Khoá luận tốt nghiệp dạy học ca dao trong ngữ văn 10 theo quan điểm tích hợp - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

LƯƠNG TH Ị NGỌC BÍCH

DAY HOC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP




KHÓA LUẬN TÓT NGIỆP ĐẠI HỌC








Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI - 2015


TRƯỜNG ĐẠI
• HỌC
• s ư PHẠM
• HÀ NỘI
• 2
KHOA NGỮ VĂN

Vũ Ngọc Doanh. Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác.
Neu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày ....tháng.... năm 2015
Tác giả

Lương Thị Ngọc Bích


LỜ I CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận được sự giúp đỡ
của rất nhiều thày cô giáo và các bạn sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại Học Sư
Phạm Hà Nội 2.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thày giáo, Thạc sĩ Vũ Ngọc Doanh, người
đã trực tiếp tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là
các thầy cô trong tổ Phương pháp đã tạo điều kiện thuận lợi để khóa luận của tôi
được hoàn thành.
Hà Nội, ngày ....tháng.... năm 2015
Tác giả

Lương Thị Ngọc Bích


DANH MỤC VIẾT TẮT

GV

Giáo viên

MỤC LỤC

PHẦNMỞĐẬU............................................................................................... 1
1. Lý do chon đề tài..................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................... 2
4. Mục đích nghiên cứu...........................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiêti cứu.......................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 3
7. Cấu trúc khóa luận......................................................................................... 3
PHẦN NỘI DUNG.......... ...................................................................... ............. 4
Chuông 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM
TÍCHHỢP....................... .............................. !........ .................................................. 4

1.1 Dạy học theo quan điểm tích hợp.............................................................4
1.1.1 Quan điểm tích hợp............................................................................. 4
1.1.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn........................................................ 5
1.2 Lý thuyết tiếp nhận tác phẩm văn học......................................................7
1.2.1 Vẩn đề tiếp nhận tác phẩm văn học....................................................7
1.2.2 Vẩn đề đọc - hiểu tác phẩm văn học................................................... 8
1.3 Những đặc trưng của thể loại ca d ao ...................................................... 10
1.3.1 Khái niệm về thể loại và thi pháp thể loại........................................10
1.3.2 Đặc trưng của thể loại ca dao.......................................................... 11
ChiroiỊ22. VÃN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP TRONG DẠYHỌCCA
DAOỞLỚPIO... ......................r

.......................... ................. ■... ..................... 18

2.1 Chương trình ca dao trong SGK Ngữ văn 10......................................... 18
2.2 Vận dụng quan điểm tích họp trong dạy học ca dao lóp 10...................18

không gặp phải những khó khăn nhất định.
Dạy học ca dao trong sách Ngữ văn 10 ở nhiều trường phổ thông có nhiều
cách khác nhau. Trong những giờ học ca dao, có những bài vẫn được khai thác
giống như bài học ở các thể văn học thảnh văn, giáo viên chỉ phân tích ngôn từ của
văn bản một cách cô lập mà không đặt tác phẩm vào môi trường văn học dân gian,
thời điểm phát sinh...để khai thác. Hoặc có những bài lại dạy học theo cách “diễn
nôm ca dao”, làm phức tạp hóa sự giản dị của ca dao. Hiện nay, quan điểm tích hợp
đang được vận dụng trong dạy học Ngữ văn và đem lại hiệu quả rất tốt và nó được
vận dụng trong từng bài dạy. v ấn đề dạy học ca dao theo hướng tích hợp vẫn còn
nhiều bỡ ngỡ với giáo viên và học sinh. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn
đề tài: “Dạy học ca dao trong ngữ văn 10 theo quan điểm tích hợp”, để giúp học
sinh tiếp cận được ca dao một cách hiệu quả nhất, đồng thời giải quyết được phần
nào khó khăn của người giáo viên đứng lớp.

