LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: Sử dụng Graph vào dạy học bài:
“Đặc điểm loại hình của tiếng Việt” trong sách giáo khoa Ngữ
văn 11, em đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và sự chỉ
bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn trường ĐHSPHN2, đặc biệt là
các thầy, cô giáo trong tổ Phưo’ng pháp dạy học Ngữ văn.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s Phạm Kiều Anh đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng thực hiện đề tài với quyết tâm cao nhưng chắc chắn
đề tài không thế tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của các thầy, cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2011 Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ngọc
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng
dẫn của Th.s Phạm Kiều Anh.
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từng được
công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào, đó là những kết quả đúng, nếu sai
tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 thảng 5 năm 2011 Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Ngọc
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIÉT TẮT
BCHTWD : Ban chấp hành trung ương Đảng
ĐH SP : Đại học sư phạm
G : Graph
GS : Giáo sư
GV : Giáo viên
HN : Hà Nội
học.
Đe thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục, các nhà giáo dục đã tiền hành việc
thay sách, cải cách sách giáo khoa trong nhà trường và đặc biệt là đổi mới phương
pháp dạy học. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, vấn đề “Đỏi mới phương pháp
dạy và học, phát huy tư duy sảng tạo và năng lực tự học của HS được sự quan tâm ở
mọi cấp ngành trong giáo dục”. Hội nghị lần thứ 4 của BCHTWD khóa VII về tiếp tục
đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đôi mới phương pháp dạy và học ở
tất cả các cấp bậc học, kết hợp tốt học và hành, học tập với lao động sản xuất, thực
nghiệm và nghiên cứu khoa học, gan nhà trường với xã hội. Áp dụng phương pháp
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
4
giáo dục hiện đại đê bồi dưỡng năng lực tư duy sảng tạo, năng lực giải quyết vẩn đề.
Đấy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ nghiên cứu những vẩn đề
khoa học phục vụ cho mục tiêu phát triến và sự nghiệp giảo dục (Theo, “Nghị quyết
hội nghị lần 4 BCHTWD khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo ”
(1991)).
Xuất phát từ mục tiêu đó, trong những thập kỷ gần đây, các nhà tâm lý học và
giáo dục học đã tìm tòi và đề xuất những phương pháp dạy học tốt nhất. Trong các
phương pháp dạy học mới phải kể đến một số phương pháp dạy học như: phương pháp
nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, các phương pháp tự học Ngoài ra, họ còn
chú ý tới một số phương pháp dạy học mới mang tính tích cực đế đáp ứng yêu cầu của
nền khoa học hiện đại. Từ đó, những vấn đề lý luận của một số ngành khoa học được
vận dụng trở thành công cụ thâm nhập khoa học chung như mô hình hóa Alglorit,
Graph, được áp dụng ở nhà trường để dạy và học nhiều môn học khác nhau như: Toán
học, Hóa học, Địa lý, Vật lý Nó mở ra nhiều triển vọng cho việc dạy học trong nhà
trường, bởi đây là những lý luận khoa học có tính khái quát rất cao. Những lý luận này,
có thê giúp HS hình thành cho mình phương pháp chung của tư duy và tự học, một kỹ
năng rất quan trọng của người lao động mới trong thời đại mới.
Graph là lý thuyết của toán học, bản chất nó vừa mang tính khái quát, vừa mang
tính trực quan, cụ thể. Graph có nhiều điểm mạnh trong việc thể hiện mối quan hệ và
huống dạy học nêu vấn đề và phân loại chúng.
Tuy nhiên cả Xokhor, Pôlôxin, Garkunôp đều mới chỉ sử dụng Graph như một
công cụ thực nghiệm nghiên cứu khoa học về lý luận dạy học chứ chưa sử dụng lý
thuyết này vào dạy học ở trên lớp.
