Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
\ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH LOAN
DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HÁT NÓI TRONG SGK
NGỮ VĂN 11 THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG HỮU BỘI
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Em xin đƣợc bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình tới
PGS. TS Hoàng Hữu Bội – ngƣời thầy đã tận tâm hƣớng dẫn, giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn
và khoa Sau đại học - trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên – Đại học Thái
Nguyên, đã tạo điều kiện - giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điều
kiện, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
1.1.2 Đặc trƣng thể loại của thơ hát nói. 13
1.2 Cơ sở thực tiễn: Thành tựu của thơ hát nói trong văn học trung đại
Việt Nam. 31
1.2.1 Thế kỷ XIX 31
1.2.2 Thế kỷ XX 44
Chƣơng 2: ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ HÁT NÓI 47
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI 47
2.1 Thực trạng dạy và học thơ hát nói ở trƣờng phổ thông 47
2.1.1 Học sinh THPT với thơ hát nói: 47
2.1.2 Giáo viên với việc dạy các văn bản thơ hát nói 50
2.2 Định hƣớng dạy các văn bản thơ hát nói trong SGK Ngữ văn 11 67
2.2.1 Xác định nội dung bài dạy 68
2.2.2 Tổ chức HS đọc và tìm hiểu bài thơ theo hƣớng đổi mới phƣơng
pháp giảng dạy 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Chƣơng 3: THƢ̣ C NGHIỆ M SƢ PHẠ M 85
3.1 Thiế t kế bà i họ c 85
3.1.1 Thiết kế bài học “Bài ca ngất ngƣởng” của Nguyễn Công Trứ. 85
3.1.2 Thiết kế bài “Bài ca phong cảnh Hƣơng Sơn” của Chu Mạnh Trinh 94
2.1.2 Bắt đầu đi vào thăm thú Hƣơng Sơn 99
2.1.3 Vào trung tâm quần thể Hƣơng Sơn 100
2.1.3 Lời tự bạch của nhà thơ 101
3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm. 103
3.2.1. Chọn lớp thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 103
3.2.2. Kết quả thực nghiệm: 103
3.2.3. Đánh giá: 105
C. PHẦN KẾT LUẬN
2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ hát nói
Với tƣ cách là một thể loại hết sức độc đáo của văn học, hát nói đã thu
hút đƣợc sự quan tâm, đánh giá của các nhà nghiên cứu. Mặc dù các tài liệu
hát nói có số lƣợng khá khiêm tốn nhƣng đã đề cập đến một số khía cạnh của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
thể loại nhƣ nguồn gốc, nội dung, hình thức. Hầu hết các tài liệu về hát nói
mới chỉ nghiên cứu nó ở mức độ khái quát, nhìn chung là chƣa đầy đủ và toàn
diện. Hầu nhƣ chƣa xuất hiện một công trình nào có tính chất chuyên luận
nghiên cứu kỹ càng, công phu, toàn diện về thể loại hát nói.
Những cuốn sách đầu tiên viết về hát nói phải kể đến “Đào nƣơng ca” của
Nguyễn Văn Ngọc, “Hát ả đào” của Hoàng Sơn, “Ca trù thể cách” của Xuân
Lan, “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề. Đây là
những cuốn sách rất có giá trị trong việc khảo sát một cách hoàn chỉnh thể
loại hát nói. Song điều đáng tiếc là trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi
không có đƣợc văn bản nên không đƣa ra đƣợc những dẫn chứng cụ thể. Đó
là một hạn chế trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi. Các nhà nghiên cứu tuy
mới chỉ dừng ở mức độ khái quát nhƣng đã đƣa ra những nhận xét, đánh giá
có tính định hƣớng quan trọng trong việc tìm hiểu một cách hệ thống và toàn
diện thể loại hát nói. Đó là các công trình: “Tuyển tập thơ ca trù” của Ngô
Linh Ngọc, Ngô Văn Phú; “Việt Nam văn học sử yếu” của tác giả Dƣơng
Quảng Hàm; “Thơ ca Việt nam – hình thức và thể loại” của Bùi Văn Nguyên,
Hà Minh Đức; Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX”
của tác giả Nguyễn Lộc; “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên; “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại
Việt Nam” của Trần Đình Sử.
