đòi hỏi, đôi khi người lớn có thể mách bảo, nhưng tránh lối làm thay khiến tạo
dần cho trẻ tính ỷ lại, thụ động, chờ đợi. Kết quả của mỗi lần tự làm như vậy sẽ
động viên trẻ hăng hái tự lập giải quyết các nhu cầu của mình và dần dần chủ
động tham gia vào công việc chung của gia đình, tập thể. Để duy trì liên tục
TTC cần có sự theo dõi và đánh giá của người lớn và tập thể, kể cả khi việc làm
thành công cũng như khi khó khăn, trở ngại.
TTC nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức. Hạt nhân cơ bản của
TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do thúc đẩy
của hệ thống nhu cầu đa dạng. Nhu cầu nhận thức cái mới, nhu cầu vươn lên
một trình độ cao hơn là nguồn gốc TTC hoạt động nhận thức của HS. TC là
một biểu hiện của ý thức khi đã có ý thức thì HS sẽ TC, chủ động và sáng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tạo trong mọi tình huống. Trong học tập TTC nhận thức của HS đặc trưng
bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm
vững kiến thức [27].
Tính “TC nhận thức” của HS theo Tiến sĩ I.F. Kharlamop (Liên Xô cũ )
có thể được định nghĩa như sau:
Nói chung, TTC là trạng thái hoạt động của các chủ thể, nghĩa là của
người hành động. Vậy TTC nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc

- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Có sáng tạo trong học tập không? [13].
Về mức độ TC của HS trong quá trình học tập có thể không giống nhau,
có một số dấu hiệu sau đây:
- Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình,
bạn bè, xã hội).
- Thực hiện yêu cầu của thày giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
- TC nhất thời hay thường xuyên liên tục?
- TC tăng lên hay giảm dần?
- Có kiên trì vượt khó hay không?
Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu về
mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên,
hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra lời
giải hay cho một bài tập khó…Những dấu hiệu này khó biểu hiện và khác nhau ở
từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở HS các lớp dưới, kín đáo ở HS các lớp trên.
1.1.3. Phân loại tính tích cực hoạt động nhận thức
Tùy theo việc huy động và mức độ huy động các chức năng tâm lý mà
người ta phân ra 3 loại TTC:
- TTC tái hiện: Chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện.
- TTC tìm tòi: Đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm cách độc lập
giải quyết vấn đề, TC về mặt nhận thức, óc sáng tạo, lòng khao khát hiểu biết,
hứng thú học tập.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- TTC sáng tạo: Là cấp độ cao nhất của TTC, đặc trưng bằng sự khẳng
định con đường riêng của mình, không giống như con đường mà mọi người đã
thừa nhận, đã trở thành chuẩn mực, để đạt được mục đích. Dĩ nhiên mức độ
sáng tạo của HS là có hạn nhưng đó là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về
sau này [1]; [27].

- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
- Nội dung DH phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải
liên hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai. Kiến thức phải
có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu
nhận thức của HS.
- Phải dùng các PP đa dạng: Nêu vấn đề, T/N, thực hành, so sánh, tổ
chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau.
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn
với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột
ngột, bất ngờ.
- Sử dụng các phương tiện DH hiện đại.
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể,
tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng T/N.
- Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới.
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức.
- Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS.
- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện
thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự
học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt.
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.6. Vấn đề phát huy tính tự lực nhận thức của học sinh.
1.1.6.1. Khái niệm
* Theo nghĩa rộng: Bản chất của tính tự lực nhận thức là sự sẵn sàng về
mặt tâm lí cho sự tự học (tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức)
* Theo nghĩa hẹp: Tính tự lực nhận thức là phẩm chất tư duy thể hiện ở
năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập cho phép học sinh tự học [1].

- Theo lí luận dạy học: Cơ sở đề hình thành tính tích cực là tính tự giác,
tính tích cực phát triển đến mức độ nào đó thì nảy sinh tự lực. Như vậy, tính tự
lực chứa đựng trong nó cả tính tự giác và tính tích cực, chúng được hình thành
và phát triển dưới ảnh hưởng chủ đạo của giáo viên.
Từ đó ta thấy, tính tích cự nhận thức liên hệ mật thiết với tính tự lực
nhận thức, tính tích cực nhận thức là điều kiện cần thiết của tính tự lực nhận
thức, không thể có tính tự lực nhận thức mà thiếu tính tích cực nhận thức được.
Tính tích cực nhận thức là kết quả và biểu hiện của sự nảy sinh, phát triển tính
tự lực nhận thức. Trong tính tự lực nhận thức đã thể hiện tính tích cực nhận
thức, đồng thời trong sự thể hiện đó lại có tác dụng hướng cá nhân đến tính tự
lực nhận thức ở mức độ cao hơn.
1.1.8. Dạy học theo hƣớng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Trong quá trình phát triển của GD, các nhà GD đã rất quan tâm đến TTC,
tự lực của HS trong học tập. Điều đó được thể hiện qua các nguyên tắc DH, PP
sư phạm TC, qua quan điểm lấy HS làm trung tâm.
Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
(1987) đã đưa ra hệ thống các nguyên tắc DH như sau:[17]
Nguyên tắc thứ nhất, việc DH phải được tiến hành ở mức độ khó khăn
cao nêu lên sự cần thiết phải lôi cuốn HS vào công tác nhận thức TC môn học,
kích thích sự ham hiểu biết trí tuệ, có chú ý thích đáng đến năng lực và khả
năng của các em sao cho mỗi em huy động hết mức trí thực của mình. Vấn đề
không phải là ở chỗ làm cho việc học tập trở nên khó khăn với HS mà là làm
cho trong quá trình học, các em phải chịu đựng một sự căng thẳng nhất định,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vượt qua được những khó khăn nhận thức, hoàn thành một số lượng thích
đáng những bài tập sáng tạo và rèn dũa ý chí nhận thức của mình.
Nguyên tắc thứ nhất ta thấy hình như mâu thuẫn với nguyên tắc 5 về tính
vừa sức do các nhà lí luận dạy học Việt Nam đề xuất: “Nguyên tắc đảm bảo sự