VI thế, sau này nhiều nhà khoa học, các nhà sư phạm qua nghiên cứu lý thuyết
và kiểm nghiệm thực tiễn đã nhận thấy rõ hiệu quả của giờ lên lớp khi dạy học bằng
Graph. Nhiều tài liệu viết riêng cho GV về những vấn đề này cũng đã chứng minh
rằng: sự ứng dụng lý thuyết Graph vào quá trình dạy học là hoàn toàn hợp lý, lý thuyết
có thể được ứng dụng ở tất cả các môn học, các bậc học. Trong số các tác giả Liên Xô
(cũ) khi nghiên cứu vấn đề này, có một số tác giả tiêu biểu.
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
7
A.A.Opchinhicô, V.X.Pughirxiki, Morgunôp họ đã vận dụng lý thuyết Graph
để kế hoạch hóa quá trình dạy học ở Đại học.
A.A.Chêxôp nghiên cứu việc sử dụng các đồ thị mạng lưới khi lập kế hoạch
hoạt động.
Đặc biệt là Baxakep tác giả đã nghiên cứu vận dụng lý thuyết Graph vào
nhiều lĩnh vực khác nhau như: Văn học, Toán học, Hóa học, Vật lý, Sinh học
Trong cuốn sách “ Graph và mạng lưới hữu hạn”.
Ngoài ra, trong lĩnh vực Văn học có “ Graph và ứng dụng của chúng” (1968)
của Ore và “Lý thuyết Graph” (1976) của BeRop.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu vận dụng
Graph vào dạy học.
Hà Thúc Quảng, GV CĐSP Hải Phòng: “Dùng sơ đồ trong việc dạy Toán để
phát huy tác dụng của sách giáo khoa” (Nghiên cứu Giáo dục - số 3, T3/1974).
Nguyễn Xuân Trường: “Sử dụng sơ đồ trong giảng dạy Hóa học” (Tập san
Giáo dục cấp III - số 5/1978).
Trần Trọng Dương “Áp dụng phương pháp Graph để nghiên cứu cấu trúc và
phương pháp giải, xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hóa học ở trường
phổ thông” (Tiểu luận khoa học cấp T - Khoa Hóa ĐHSP Hà Nội T - 1980).
Như vậy, việc sử dụng G vào dạy học tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng
học tập cho HS không còn là vấn đề mới mẻ. Nhưng để cụ thể hóa phương pháp này
trong giảng dạy tiếng Việt và ứng dụng, triển khai nó trong việc dạy học tiếng Việt ở
diện rộng là vấn đề cần được tiếp tục suy nghĩ.
3. Mục đích, nhiệm yụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cửu
Trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát nhằm các mục
đích sau:
Khỏa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ văn
9
Trước hết là, giúp HS biết hệ thống các kiến thức về sự phân loại ngôn ngữ.
Đó là mục đích lĩnh hội kiến thức về ngôn ngữ, về loại hình ngôn ngữ.
Ngoài ra, trong luận văn chúng tôi còn thực hiện mục đích tạo ra hứng thú
học tập cho HS. Từ đó, HS có niềm say mê, hào hứng để khám phá tri thức, đây là
mục đích tác động đến tư tưởng của các em.
Bên cạnh đó, luận văn có mục đích tạo ra sự sáng tạo trong hoạt động dạy học
tiếng Việt của GV, thể hiện qua một bài dạy cụ thể là: “Đặc điểm loại hình của
tiếng Việt”.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi viết đề tài này, chúng tôi đã đề ra được những nhiệm vụ quan trọng cần
thực hiện:
Thứ nhất là, trình bày những vấn đề cơ bản nhất về Graph.
Thứ hai là, xác định những cơ sở khoa học trong bài: “Đặc điểm loại hình
của tiếng Việt” để chỉ ra những vấn đề có thể sử dụng Graph.
Thứ ba là, ứng dụng G vào dạy học các bài tiếng Việt ở phố thông.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Với luận văn này, đối tượng nghiên cứu là cách sử dụng Graph khi dạy học
tiếng Việt.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
1.1.Loại hình ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm loại hình ngôn ngữ
Với hơn 5.000 thứ ngôn ngữ tồn tại trên thế giới thì mỗi ngôn ngữ đều có
một kiểu tổ chúc và cấu trúc không giống nhau. Nói cách khác là ở đây chúng tạo ra
sự khác nhau cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và chúng còn khác nhau về khả
Khỏa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ văn
1
1
năng kết hợp. Chính từ sự khác nhau cơ bản này, các nhà ngôn ngữ học đã quy các
ngôn ngữ thành những loại hình ngôn ngữ riêng biệt.