Nếu nhƣ trong “Tuyển tập thơ ca trù”, tác giả Ngô Linh Ngọc, Ngô Văn
Phú trong phần giới thiệu đầu sách tập trung khá kỹ vào việc tìm hiểu nguồn
Cuốn “Phƣơng pháp dạy học TPVC theo loại thể” của Nguyễn Viết
Chữ có đề cập đến đặc điểm thi pháp của loại thể , phƣơng pháp dạy học
theo loại thể.
Khi tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về hát nói, chúng tôi chú ý đến bài
viết “Thể loại hát nói trong lịch sử thơ ca dân tộc” của tác giả Nguyễn Đức
Mậu in trong cuốn “Mấy vấn đề lịch sử và lý luận văn học” - Viện văn học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. Có thể nói đây là một
bài viết khá công phu và có giá trị khoa học. Tác giả đã đặt hát nói trong tiến
trình lịch sử thơ ca dân tộc, so sánh hát nói với các thể loại văn học dân tộc
khác nhƣ truyện thơ, ngâm khúc; từ đó làm nổi bật giá trị độc đáo của hát nói
cả về nội dung và hình thức. Tác giả cũng đã nhìn “hát nói nhƣ một cấu trúc
nghệ thuật mới” và đề cập đến một số vấn đề cụ thể nhƣ vần và nhịp, câu và
từ, không gian và thời gian nghệ thuật.
Cuốn “Thiết kế dạy học Ngữ Văn lớp 11” của tác giả Hoàng Hữu Bội,
NXBGD, 2007. Cuốn “Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 11” (nâng
cao) do tá c giả Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên, NXBGD, 2009. Cuốn “Phân
tích tác phẩm Ngữ văn 11” do Trần Nho Thìn chủ biên cũng đã đề cập đến
vấn đề này.
Những tài liệu quan trọng trên tuy không mang nội dung trực tiếp nói về
phƣơng pháp dạy học hát nói theo đặc trƣng thể loại nhƣng nó có tác dụng
gián tiếp, là cơ sở để chúng tôi triển khai luận văn này.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1 Tìm ra con đƣờng tiếp cận văn bản hát nói theo đặc trƣng thể loại trên cơ
sở xác định đúng đặc trƣng thể loại.
3.2 Tìm ra các biện pháp tổ chức HS đến với các tác phẩm hát nói từ đặc
trƣng thể loại của nó theo yêu cầu của đổi mới phƣơng pháp giảng dạy (tích
Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập đƣợc trong
quá trình điều tra khảo sát và quá trình thực nghiệm.
6.2.2 Phƣơng pháp điều tra khảo sát:
Sử dụng phƣơng pháp này để tìm hiểu khả năng cảm thụ của học sinh lớp 11
về hát nói. Từ việc nắm đƣợc thực trạng của việc day học hát nói để nghiên
cứu đề tài một cách sát thực góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hát nói.
6.2.3 Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm:
Sử dụng phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm với việc tiến hành xây dựng
thiết kế bài học và dạy thực nghiệm đối chứng tại trƣờng THPT Yên Ninh-
Phú Lƣơng - Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài:
1.1/ Cơ sở lí luận của đề tài:
1.2/ Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Chƣơng 2: Định hƣớng dạy học các tác phẩm thơ hát nói theo đặc trƣng
thể loại.