1


2. Lịch sử vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn như
“Những đổi mới của chương trình SGK và yêu cầu dạy học Ngữ văn 10 ’’(Nguyễn
Thuý Hồng,Tạp chí Giáo dục, kỳ 2, 2006); “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”
(Nguyễn Thanh Hùng, Tạp chí nghiên cứu khoa học Giáo dục, số 6 (3/2006); “Tích
hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ vãn”(Nguyễn Trọng Hoàn, Tạp
chí Giáo dục, số 22, 2002)... Những tài liệu này đã cung cấp cho tôi kiến thức lí
luận, những ví dụ minh hoạ, những giải pháp cụ thể trong dạy học tích hợp trong
môn Ngữ văn và nó có vai trò định hướng, mở đường cho đề tài nghiên cứu của
chúng tôi.
v ề vấn đề phân tích, bình giảng ca dao và dạy học ca dao đã được nhiều cuốn
sách bàn tới như: “Những đặc điểm thỉ pháp của các thể loại văn học dân gian” của
GS Đỗ Bình Trị, NXB Giáo dục, “Thi pháp ca dao” của nhà nghiên cứu văn học

- Phương pháp so sánh.
7. Cấu trú c khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần kết luận và thư mục tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc dạy học theo quan điểm tích hợp.
Chương 2.Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học ca dao ở lớp 10.
Chương 3.Thực nghiệm sư phạm.

3


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

1.1 Dạy học theo quan điểm tích hợp
1.1.1 Quan điểm tích hợp
1.1.1.1 Khái niệm
*

Tích hợp: là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan

tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, từ
thập niên 90 của thế kỷ XX ừở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với
những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp
dụng vào nhà trường phổ thông.
Tích hợp là một phương pháp dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu thuẫn
giữa khối lượng kiến thức được cung cấp với năng lực thực tế của người học, kiến
thức hàn lâm với thực tế đời sống, trong khi thời gian học tập có hạn.Quan điểm
tích hợp được áp dụng với nhiều bộ môn khác nhau, với những mức độ khác nhau

dọc của hệ thống tri thức thuộc ngành khoa học. Với phân môn Văn học, vì coi trọng
việc học văn theo thể loại nên tính hệ thống của văn học sử bị lu mờ rõ rệt. Dầu sao
chúng ta vẫn thấy các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa, có dụng ý sắp xếp
các văn bản đọc- hiểu vừa theo thể loại, vừa theo tìn h tự lịch sử nhằm tạo ra ít nhiều
cơ sở cho việc học chương trình văn học sử ở bậc THPT. Thông qua các giờ ôn tập
từng phần hay ôn tập cuối năm về kiến thức văn học, giáo viên giúp học sinh bước
đầu thấy được sự phát triển của lịch sử văn học từ tác phẩm đến thể loại, đến phương
pháp, phong cách, trào lưu sáng tác và một số vấn đề lịch sử tiếp nhận văn học.
Trong các kiểu tích hợp trên, các nhà biên soạn chương trình và sách giáo
khoa đặc biệt lưu tâm đến kiểu tích hợp ngang, coi đây như là “nguyên tắc chính để
tổ chức nội dung giảng dạy” Ngữ văn.
1.1.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Trong dạy học Ngữ văn, tích hợp hiểu một cách đơn giản là dạy học ba phân
môn hợp nhất, hòa trộn vào với nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại.
Quan điểm tích hợp được vận dụng ngay trong chương trình và SGK Ngữ văn
THCS, THPT. Trong “ Chương trình THPT, môn Ngữ văn ”, năm 2002 do Bộ GD&ĐT

5


dự thảo, các nhà biên soạn chương trình SGK đã nhấn mạnh: “Lấy quan điểm tích hợp
làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa
chọn các phương pháp giảng dạy” [tr 27]. Quán triệt quan điểm này, các nhà biên soạn
đã lồng ghép các tri thức tương đồng của ba phân môn trong cùng một bài học thật
nhuần nhuyễn, phù hợp với tính chất tích cực của chương trình SGK.
Tính chất tích hợp đã được thể hiện ngay trong chương trình SGK Ngữ văn như:
dùng tên gọi Ngữ Văn để thay thế cho các tên gọi trước đây như Văn học- Tiếng ViệtLàm văn, hay cách gọi môn Văn- Tiếng Việt, hoặc Tiếng Việt- Văn học. Như vậy ngay
từ cách gọi tên môn học đã thể hiện sự tích hợp liên môn của ba phân môn.
Tích hợp ba phân môn trong cùng một bài dạy nhằm mục đích hình thành bốn
kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết và hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá,