Khi tìm hiểu về ngôn ngữ, ngoài những đặc điểm chung: công cụ nhận thức
thế giới, công cụ giao tiếp thì mỗi ngôn ngữ còn có những đặc điểm chỉ xuất hiện
riêng ở từng nhóm ngôn ngữ một. Như vậy, trước tiên chúng ta cần xác định: thế nào
là một loại hình ngôn ngữ ?
Theo nhà loại hình học Xô Viết - XtanKeVich trong cuốn: “Loại hình các
ngôn ngữ” ông đưa ra hai cách hiểu về loại hình ngôn ngữ như sau:
Cách hiếu thứ nhất: “Loại hình là một khải niệm rất chung cho phép chỉ ra
những đặc điêm cơ bản nhất (nhưng không phải đầy đủ nhất) trong cơ cẩu một
ngôn ngữ. Nó ì loại hình của một ngôn ngữ nào đẩy tức là nói đến tông hợp những
đặc điềm chỉnh của ngôn ngữ đó. Tất cả những ngôn ngữ nào đều có chung tông
hợp những đặc điếm đó thì đều thuộc chung một loại hình đó”.
Cách hiếu thứ hai: “Mỗi loại hình là một nét đặc trưng, vỉ
dụ đặc trưng có hay không có những sự biến đôi ngữ
âm ở chỗ tiếp giáp, chap nối hai hình vị, tức là nét
đặc trưng theo loi chap dính hay theo loi hòa kết.
Hiêu như vậy thì trong một ngôn ngữ vừa cỏ thê có
nét của loại hình này mà cũng
Khỏa luận tốt nghiệp SV: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ văn
1
2
những đặc trưng cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp giống nhau.
1.1.2. Sự phân loại loại hình ngôn ngữ.
Các ngôn ngữ trên thế giới có quan hệ nguồn gốc với nhau, và dựa vào đó có
thể phân loại chúng theo nguồn gốc, theo quan hệ họ hàng. Nhưng chúng còn có
quan hệ với nhau theo những đặc điểm cấu tạo bên trong. Chúng có thể có những
đặc điểm giống nhau trong cấu trúc, trong tổ chức ở các phương diện ngữ âm, từ
vựng, ngữ nghĩa và nhất là ở phương diện ngữ pháp. Các ngôn ngữ đó có thể không
cùng một họ, không có quan hệ nguồn gốc với nhau. Từ đó, các nhà loại hình học đi
đến xác lập tiêu chí phân chia ngôn ngữ theo loại hình. Vì vậy, trong ngành ngôn
ngữ học đã đưa ra hai tiêu chí cơ bản trong sự phân loại ngôn ngữ.
Trước hết, chúng ta cần hiểu cụ thể hơn về sự phân
loại ngôn ngữ theo nguồn gốc, để đối chiếu, xác định
sự phân loại ngôn ngữ theo loại hình. Sự phân loại
ngôn ngữ theo nguồn gốc, dòng họ là cách quy các
ngôn ngữ theo nguồn gốc phát sinh, điều kiện tồn
tại Trong ngôn ngữ học, người ta dùng thuật ngữ
họ ngôn ngữ hay ngữ tộc để chỉ tập hợp các ngôn ngữ
có chung một gốc cổ xưa nhất trong một họ, những
ngôn ngữ có chung một gốc trực tiếp hơn gọi là dòng,
trong một dòng, những ngôn ngữ có chung một gốc trực
tiếp hơn nữa gọi là nhánh Cứ như vậy, mỗi họ ngôn
ngữ có thể bao gồm nhiều dòng, mỗi dòng bao gồm
nhiều nhánh, mỗi nhánh bao gồm nhiều chi nhánh. Một
phương pháp quan trọng không thê thiếu mà các nhà
ngôn ngữ học sử dụng để phân loại ngôn ngữ theo
nguồn gốc là phương pháp so sánh - lịch sử, đối
chiếu về mặt lịch đại (lịch sử phát triển) của ngôn
ngữ, để tìm ra được các ngôn ngữ có chung nguồn gốc.