2.1 Thực trạng dạy và học thơ hát nói ở trƣờng phổ thông
2.1.1 HS THPT với thơ hát nói
2.1.2 GV với việc dạy các văn bản thơ hát nói
2.2 Định hƣớng dạy các văn bản thơ hát nói trong SGK Ngữ văn 11
2.2.1 Xác định nội dung bài dạy
2.2.2 Tổ chức cho HS đọc và tìm hiểu bài thơ theo hƣớng đổi mới
phƣơng pháp giảng dạy.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm:
3.1 Thiết kế bài dạy.
Ngoài ba phần chính, mỗi bài hát nói còn có thêm phần “mưỡu” (do chữ mạo
nghĩa là “làm trùm”, “phủ lên mình”) là những câu thơ lục bát đặt ở đầu bài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
(gọi là “mưỡu đầu”) hoặc cuối bài ( gọi là “mưỡu hậu”) để nói lên ý nghĩa
bao quát toàn bài. Nếu chỉ có hai câu lục bát thì gọi là “mưỡu đơn”, bốn câu
thì gọi là “mưỡu kép”.
Một bài hát nói biến cách ( hay biến thể ) thì số khổ giữa có thể tăng (gọi là
“dôi khổ”) hoặc giảm ( gọi là thiếu khổ).
Về số tiếng trong câu vừa cố định vừa tự do. Phần cố định bắt buộc là hai câu
thơ ở khổ giữa ( nhất thiết phải là ngũ ngôn hay thất ngôn), các câu “mưỡu”
(phải là thơ lục bát) và câu cuối ( phải đúng sáu tiếng ). Còn các câu khác chỉ
có thể kéo dài hoặc rút ngắn nhưng phổ biến là bảy, tám tiếng. Việc gieo vần,
ngắt nhịp trong thể cũng tương đối tự do. Sang thế kỷ XX, các nhà thơ hiện
đại Việt nam đã tiếp thu nhiều yếu tố của thể hát nói để sáng tạo ra thể thơ
tám tiếng - một thể thơ rất thịnh hành trong phong trào Thơ mới.” (1. 143)
Còn cuốn “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- hết thế kỷ
XIX” (Nguyễn Lộc, Nxb Giáo dục 1997) cũng cho ta biết :
“Thể hát nói cũng là một thể thơ trữ tình ngắn, nhưng có dung lượng
lớn hơn và cách luật cũng thoải mái hơn thể thơ đường luật. Thể thơ hát nói
xuất hiện từ thế kỷ XVI với Lê Đức Mao, sau đó không thấy được dùng. Đầu
thế kỷ XIX nó được dùng lại với các nhà thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,
Nguyễn Hàm Ninh. Hát nói vốn là những bài hát gắn liền với sinh hoạt ả đào,
nội dung của nó thường gắn chuyện ăn chơi hưởng lạc. Cấu tạo bài hát nói
kết hợp được một cách linh hoạt những câu thơ dài với những câu thơ ngắn,
nó không thể kéo dài vô hạn, nhưng cũng không hạn chế vào mấy câu ít ỏi
như thể thơ Đường luật. Do đặc điểm ấy nên hát nói có khả năng diễn đạt
những tình cảm phóng túng, những hoài bão mạnh mẽ. Hát nói nửa đầu thế
cửa quyền, hát đón ( hát chúc tụng, khao vọng tại các nhà quyền quí, quan
lại) và cuối cùng tiến tới hình thức ca nhạc thính phòng là hình thức phát
triển cao nhất, tiêu biểu nhất của ca trù.” ( 4. 27-28 )
Ca trù có rất nhiều điệu hát : tỳ bà, cung bắc, gửi thƣ, ngâm vọng, chừ
khi, bắc phản, hát ru… và để đáp ứng việc thể hiện tâm tƣ, tình cảm phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
phú của con ngƣời, hát nói - bắt nguồn từ một số làn điệu ca trù cửa đình đã ra
đời và trở thành điệu thức chủ yếu tạo nên bộ mặt mới cho ca trù. Hát nói
nằm trong ca trù nhƣng ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống, ít
có tính văn học, còn hát nói thì đƣợc nâng lên thành một thể loại văn học.