động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng thẩm m ĩ của tác phẩm văn học bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản
phẩm sau khi đọc, cách hiểu, ẩn tượng trong trí nhớ ảnh hưởng trong hoạt động
sáng tạo, bản dịch chuyển thể [3,tr 325].
Như vậy, tiếp nhận văn học là một hoạt động tinh thần. Đó là một quá trình
đưa TPVH- sản phẩm nghệ thuật tinh thần được sáng tạo bởi một cá nhân hoặc cả
một tập thể đến với độc giả. Đây là một hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng
thụ thẩm mĩ, nhận thức, giải trí làm giàu vốn sống của người đọc.
1.2.1.2 Đặc trưng của tiếp nhận văn học
Đặc trưng của quá ừình tiếp nhận văn học: vừa mang tính chủ quan, chịu sự
chi phối của qui luật tâm lí, nhận thức, giao tiếp và mang tính khách quan do điều
kiện sống, lịch sử, không gian, thời gian chính trị văn hóa.
Hoạt động tiếp nhận các văn bản Ngữ văn là một hoạt động nhận thức nói
chung đối với những ai đọc và quan tâm đến văn bản Ngữ văn, đồng thời nó cũng là
một hoạt động nghệ thuật của người học, là hoạt động mang tính mục đích nhằm
chuyển nội dung các văn bản vốn tồn tại khách quan vào bên trong ý thức của người
tiếp nhận.Nó là một hoạt động tiếp nhận mang tính đặc thù, bởi nó là một hoạt động
tinh thần và kết quả của hoạt động này phụ thuộc sâu sắc vào chủ thể tiếp nhận, vào
tàm tiếp nhận của chủ thể ( năng lực, tâm lí và điều kiện tiếp nhận).
Tiếp nhận văn học luôn tồn tại những khoảng cách. Đó là khoảng cách về lịch
sử: TPVH khi được đưa vào trong nhà trường đã là quá khứ, giữa văn bản và người

7


học luôn tồn tại khoảng cách về lịch sử. Khoảng cách về tâm lí: giữa các tác giả và
người đọc, cũng như các nhân vật trong tác phẩm với bạn độc luôn tồn tại một
khoảng cách tâm lí. Ở đây có sự khác biệt về tâm lí thế hệ. Tác giả thuộc một thê
hệ, bạn đọc thuộc một thế hệ. Sự khác biệt về tâm lí dẫn đến sự hiểu biết và thông
cảm là vô cùng khó khăn. Khoảng cách ngôn ngữ: ngôn ngữ là một hiện tượng xã



GS.TS. Trần Đình Sử trong tạp chí “Văn học và tuổi trẻ” ( tháng 11-2007)
đưa ra khái niệm như sau: “đọc là tổng hòa của nhiều quá trình, nhiều hành vi
nhằm đạt được mục đích và nắm bẳt ỷ nghĩa của văn bản. Đọc bằng mẳt, bằng
miệng ( phát âm), đọc nhận biết, tưởng tượng, ỉỉên hệ, ghi chép, ghi nhớ, tra cứu,
phân tích, so sánh, trao đổi
Theo “Từ điển Tiếng Việt” (2008) thì hiểu là: “Nhận ra ỷ nghĩa, bản chất, lí
ỉẽ của cái gì bằng sự vận dụng trí tuệ

Có thể thấy, hiểu là tiếp nhận các thông tin,

cắt nghĩa các thông tin tiếp nhận từ văn bản.
Như vậy, đọc hiểu là hai khái niệm, đọc là một hoạt động ở đây có chủ thể đối
tượng, chủ thể là bạn đọc, đối tượng là văn bản. Hiểu là mục đích của việc đọc.
Có nhiều quan niệm khác nhau về việc đọc hiểu. Quan niệm thứ nhất: đọchiểu là một phương pháp, nó tồn tại bình đẳng với cá phương pháp khác nhau như
phương pháp diễn giảng, phương pháp thuyết trình, phương pháp dạy học nêu vấn
đề... Quan niệm hai: đọc- hiểu là một kiểu dạy học văn bản, giống như dạy gảng văn
trước đây nhưng nó rộng lớn hơn giảng văn, vì giảng văn chỉ dùng cho kiểu một văn
bản là văn bản nghệ thuật. Còn đọc- hiểu được dùng cho tất cả các loại văn bản
thuộc các phong cách chức năng ngôn ngữ khác nhau.
Trong SGK Ngữ văn thí điểm lớp 10 do Phan Trọng Luận chủ biên chia đọchiểu thành bốn bước và cũng có thể hiểu là bốn cấp độ và mỗi cấp độ có hai mức:
Đọc thông- đọc thuộc. Đọc kĩ- đọc sâu. Đọc hiểu- đọc sáng tạo. Đọc đánh giá- đọc
ứng dụng.
1.2.2.2 Vai trò chức năng của đọc- hiểu
Đọc là hoạt động của con người, chỉ có con người mới có thể đọc được các
văn bản từ ngữ, giải mã các kí hiệu ngôn ngữ. Trong dạy học Ngữ văn hiện nay,
đọc- hiểu là một khâu quan trọng, để phát hiện ra cái hay cái đẹp của tác phẩm văn
chương thì đọc hiểu là yêu cầu đầu tiên. Thông qua đọc- hiểu, HS sẽ được cung cấp
những tri thức về con người, đời sống, xã hội.... bởi thông tin trong các văn bản vô


