Dạy học ca dao trong ngữ văn 10 theo quan điểm tích hợp - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=======***=======

LƢƠNG THỊ NGỌC BÍCH

DẠY HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

KHÓA LUẬN TỐT NGIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=======***=======

LƢƠNG THỊ NGỌC BÍCH

DẠY HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Vũ Ngọc Doanh

HÀ NỘI, 2015


GV

Giáo viên

HS

Học sinh

NXB

Nhà xuất bản

SGK

Sách giáo khoa

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TPVH

Tác phẩm văn học

VHDG


2.2.2 Thông tin văn hóa ........................................................................... 27
2.2.3. Thông tin ngôn ngữ ......................................................................... 37
2.2.4 Thông tin đời sống .......................................................................... 40
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM...............................................................................45
3.1 Mục đích thực nghiệm ........................................................................... 45
3.2 Văn bản thực nghiệm ............................................................................. 45
3.3 Đối tượng thực nghiệm .......................................................................... 46
3.4 Thiết kế bài học ...................................................................................... 46
PHẦN KẾT LUẬN .........................................................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thơ ca trữ tình dân gian là tiếng nói tâm tư , tình cảm của tập thể nhân dân
lao động. Nhân vật trữ tình trong thơ ca dân gian là những con người bình dị, người
dân lao động. Các nhà nghiên cứu Việt Nam từng đánh giá rất cao giá trị nhiều mặt
của thơ ca dân gian: “Là tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”.
Nằm trong dòng văn học dân gian, ca dao như dòng sữa ngọt ngào nuôi
dưỡng tâm hồn, ngọt ngào hương sắc đồng quê. Là sáng tác của quần chúng nhân
dân, những bài ca dao có tác dụng giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn to lớn với các
thế hệ học sinh THPT. Ca dao đem lại cho chúng ta những hiểu biết về cuộc sống,
văn hóa của con người qua các thời đại khác nhau. Nó nuôi dưỡng cho con người
những giá trị tình cảm tốt đẹp, bồi đắp tâm hồn con người. Vì những giá trị đó mà
ca dao được đưa vào chương trình SGK Ngữ Văn, trong chương trình Ngữ Văn 10,
tập 1- NXB Giáo dục, có hai chùm bài ca dao: Ca dao than thân, yêu thương tình
nghĩa và Ca dao hài hước. Khi đưa vào chương trình SGK, ca dao được học sinh
yêu thích hơn các thể loại văn học khác bởi đặc điểm giản dị, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ
nhớ của nó. Tuy nhiên, đối với vấn đề giảng dạy và tìm hiểu về ca dao không phải
không gặp phải những khó khăn nhất định.

khoa học nghiên cứu về dạy học ca dao theo hướng tích hợp như: “Giảng dạy ca
dao-dân ca trong chương trình ngữ văn 7” , “Nâng cao chất lượng của học sinh khi
giảng dạy ca dao- dân ca trong chương trình Ngữ văn 7 như thế nào?”, “Dạy học
ca dao trong Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực” ...
Với những kiến thức lý luận có được từ những tài liệu trên, đề tài của chúng
tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề lý thuyết về thi pháp ca dao, về
quan điểm tích hợp trong dạy học... để làm cơ sở cho việc khảo sát thực tế, tìm ra
những hướng đi, biện pháp tối ưu trong dạy học ca dao theo quan điểm tích hợp.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Cách dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp. Cụ thể là
hoạt động của giáo viên và học sinh trong các giờ học ca dao ở lớp 10 theo hướng
tích hợp.
4. Mục đích nghiên cứu
- Nắm vững được quan điểm dạy học tích hợp.
- Chỉ ra những thông tin trong dạy học ca dao.

2


- Góp phần nhỏ vào việc tìm ra các hướng đi của dạy học ca dao một cách
hiệu quả nhất.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp.
- Đề xuất một phương án có tính khả thi, hiệu quả cho việc dạy học ca dao ở
lớp 10 theo quan điểm tích hợp.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý luận.
- Phương pháp khảo sát.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp so sánh.

trình học tập riêng rẽ các môn học khác nhau theo các mô hình, cấp độ khác nhau
nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và những yêu cầu cụ thể khác nhau” [tr 6].
Theo quan điểm của TS.Nguyễn Văn Đường trong bài “ Những điểm mới của
chương trình và SGK Ngữ văn 6”, tạp chí giáo dục, năm 2002 cho rằng: “ Tích hợp
là sự tổng hợp ở mức độ cao, hài hòa, biện chứng ở các cấp độ, phương diện khác
nhau nhằm đạt hiệu quả, chất lượng mới và tốt” [tr 7].
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “ Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối
trong dạy học Ngữ văn”, tạp chí Giáo dục, số 22, năm 2002 quan niệm: “Tích hợp