hóa và chủ đề tự chọn.
Nguyên tắc thứ 2 về vị trí ưu thế của các kiến thức lí thuyết đề ra sự cần
thiết phải nắm vững sâu sắc các tài liệu lí thuyết, thâm nhập thật sự vào bản
chất của các quy luật, lĩnh hội những tư tưởng và khái niệm quan trọng nhất.
Nguyên tắc này phản ánh ý nghĩa lớn lao của các kiến thức lí thuyết trong
thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật cũng như vai trò to lớn của chúng trong
sự phát triển của HS.
Trong hệ thống các nguyên tắc DH, các nhà lí luận dạy học Việt Nam đã
đề ra nguyên tắc thứ hai, đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn. Về
mặt kết cấu, lí luận bao gồm nhiều thành tố khác nhau, trong đó các thành tố
sau đây là quan trọng nhất:
- Các sự kiện khoa học đã tích luỹ được, trong đó kể cả các kết quả nghiên
cứu thực tiễn. Những sự kiện này tạo nên căn cứ thực nghiệm của lí luận.
- Tập hợp các quy tắc suy lý lôgic và chứng minh được chấp nhận trong
khuôn khổ của lí luận.
- Tập hợp các khái niệm, các nguyên lý cơ bản cùng các quy luật, các
định lý, các khẳng định, các hệ quả được suy ra từ các căn cứ TN và từ các
khái niệm, các nguyên lý cơ bản ấy từ con đường suy lý lôgic và chứng minh
tương ứng.
Nguyên tắc về vị trí ưu thế của các kiến thức lí thuyết là một nguyên tắc
quan trọng của DH tích cực. Thêm nữa nếu như trong DH tíc cực, thầy trình
bày những chủ đề DH như là những vấn đề phải giải quyết, có cung cấp cho
người học tất cả các thông tin và phương tiện cần thiết để giải quyết vấn đề.
PP này đặt người học vào những điều kiện để khám phá, tìm ra kết quả; thì
giúp HS đào sâu các kiến thức lý thuyết là nhiệm vụ của thầy. Tuy nhiên cũng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sẽ sa vào “lý luận suông” nếu như GV không tạo nhiều cơ hội cho HS vận dụng
những kiến thức đã học vào thực tiễn học tập.

DH. Ở nước ta đang từng bước thực hiện chương trình DH phân hóa theo các
hình thức: Phân ban, DH tự chọn, phân ban kết hợp với DH tự chọn.
Chúng ta thực hiện chương trình DH hiện tại, để đảm bảo nguyên tắc
chăm lo đến sự phát triển của tất cả HS kể cả loại giỏi lẫn loại yếu về học tập,
thì cần hiểu rõ, năng lực hoàn cảnh cụ thể của HS, DH phù hợp với các em làm
sao động viên cả 3 đối tượng khá giỏi, trung bình, yếu kém tích cực học tập.
Nguyên tắc thứ 5, HS phải ý thức được bản thân quá trình học tập và
phải nắm vững các PP làm việc trí tuệ để hiểu, ghi nhớ tài liệu học tập, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo và thực hiện việc tự kiểm tra lĩnh hội kiến thức.
Dạy cho các em điều này là một nhiệm vụ cơ bản của của DH ở trường
phổ thông. Sự phát triển trí tuệ diễn ra trong một quá trình hoạt động tư duy,
hoạt động này bao giờ cũng vượt ra khỏi khuôn khổ của những cái mà tri giác
trực tiếp cung cấp. Khi nói về sự cần thiết phát triển tư duy của HS, ta cần phải
chú ý tới một loạt công tác trí tuệ, khác hẳn với sự tái hiện đơn thuần tài liệu
theo trí nhớ. Nếu không có sự gia công tự lực tài liệu đã lĩnh hội thì cũng không
có được những điều kiện để phát triển tư duy. Nguyên tắc thứ 5 này là cái nhấn
từng khía cạnh các nguyên tắc 3, 4, 7 trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản. Nó
đề cao TTC tự giác học tập của trò, trên cơ sở hiểu được, bắt nắm được quá
trình học tập và các PP học tập.
Như vậy, nội dung mà nguyên tắc thứ 5 của PPDH tích cực đề cập:
Người học ý thức được bản thân quá trình học tập và phải nắm vững các PP
làm việc trí tuệ. Đó chính là tinh thần khoa học và PP luận khoa học trong học
tập. Và bản chất của TC hóa sự học tập của HS chính là khoa học hóa cách suy
nghĩ, làm việc và học tập của họ.
Tóm lại, trên đây là 5 nguyên tắc DH nhằm phát huy TTC và chủ động
của HS trong quá trình học. Mỗi nhóm nguyên tắc đó có một ý nghĩa bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chất và nếu suy nghĩ sâu sắc hơn về từng hệ thống những nguyên tắc đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status