Theo như sự phân loại ngôn ngữ theo nguồn gốc thì có một số họ ngôn ngữ
sau: Ví dụ: Họ Ấn - Âu, họ Xmit - Hmit, họ Káp-ka-dơ, họ Hán Tạng
loại ngôn ngữ theo nhóm loại hình.
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
1
5
Đen nay, theo sự phân loại phổ biến được nhiều giới nghiên cứu chấp nhận
hơn cả là sự phân loại ngôn ngữ thế giới thành bốn loại hình lớn: Loại hình ngôn
ngữ hòa kết, loại hình ngôn ngữ chắp dính, loại hình ngôn ngữ đơn lập, loại hình
ngôn ngữ đa tổng hợp. Đe cụ thể hóa cho sự phân loại trên, trong cuốn “Dan luận
ngôn ngũ' học” của GS.TS Bùi Minh Toán, đã trình bày khá rõ ràng, đầy đủ về bốn
loại hình ngôn ngữ tiêu biếu trên thế giới.
1. Loại hình ngôn ngữ hòa kết (hoặc loại hình ngôn ngữ biến hình, ngôn ngữ
khuất chiết), là loại hình ngôn ngữ khá phổ biến, có những đặc điểm loại
hình nổi bật sau:
Thứ nhất: Mỗi từ thường được cấu tạo gồm hai bộ phận: Căn tố và phụ tố.
Căn tố thường không biến đổi và biểu hiện ý nghĩa từ vựng, còn phụ tố thường biến
đổi để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau. Tuy thế, căn tố và phụ tố gắn chặt
với nhau thành một từ đến mức chúng không thể sử dụng riêng một mình được. Đôi
khi ở ranh giới giữa chúng diễn ra sự biến đổi ngữ âm.
Chang hạn, từ tiếng Nga: pyka (tay)
Trong từ “pyka” thì “pyk” là căn tố, “-a” là phụ tố diễn đạt các ý nghĩa: Số ít,
giống cái, chủ cách Cả phụ tố và căn tố “pyk” không thể hoạt động độc lập để tạo
thành câu. Các phụ tố gắn bó chặt chẽ với căn tố thành một hình thái, hình thái đó
mới có khả năng hoạt động độc lập tạo câu.
Thú’ hai: Khi sử dụng vào hoạt động giao tiếp, từ thường biến đổi hình thức
để biểu hiện các ý nghĩa, quan hệ và chức năng ngữ pháp khác nhau.
Phần biến đối thường là phụ tố, còn căn tố giữ nguyên. Ví dụ:
Trong câu tiếng Pháp: II a beau coupd amis (nó có nhiều bạn).
Động từ “a” là biến đổi từ “avoir” (có) cho phù hợp với chủ ngữ
ngôi thứ ba số ít: “II” (nó).
Danh từ “amis” là biến đổi từ “ami” (bạn) để biểu hiện số nhiều.
(Những sinh viên mới đang đọc quyển sách này).
Trong câu này không dùng một hư từ nào. Tính từ cùng với danh từ biến đổi
hình thái để biểu hiện các ý nghĩa số nhiều, chủ cách. Động từ biến đổi theo hình
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
1
7
thái ngôi thứ ba, thời hiện tại, số nhiều, thức tường thuật. Còn đại từ chỉ định cùng
với từ “KHMrya” (sách) biến đổi hình thái thể hiện các ý nghĩa số ít, giống cái,tân
cách: Không có từ nào là không biến đổi hình thái. VI thế,
không cần dùng đến phương tiện hư từ, còn trật tự các từ có thể tựdo, linh
hoạt mà không làm thay đổi ý nghĩa cơ bản của câu.
Thuộc về các ngôn ngữ hòa kết là các ngôn ngữ họ Ân - Âu, họ Sê - mít
và một số ngôn ngữ Châu Phi.