thể loại là tổng thể các tác phẩm cùng cỏ chung mẩy dấu

hiệu về hệ đề tài, thi pháp, chức năng, phương thức diễn xướng [tr 3].
Theo tác giả Đỗ Bình Trị trong cuốn “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian

thỉ pháp thể loại là tổng thể các yếu tổ thuộc về hình thức và thủ

pháp nghệ thuật mà các tác phẩm thuộc cùng một thể ỉoại đều thong nhất sử dụng [tì14].
Mỗi thể loại VHDG có cách nói riêng của nó nhằm biểu đạt nội dung riêng.

10


Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Vì vậy, phải nắm được thi pháp thể loại
mới có khả năng giải mã được các tác phẩm cùng thể loại. Dạy học ca dao theo đặc
trang thể loại là đi tìm hiểu tất cả các yếu tố thuộc về hình thức và thủ pháp nghệ
thuật của nó.
1.3.2 Đặc trưng cửa thể loại ca dao
*

về nhân vật trữ tình trong ca dao

Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, bày tỏ tiếng nói tư tưởng tình cảm của con
người, trong ca dao truyền thống, chủ thể trữ tình( tức tác giả) luôn đồng nhất với
nhân vật trữ tình.
Thông qua những nhân vật trữ tình toong ca dao, xu hướng nhân dân muốn
diễn tả những nét bản chất gắn với con người trong thời đại ấy. Những nét bản chất
này thể hiện một cách tập trung ở cảm hứng trữ tình chủ đạo trong ca dao, dù là

Lối kết cấu đối đáp là những lời trò chuyện trực tiếp bằng thơ ca:
“Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.”
Người con trai ướm hỏi cô gái và cô gái trả lời. Dạng kết cấu này chiếm hầu hết
trong kho tàng ca dao, dân ca là mảng đề tài về tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình.
Tuy nhiên trong ca dao, không hẳn mọi bài ca dao đều chia ra rõ ràng lời của
hai nhân vật trữ tình cùng tham gia đối đáp, có những bài ca dao kết cấu chỉ theo
một vế và tự nó đã có đầy đủ đặc tính của kết cấu đối đáp,vì bản thân nó như một
lời trò chuyện:
“Trầu không vôi ắt là trầu nhạt
Cau không hạt ắt là cau tra
Mình không lấy ta ắt là mình thiệt
Ta không lấy mình, ta biết lấy ai?”
“Hoa thơm hoa héo càng thơm
Em giòn rách áo đói cơm càng giòn”
Lặp lại mô tip dân gian cũng là một trong những đặc điểm quan ưọng của
kết cấu ca dao, các công thức mở đầu có tính khuôn mẫu của cùng một cách nghĩ
bộc trực, gần gũi với cuộc sống hàng ngày. Đây chính là một biểu hiện của ca dao
mang sắc thái riêng biệt như: chiều chiều, trèo lên cây, thân em, ước gỉ...tạo ra sự

12


nảy sinh của vô số dị bản ừong ca dao, điều quan trọng hơn là nó thể hiện lối nói,
suy nghĩ, tình cảm của nhân dân lao động.
* về thể thơ trong ca dao
Các thể thơ trong ca dao xét chung đều là những thể thơ dân tộc: lục bát, lục
bát biến thể, song thất lục bát, song thất lục bát biến thể, các thể vãn... Mồi thể loại