4


là thuật ngữ mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá
trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn, trên cơ sở một văn bản có vai trò
là kiến thức nguồn” [tr 21-22].
1.1.1.2 Phân loại
Tích hợp ngang là “tích hợp trong từng thời điểm”( một tiết học, một bài học)
từ kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn khác ( Văn- Tiếng
Việt –Làm văn) hoặc giữa môn Ngữ văn với các môn học khác, với các lĩnh vực
trong cuộc sống, để làm nổi bật, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy của học sinh.
Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức và kỹ năng với đơn vị
kiến thức và kỹ năng đã học trước đó .Cụ thể là: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc
học trên bao hàm cả kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến
thức và kỹ năng của lớp dưới, bậc học dưới. Đây là kiểu tích hợp khoa học.
Xét riêng từng phân môn một thì khi tích hợp ngang, ít nhiều phá vỡ tính hàng
dọc của hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học. Với phân môn Văn học, vì coi trọng
việc học văn theo thể loại nên tính hệ thống của văn học sử bị lu mờ rõ rệt. Dẫu sao
chúng ta vẫn thấy các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa, có dụng ý sắp xếp
các văn bản đọc- hiểu vừa theo thể loại, vừa theo trình tự lịch sử nhằm tạo ra ít nhiều
cơ sở cho việc học chương trình văn học sử ở bậc THPT. Thông qua các giờ ôn tập

hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là
cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà
trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ,
bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình
huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong
nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có
quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép
phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và
thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình
huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.
Tóm lại, tích hợp trong dạy học môn Ngữ văn có thể hiểu là sự hợp nhất của ba
phân môn Văn- Tiếng Việt- Làm văn. Cả ba phân môn đều dựa vào một văn bản chung
để khai thác, hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu của mỗi phần

6


trong hệ thống kiến thức của cả ba phần có mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau,
hỗ trợ nhau và cùng làm sáng tỏ cho nhau, tránh chồng chéo và có tính chất thống nhất.
1.2 Lý thuyết tiếp nhận tác phẩm văn học
1.2.1 Vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
1.2.1.1 Khái niệm tiếp nhận tác phẩm văn học
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, từ nói
khác chuyển giao cho [9,tr 1020].
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” quan niệm: tiếp nhận văn học là hoạt
động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản
phẩm sau khi đọc, cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ ảnh hưởng trong hoạt động
sáng tạo, bản dịch chuyển thể [3,tr 325].
Như vậy, tiếp nhận văn học là một hoạt động tinh thần. Đó là một quá trình

hóa, nên việc chuyển đổi về ngôn ngữ là vô cùng khó khăn.
Những khoảng cách trên luôn tồn tại, trở thành khó khăn cho quá trình tiếp
nhận. Nhiệm vụ của người dạy TPVH trong nhà trường là bằng cách nào đó giúp
người học rút ngắn các khoảng cách. Khoảng cách càng được rút ngắn thì hiệu quả
tiếp nhận càng được nâng cao.
1.2.1.3 Định hướng tiếp nhận văn học
Định hướng tiếp nhận văn học trong dạy học là xác định cho bài giảng một
hướng khai triển sao cho đạt được hiệu quả giáo dục và phát triển. Trong dạy học
Ngữ văn, định hướng là xác định những khả năng tác động của tác phẩm, những
khả năng tác động thiết thực ở một lớp, một cấp, một lứa tuổi nhất định để hướng
các em vào giá trị, ý nghĩa khách quan của tác phẩm và tư tưởng nghệ thuật của tác
giả. Từ đó tạo nên sự hòa đồng thẩm mĩ giữa học sinh với tác giả thông qua văn bản
văn chương nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách và mở rộng tri thức ở các em. Các
định hướng tiếp nhận văn học: đọc văn bản văn chương, định hướng cắt nghĩa, định
hướng phân tích, định hướng bình giá.
1.2.2 Vấn đề đọc - hiểu tác phẩm văn học
1.2.2.1 Khái niệm đọc- hiểu
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2008) thì đọc là “tiếp nhận nội dung của một tập
kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu”. Trong tiếp nhận tác phẩm văn chương, đọc
là khâu đầu tiên, là hoạt động tiền đề.