2. Loại hình ngôn ngữ chắp dính (loại hình ngôn ngữ niêm kết) có những đặc
điểm nổi bật:
Thứ nhất: Mỗi từ bao gồm căn tố và phụ tố, do đó ý nghĩa ngữ pháp và quan
hệ ngữ pháp cũng được biểu hiện ngay trong bản thân một từ.
Thú’ hai: Căn tố không biến đổi hình thái và có thể tồn tại, hoạt động một
mình ngay cả khi không có phụ tố đi kèm. Mối liên hệ giữa các hình vị trong nội bộ
một từ không thật chặt chẽ.
Thứ ba: Mỗi phụ tố chỉ biểu hiện một ý nghĩa ngữ pháp và ngược lại, mỗi ý
nghĩa ngữ pháp chỉ được biểu hiện bằng một phụ tố:
V í d ụ : l - ev (căn tố) Căn phòng
evi: Căn phòng của tôi
Khóa luận tốt nghiệp sv: Nguyễn Thị Ngọc - K33C - Ngữ vãn
1
8
(tiếng Tacta)
3- Trong tiếng Melayu (ngôn ngữ quốc gia chính thức của Tnđônêxia -
Malaysia) phụ tố pe - (pen peng-, pem) chỉ người làm một nghề nào đó của một việc
tulis (viết) kedai
(cửa hàng)
ladang (ruộng)
besar (lớn)
jahat (ác)
Trong đó:
+ penda : Yêu
+ ni : Tôi (chủ ngữ)
+ m : Nó (bổ ngữ)
+ ta : Sẽ
+ a : Nó (chủ ngữ)
+ ku : Anh
Thú’ hai: Ớ loại hình ngôn ngữ này vừa có sự chắp nối các yếu tố (giống
ngôn ngữ chắp dính), vừa có thể có sự biến đổi ngữ âm khi kết hợp (giống ngôn ngữ
hòa kết). Xem ở ví dụ trên, yếu tố có nghĩa là “nó” khi làm chủ ngữ thì có hình thức
là “a” khi làm bổ ngữ thì có hình thức “m”.
Thuộc vào loại hình này là ngôn ngữ của người da đỏ ở Châu Mỹ một số
ngôn ngữ Châu Á: Sucốt, Cam - chat, Suakhili
4. Loại hình đơn lập (ngôn ngữ không có hình thái, ngôn ngữ không biến hình,
ngôn ngữ đơn âm hay ngôn ngữ phân tiết) có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Từ không biến đổi hình thái.
Thứ hai: Các ý nghĩa ngữ pháp và quan hệ ngữ pháp được biểu hiện chủ yếu
bằng: trật tự từ, hư từ và ngữ điệu.
Thứ ba: Âm tiết được tách bạch rõ rệt và thường là đơn vị có nghĩa.
Loại hình đơn lập xuất hiện sau loại hình khuất chiết, chắp dính, nó được biết
đến khi tiếp xúc với văn ngôn Trung Quốc.
Ví dụ: Câu tiếng Hán:
a in i m u ìấ w if.
(Thầy giáo của chúng tôi dùng tiếng Hán giảng bài)
Câu này có 10 âm tiết tách bạch, được viết thành 10 chữ rời. Mỗi âm tiết đều
Ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính có ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ, các ngôn ngữ
U-Ran-An-Tai, một số ngôn ngữ Châu Phi kiểu như ngôn ngữ Băng-Tu
3. Loại hình đơn lập (ngôn ngữ không có hình thái, ngôn ngữ đơn âm, ngôn
ngữ hình tiết). Có các đặc điếm:
Thứ nhất: Quan hệ ngữ pháp chỉ được diễn đạt bằng trật tự trước sau của từ
và bằng các hư từ.
Thứ hai: Từ không có hiện tượng biến hình.
Thứ ba: Vỏ ngữ âm thường trùng với âm tiết, có khả năng vừa dùng như từ,
vừa dùng như hình vị. Khó có thể xác định ranh giới từ, khó phân biệt yếu tố hư với
yếu tố thực, cũng như vấn đề mặt cấu tạo từ ít phát triên.