Do đó, mặc dù có quan hệ gần gũi nhƣng chúng mang đặc trƣng riêng
biệt. Phân biệt nhƣ vậy nhƣng khi định nghĩa về hát nói, không thể bỏ
qua yếu tố hay quan hệ gần gũi này của hát nói và ca trù bởi đây là đặc
điểm quan trọng xác định thể loại. Sự thống nhất này của các nhà nghiên
cứu khi đƣa ra cách hiểu về hát nói cũng chính là ở điểm này.
Tác giả Dƣơng Quảng Hàm định nghĩa: “ Hát nói là một lối trong
các lối hát ả đào hay đào nương ca…Hát ả đào kể có nhiều lối. Nhưng chỉ có
lối hát nói là thông dụng nhất và có văn chương lý thú nhất. Hát nói có thể
coi là biến thể của hai thể lục bát và song thất” (5. 141 )
Tác giả Lạc Nam trong “ Tìm hiểu các thể thơ” còn giải thích cụ thể
nhƣ sau : “ Gọi là hát nói, vì trừ những câu mưỡu, câu hãm ở cuối bài và
những đoạn thơ bằng chữ Hán hay chữ Nôm xen vào giữa những câu hát ra,
nó bao gồm những câu nửa như nói, nửa như hát dựa theo thể nói sử biến
cách, dài ngắn khác nhau từ 4, 5, 6, 7, 8 đến 12 từ, nhưng hình thức cơ bản là
theo thể 7 từ và 7 từ biến cách, đồng thời kết hợp với hình thức “ trúc chi từ”
( lối thơ thất ngôn tứ tuyệt vịnh những sự việc thường có trong đời sống, lời lẽ
thực thà, mộc mạc, khong văn vẻ ) và thể văn biền ngẫu.”( 6. )
cấp phong kiến không những đã mất hết vai trò lịch sử mà còn lộ rõ bộ mặt
phản động, đi ngƣợc lại lợi ích quần chúng. Đời sống nhân dân vì thế vô cùng
điêu đứng cực khổ. Đây cũng chính là giai đoạn đã để lại trong lịch sử dấu ấn
của “ thế kỷ nông dân khởi nghĩa” với những phong trào đấu tranh mạnh mẽ,
rộng khắp và liên tục. Trong đó khởi nghĩa Tây Sơn ( 1771) với vai trò của
ngƣời anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã đập tan các tập đoàn phong kiến thống
tri Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong; đồng thời còn lập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
nên chiến công vẻ vang phá tan hai mƣơi vạn quân Thanh năm 1789. Nhƣng
triều đại Tây Sơn với những tiến bộ trong cải cách chính tri, văn hoá xã hội
chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi. Nguyễn Ánh - Gia Long đã tiêu diệt
nhà Tây Sơn và lên ngôi, thủ tiêu những tiến bộ thời Quang Trung và phục
hƣng những cổ hủ của Nho giáo, lịch sử xã hội lại một lần nữa lâm vào bế tắc.