8


GS.TS. Trần Đình Sử trong tạp chí “Văn học và tuổi trẻ” ( tháng 11-2007)
đưa ra khái niệm như sau: “đọc là tổng hòa của nhiều quá trình, nhiều hành vi
nhằm đạt được mục đích và nắm bắt ý nghĩa của văn bản. Đọc bằng mắt, bằng
miệng ( phát âm), đọc nhận biết, tưởng tượng, liên hệ, ghi chép, ghi nhớ, tra cứu,
phân tích, so sánh, trao đổi”.
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2008) thì hiểu là: “Nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí

Như vậy, đọc- hiểu trở thành một yêu cầu bắt buộc để tiếp nhận một tác phẩm
văn chương, đờng thời nó có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động dạy và học
Ngữ văn theo tinh thần đổi mới.
1.3 Những đặc trƣng của thể loại ca dao
1.3.1 Khái niệm về thể loại và thi pháp thể loại
Việc dạy học ca dao theo đặc trưng thể loại là gì, nó có những ưu điểm và hạn
chế như thế nào và dạy học ca dao theo quan điểm tích hợp như thế nào? Đề tài này
sẽ làm rõ hai vấn đề trên. Để làm sáng tỏ hai vấn đề trên tôi dựa vào những thành
tựu nghiên cứu về thi pháp của các nhà nghiên cứu văn học dân gian (Hoàng Tiến
Tựu, Nguyễn Xuân Kính, Đỗ Bình Trị...) và những tài liệu hướng dẫn thực thi
chương trình và SGK Ngữ văn vừa được đổi mới và thông qua việc khảo sát thực tế
dạy học ca dao theo SGK Ngữ văn 10 vừa mới thực thi đầu năm.
Những điều trình bày dưới đây về các khái niệm thể loại, thi pháp thể loại và
đặc trưng của thể loại ca dao được lấy từ cuốn “Thi pháp ca dao” của tác giả
Nguyễn Xuân Kính , cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân
gian” của tác giả Đỗ Bình Trị và được lấy làm một trong những cơ sở lý thuyết cho
luận văn này.
Theo tác giả Đỗ Bình Trị trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể
loại văn học dân gian”: thể loại là tổng thể các tác phẩm cùng có chung mấy dấu
hiệu về hệ đề tài, thi pháp, chức năng, phương thức diễn xướng [tr 3].
Theo tác giả Đỗ Bình Trị trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian”: thi pháp thể loại là tổng thể các yếu tố thuộc về hình thức và thủ
pháp nghệ thuật mà các tác phẩm thuộc cùng một thể loại đều thống nhất sử dụng [tr 4].
Mỗi thể loại VHDG có cách nói riêng của nó nhằm biểu đạt nội dung riêng.

10


Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Vì vậy, phải nắm được thi pháp thể loại
mới có khả năng giải mã được các tác phẩm cùng thể loại. Dạy học ca dao theo đặc



“Thuyền đi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
“Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình vẫn xinh
* Về kết cấu của ca dao
Ca dao có kết cấu rất đặc trưng, vì vậy dạy học ca dao cần giúp học sinh nắm được
kết cấu của ca dao, để vận dụng nó vào nói và viết những lúc cần thiết(tích hợp).
Kết cấu ca dao rất đa dạng, gồm những kiểu chính:
Lối kết cấu đối đáp là những lời trò chuyện trực tiếp bằng thơ ca:
“Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.”
Người con trai ướm hỏi cô gái và cô gái trả lời. Dạng kết cấu này chiếm hầu hết
trong kho tàng ca dao, dân ca là mảng đề tài về tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình.
Tuy nhiên trong ca dao, không hẳn mọi bài ca dao đều chia ra rõ ràng lời của
hai nhân vật trữ tình cùng tham gia đối đáp, có những bài ca dao kết cấu chỉ theo
một vế và tự nó đã có đầy đủ đặc tính của kết cấu đối đáp,vì bản thân nó như một
lời trò chuyện:
“Trầu không vôi ắt là trầu nhạt
Cau không hạt ắt là cau tra
Mình không lấy ta ắt là mình thiệt
Ta không lấy mình, ta biết lấy ai?”
“Hoa thơm hoa héo càng thơm
Em giòn rách áo đói cơm càng giòn”
Lặp lại mô típ dân gian cũng là một trong những đặc điểm quan trọng của
kết cấu ca dao, các công thức mở đầu có tính khuôn mẫu của cùng một cách nghĩ
bộc trực, gần gũi với cuộc sống hàng ngày. Đây chính là một biểu hiện của ca dao

Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật là sự thể hiện hiện thực khách quan
được phản ánh vào trong tác phẩm tạo nên thế giới nghệ thuật cho tác phẩm ấy.
Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng.Thời
gian hiện tại của ca dao bộc lộ qua những từ như: hôm nay, hôm qua:

13


“Bây giờ em mới hỏi anh,
Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào?
Cau xanh nhá với trầu vàng,
Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.”
“Hôm nay sum họp trúc mai,
Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.”
Trong ca dao còn có những cụm từ chỉ thời gian như: ngày đi,ngày về, hôm
qua, đêm qua thì cũng từ thời hiện tại mà nói. Likhatrốp gọi là thời gian diễn xướng.
Ngoài ra thời gian trong ca dao còn là thời gian tâm lý. Đã là thời gian tâm lý thì nó
có muôn vàn cách biểu hiện phụ thuộc vào những cảm nghĩ, tâm tư, cảm xúc...của
nhân vật trữ tình.
“Ngày đi em chửa có chồng,
Ngày về em đã con bế, con bồng, con mang.”
“Ngày đi” không còn là thời gian vật lí mà thời gian đang diễn ra trong tâm
trạng nhân vật, hoàn cảnh chủ quan. Đó là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước sự
thay đổi của hoàn cảnh:
“Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa,
Canh ba tôi nói sáng, ông trời mưa tôi nói chiều.”
Không gian nghệ thuật: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờao, cây đa, mái
đình...là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao.
“Cô kia cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.

người bình dân được thể hiện một cách chân thành, đôi khi hài hước hóm hỉnh:
“Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.
Sang đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này: có lấy anh chăng?”
“Hỡi cô gánh cỏ đường vòng
Vai anh không gánh nhưng lòng anh thương
Hỡi cô gánh cỏ đường vòng
Cho anh gánh hộ để làm chồng một vai”.
Ngôn ngữ ca dao mang vẻ đẹp giản dị nhƣng cũng rất sinh động. Ca dao
biểu hiện cảm nghĩ một cách gợi cảm, miêu tả sự vật một cách gợi hình, điều này

15


thể hiện ở việc sử dụng sáng tạo những từ mô phỏng, từ láy, thanh điệu, các biện
pháp so sánh, ẩn dụ, tượng trưng cùng hệ thống động từ và tính từ của Tiếng Việt.
“Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá cùng nằm một nong”
“Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây
Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi”
Nhờ khéo léo khai thác, sử dụng những giá trị gợi tả dồi dào của tiếng dân tộc,
ngôn ngữ ca dao có khả năng tác động mạnh mẽ vào các giác quan, cảm quan, trực
giác và trí tưởng tượng của người tiếp nhận.
Ngôn ngữ ca dao vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mangsắc thái địa
phƣơng. Chúng ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữ địa
phương. Ca dao Bắc Bộ thì nhẹ nhàng tình tứ.
“Người về em chẳng cho về,
Em nâng vạt áo, em đề câu thơ.”
Ca dao Nam Bộ thì bộc lộ một cách rõ ràng, bộc trực, dứt khoát:

để khám phá các bình diện nội dung và ý nghĩa khác trong ca dao.

17


Chƣơng 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
TRONG DẠY HỌC CA DAO Ở LỚP 10
2.1 Chƣơng trình ca dao trong SGK Ngữ văn 10
Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi
rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương
trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” “Nguyên tắc tích
hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm
văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố
của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp
trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS;
tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.”
Kế thừa thành tựu của sách giáo khoa cũ, về cấu trúc và nội dung của phần
văn học dân gian có nhiều thay đổi về cấu trúc và nội dung chương trình, trong đó
ca dao được tăng số tiết học và có sự tích hợp. Trong SGK Văn học 10 gồm hai
chùm bài: Những câu hát than thân và Những câu hát tình nghĩa (không học ca dao
hài hước). Trong SGK Ngữ văn 10 gộp hai chùm bài ca dao thành: Ca dao than
thân, yêu thương tình nghĩa và một chùm bài là: Ca dao hài hước.
2.2 Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học ca dao lớp 10
2.2.1 Thông tin nghệ thuật
Một văn bản nghệ thuật bao gồm nhiều thông tin phong phú và đa dạng. Dạy
học theo quan điểm tích hợp sẽ cung cấp cho học sinh khối lượng kiến thức tổng
hợp. Nó khác với cách dạy truyền thống là chỉ cung cấp cho học sinh những giá trị
về nghệ thuật, tư tưởng và các biện pháp nghệ thuật nổi bật. Thông qua việc xây
dựng các tình huống, nêu các vấn đề, thảo luận nhóm, hệ thống các câu hỏi...trong
bài học, mà người GV giúp HS hoạt động tìm hiểu và chiếm lĩnh các gia trị thông

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”
Hay:
“Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Gọi người hàng xóm có chân thì chùi”...

19


Trích đoạn Văn bản thực nghiệm Thiết kế bài học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status