Các ngôn ngữ Hán cổ, ngôn ngữ thuộc khu vực Đông Nam Á, ngôn ngữ A-
ran-ta ở Châu úc, ngôn ngữ Ê-ve, I-ô-ru-ba ở Châu Phi. Ngoài ra, còn có ngôn ngữ
tiếng Việt đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập.
4. Loại hình lập khuôn (ngôn ngữ hỗn nhập). Đặc điểm loại hình của ngôn
ngữ này là:
Thú’ nhất: Ngoài đơn vị là từ lại có những đơn vị nửa từ nửa câu. Đơn vị này
được xây dựng trên cơ sở một dạng động từ trong đó bao gồm cả trạng ngữ, chủ ngữ,
bổ ngữ.
Thứ hai: Loại hình lập khuôn gần gũi với loại hình chắp dính ở nguyên tắc
chắp nối hình vị với hình vị, gần gũi với loại hình khuất chiết ở điểm có xảy ra hiện
tượng biến đổi vỏ ngữ âm của hình vị khi hình vị kết hợp với nhau.
Loại hình lập khuôn gồm ngôn ngữ người da đỏ ở Châu Mỹ, loại hình của
mốt số ngôn ngữ như: Cap-ka-dơ và loại hình của ngôn ngữ Chu-côt, Cam - chat
[25, 39].
Như vậy, về cơ bản sự phân loại ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học có sự
đồng nhất với nhau về quan điểm. Từ đó, họ đã khẳng định sự tồn tại và cho thấy vị
trí, ý nghĩa của bốn loại hình ngôn ngữ cơ bản trên thế giới.
1.2.Loại hình ngôn ngữ tiếng Việt.
1.2.1. Khái niệm loại hình ngôn ngữ đơn lập.
Trong các ngôn ngữ thế giới, các ngôn ngữ kiểu như tiếng Việt, tiếng Hán,
một đặc trưng của thể loại (thể thơ lục bát, song thất lục bát, thơ ngũ n g ô n . . v í dụ:
trong câu thơ sau đây, chúng ta dễ dàng nhận ra (khi đọc và khi nghe) có 14 âm tiết:
" Cỏ / non / xanh / rợn / chân / trời,
Cành I lê I trắng / điểm í một / vài / bông / hoa”.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Trong thành ngữ, tục ngữ, phép đối giữa các vế, các câu chính là đối giữa các
âm tiết của chúng. Nghĩa là, đơn vị đối xứng ở đây là các âm tiết.
Ví dụ:
“Mẹ tròn con vuông”.
“Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”.
Đối: Mẹ - con; tròn - vuông.
Tay - hàm; làm - nhai; tay - miệng; quai - trễ.
(Ngoài ra, trong các thể văn biền ngẫu cũng có phép đối giữa các vế, đối
giữa các âm tiết).
Khi tìm hiểu về âm tiết tiếng Việt có những đặc điểm cần lưu ý sau đây: Thứ
nhất: Có cấu trúc chặt chẽ và rõ ràng. Mỗi âm tiết ở dạng tối đa thường gồm ba
phần: Phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu. Phần vần tối đa lại bao gồm ba âm: âm
đệm, âm chính và âm cuối. Còn tối thiểu, âm tiết tiếng Việt phải có âm chính và
thanh điệu. Âm chính luôn luôn phải là một nguyên âm. Các phần và các bộ phận
này được sắp xếp theo một trật tự ổn định và mỗi vị trí chỉ do một số âm vị chiếm
giữ. Điều này, được thể hiện cụ thể qua mô hình sau:
Thanh điệu
Phu âm đầu Vần
Am đệm Am chính Am cuối
Chẳng hạn với âm tiết: “TOÀN” ta sẽ có cấu tạo như sau:
T // o - À N
Phụ âm đầu // vần (âm đệm: o, âm chính: a, âm cuối: n), thanh huyền. Thứ
hai, mỗi âm tiết luôn luôn mang một thanh điệu nhất định. Tiếng Việt là một ngôn
ngữ có thanh điệu và tất cả có sáu thanh.
Với những đặc điểm này là cơ sở dẫn đến hiện tượng nói lái (cá đua - cua