Trong một xã hội nhƣ thế, chế độ phong kiến, đất nƣớc, dân tộc
không thể tiếp tục là nguồn cảm hứng để ngợi ca của văn học nữa. Ý thức hệ
phong kiến cùng với sự suy tàn của chế độ xã hội đã sản sinh ra nó cũng
không tránh khỏi sự khủng hoảng tất yếu. Đời sống tình cảm và những nhu
cầu, lý tƣởng của con ngƣời thời kỳ này cũng khác trƣớc. Cái mà con ngƣời
quan tâm, hƣớng tới và đấu tranh để dành đƣợc lúc này là tình yêu, hạnh
phúc, là những giá trị của cuộc sống mà ở đó con ngƣời đƣợc khẳng định và
đề cao. Vì thế, nói nhƣ GS Nguyễn Lộc : “ Đặc trưng cơ bản có tính lịch sử
của văn học thời kỳ này là sự khám phá ra con người và khẳng định những
giá trị chân chính của con người”. Trong đó, đáng chú ý là sự xuất hiện và
khẳng định mạnh mẽ của con ngƣời với tƣ cách là những cá thể xã hội trong
văn học. Đó là con ngƣời mang trong mình những khao khát mãnh liệt, những
tình cảm rộng lớn, đặc biệt là sự thể hiện cái tôi cá nhân một cách vô cùng táo
bạo, sự khẳng định mạnh mẽ bản ngã trƣớc cuộc đời. Thực tế cuộc sống của
xuất thân là môn sinh của cửa Khổng sân Trình. Nhƣng do tiếp xúc với một
môi trƣờng xã hội mới, nhận thức và quan niệm của họ có nhiều thay đổi. Nếu
ngƣời hành đạo và ngƣời ẩn dật coi đạo đức là điều làm nên giá trị con ngƣời
thì ngƣời tài tử quan niệm đó phải là tài và tình. Ngƣời tài tử dứt khoát phải là
ngƣời có tài và họ ý thức đƣợc cái tài của mình. “ Được số phận ưu đãi, thiên
nhiên phú cho những phẩm chất hơn người, từ thuở thiếu thời, người tài tử đã
luôn tâm niệm về “ tính trội” của mình và luôn lăm le sử dụng nó khi có dịp”
( 7. 83). Họ ôm ấp hoài bão lớn lao là lập nên những sự nghiệp phi thƣờng.
Bởi thế việc đƣợc thử tài, trổ tài, việc đƣợc thoả mãn hoài bão cá nhân là điều
họ quan tâm nhất. Đồng thời với việc ý thức cao về tài năng của mình và luôn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
muốn đƣợc thể hiện khẳng định tài năng ấy - còn mang trong mình - tuy chƣa
phải là “một khát vọng mãnh liệt hướng tới mục đích giải phóng cá nhân,…
một thứ hạnh phúc phong phú thoả mãn các cảm xúc ngày càng đa dạng và
phức tạp” ( 7. 90 ) - nhƣng là những đòi hỏi khao khát về tình yêu, hạnh phúc
thể hiện nhu cầu giải phóng tình cảm, bộc lộ bản ngã. Ngƣời tài tử không
những
“ thị tài” mà còn “ đa tình” - đó là hai đặc trƣng tạo nên diện mạo tinh thần
của nhà nho tài tử. Khái niệm đa tình ở đây không chỉ là sự say mê sắc đẹp
đơn thuần mà phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng của nó : tâm hồn giàu tình cảm,
dễ xúc động.
Nhƣ vậy, sống trong môi trƣờng xã hội - văn hoá mới, với một tâm hồn
tự do phóng khoáng, với một cá tính mạnh mẽ luôn muốn khẳng định cái tôi,
đề cao bản ngã, thậm chí muốn xáo trộn phá phách trật tự xã hội đầy ngông
nghênh kiêu bạc - ngƣời tài tử trở thành một nhân vật điển hình mới của thời
đại. Những tƣ tƣởng tình cảm khát khao, cá tính của ngƣời tài tử đòi hỏi đƣợc
bộc lộ một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất. Hát nói đã thể hiện đƣợc đúng nhất
“Bài ca chúc tết thanh niên” (1927) lại là lời kêu gọi, giục giã tuổi trẻ
trong sự nghiệp cách mạng cứu nƣớc:
“ Thưa các cô,các cậu lại các anh
Đời đã mới người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Xúm vai vào xốc vác cựu giang san
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan
Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại…”
Sau khi các phong trào vận động yêu nƣớc lớn đầu thế kỷ nhƣ Duy Tân,
Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục lần lƣợt bị dập tắt, hát nói vẫn ngân lên âm
điệu của nỗi lòng ngƣời dân mất nƣớc, ngày càng sâu lắng hơn, da diết hơn.