Cau xanh nhá với trầu vàng,
Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.”
“Hôm nay sum họp trúc mai,
Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.”
Trong ca dao còn có những cụm từ chỉ thời gian như: ngày đi,ngày về, hôm
qua, đêm qua thì cũng từ thời hiện tại mà nói. Likhatrốp gọi là thời gian diễn xướng.
Ngoài ra thời gian trong ca dao còn là thời gian tâm lý. Đã là thời gian tâm lý thì nó
có muôn vàn cách biểu hiện phụ thuộc vào những cảm nghĩ, tâm tư, cảm xúc...của
nhân vật trữ tình.
“Ngày đi em chửa có chồng,
Ngày về em đã con bế, con bồng, con mang.”
“Ngày đi” không còn là thời gian vật lí mà thời gian đang diễn ra trong tâm
trạng nhân vật, hoàn cảnh chủ quan. Đó là tâm trạng của nhân vật trữ tình trước sự
thay đổi của hoàn cảnh:
“Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa,
Canh ba tôi nói sáng, ông ười mưa tôi nói chiều.”
Không gian nghệ thuật: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờao, cây đa, mái
đình...là những không gian vật lí thường gặp trong ca dao.
“Cô kia cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.
Sang đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này có lấy anh không. ”
Nhìn chung, trong kho tàng văn học dân gian của người Việt, không gian vật lí
là những không gian bình dị của làng quê, có quy mô vừa phải. Bên cạnh không
gian vật lí, trong ca dao còn xuất hiện không gian xã hội. Ở đây có những mối quan
hệ xã hội hết sức đa dạng giữa con người với con người.
“Gặp nhau giữa chuyến đò đầy,
Một lòng đã hẹn, cầm tay mặn mà.”

14

Ngôn ngữ ca dao mang vẻ đẹp giản dị nhưng cũng rấ t sinh động. Ca dao
biểu hiện cảm nghĩ một cách gợi cảm, miêu tả sự vật một cách gợi hình, điều này

15


thể hiện ở việc sửdụng sáng tạo những từ mô phỏng, từ láy, thanh điệu, các biện
phápso sánh, ẩn dụ, tượng trưng cùng hệ thống động từ và tính từ của

Tiếng Việt.

“Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá cùng nằm một nong”
“Thiếp xa chàng như rồng nọ xa mây
Như chim chèo bẻo xa cây măng vòi”
Nhờ khéo léo khai thác, sử dụng những giá trị gợi tả dồi dàocủa tiếng dân tộc,
ngôn ngữ ca daocó khả năng tác động mạnh mẽ vào các giác quan, cảm quan, trực
giác và trí tưởng tượng của người tiếp nhận.
Ngôn ngữ ca dao vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mangsắc thái địa
phương. Chúng ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngôn ngữ địa
phương. Ca dao Bắc Bộ thì nhẹ nhàng tình tứ.
“Người về em chẳng cho về,
Em nâng vạt áo, em đề câu thơ.”
Ca dao Nam

Bộ thì bộc lộ một cách rõ ràng, bộc trực, dứt khoát:
“Anh về em nắm vạt áo em la làng,
Anh bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.”

Có thể nói, ngôn ngữ rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản, là

dung rõ nhất, sâu sắc nhất có ý nghĩa thẩm mĩ lâu dài. Tuy thế, ca dao còn phản
chiếu nội dung văn hóa dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian với những dấu
ấn riêng. Do vậy, tiếp cận ca dao theo đặc trưng thể loại là cần thiết, nhưng chưa đủ
để khám phá các bình diện nội dung và ý nghĩa khác trong ca dao.

17


Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
TRONG DẠY HỌC CA DAO Ở LỚP 10
2.1 Chương trình ca dao trong SGK Ngữ văn 10
Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi
rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương
trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” “Nguyên tắc tích
hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm
văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố
của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp
trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS;
tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.”
Kế thừa thành tựu của sách giáo khoa cũ, về cấu trúc và nội dung của phần
văn học dân gian có nhiều thay đổi về cấu trúc và nội dung chương trình, trong đó
ca dao được tăng số tiết học và có sự tích hợp. Trong SGK Văn học 10 gồm hai
chùm bài: Những câu hát than thân và Những câu hát tình nghĩa (không học ca dao
hài hước). Trong SGK Ngữ văn 10 gộp hai chùm bài ca dao thành: Ca dao than
thân, yêu thương tình nghĩa và một chùm bài là: Ca dao hài hước.
2.2 Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học ca dao lớp 10
2.2.1 Thông tin nghệ thuật
Một văn bản nghệ thuật bao gồm nhiều thông tin phong phú và đa dạng. Dạy
học theo quan điểm tích hợp sẽ cung cấp cho học sinh khối lượng kiến thức tổng
hợp. Nó khác với cách dạy truyền thống là chỉ cung cấp cho học sinh những giá trị

phụ nữ xưa. Trong ca dao có biết bao nhiêu những câu hát than thân về cuộc đời, số
phận của người phụ nữ:
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”
Hay:
“Thân em như chổi đầu hè
Phòng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Gọi người hàng xóm có chân thì chùi”...

19


Trích đoạn Văn bản thực nghiệm Thiết kế bài học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status