Cũng với âm hƣởng hào hùng đầy tự do, phóng khoáng, hát nói đƣợc các
chiến sĩ cách mạng trong nhà tù đế quốc trƣớc Cách Mạng tháng Tám sáng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
tác để bày tỏ niềm tin và tinh thần lạc quan. Phỏng theo bài “Hương Sơn
phong cảnh ca” của Chu Mạnh Trinh, họ đã viết nên bài hát nói ngợi ca Cách
Mạng tháng Mƣời vĩ đại:
“Bầu trời, trái đất
Cảnh Liên Xô ao ước bấy lâu nay
Điện Cẩm Linh rực rỡ bóng cờ bay
Oanh liệt nhất hỏi rằng đây có phải…”
( Nguyễn Ngọc Tỉnh và Lê Viên)
“Này suối Tự do, này nguồn Giải Phóng
Nào xây xã hội nào chống chiến tranh
Vĩ đại thay muôn dặm trường thành
Cờ liềm búa long lanh như gấm dệt…”
(Chu Hà)
của thời đại, mang dấu ấn lịch sử và đại diện cho đời sống tinh thần của con
ngƣời trong thời đại ấy.
1.1.2.2. Đặc trƣng về nghệ thuật
Hát nói là sản phẩm của một thời đại lịch sử đầy biến động. Nó thể hiện
đới sống tâm tƣ tình cảm của một tầng lớp nhà nho tài từ tài hoa không ai
sánh mà ngông nghênh cũng ít ai bằng. Vì thế, “để thể hiện tính cách tự do
phóng túng, hát nói có một hình thức mang tính tự do nội tại”. ( Nguyễn Đức
Mậu). Đó chính là nét đặc trƣng, là nét đặc thù, cũng là điều làm nên tính chất
độc đáo về mặt hình thức nghệ thuật của hát nói. Nghiên cứu hát nói, ngƣời ta
bị hấp dẫn trƣớc tiên và nhiều nhất là ở hình thức nghệ thuật của nó. Hát nói
đƣợc xem là một thể loại độc đáo vào bậc nhất của văn học nƣớc nhà.
Bằng việc khảo sát và tìm hiểu hình thức nghệ thuật của thơ hát nói trên
một số phƣơng diện chính: bố cục, câu, từ, vần, nhịp và tính nhạc, chúng tôi
có đƣợc một số hiểu biết sau đây về đặc trƣng nghệ thuật của thơ hát nói:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
* Bố cục
Ở thể chính cách (đủ khổ), bài hát nói gồm 11 câu, đƣợc chia làm 3 khổ
(trổ): khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu. Theo tiếng nhà nghề, 11
câu trong bài đủ khổ có tên riêng là:
Khổ đầu: Hai câu 1 - 2 là lá đầu
Hai câu 3 - 4 là xuyên thƣa
Khổ giữa: Hai câu 5 - 6 là thơ
Hai câu 7 - 8 là xuyên mau
Khổ xếp: Câu 9 là dồn
Câu 10 là xếp
Câu 11 là keo
Ví dụ bài “Chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ.
Phải rằng dì gió hay không
Phong tình quen thói lạ lùng trêu ngươi”
(Hỏi gió - Tản Đà)
Mƣỡu hậu bao giờ cùng là mƣỡu đơn nghĩa là chỉ có một cặp lục bát
thƣờng dặt ở giữa câu xếp và câu keo. Khi đó câu lục phải ăn vần với câu xếp
ở trên còn câu bát phải buông vần xuống cho câu keo ở dƣới bắt vào
Ví dụ:
Núi cao trăng sáng
“Cao sơn nhất phiến nguyệt
Đã chơi trăng nên phải biết tình trăng
Sơn chi thọ đối nguyệt chi hằng
Sơn có nguyệt càng thêm cảnh sắc
Nguyệt phải hàn sơn thi bán bức
Sơn hàn minh nguyệt tửu thiên tôn
Trăng chùa già núi hãy còn non