Luận văn: DẠY - HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC - Pdf 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
  

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI

DẠY - HỌC CA DAO TRONG NGỮ VĂN 10
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC Chuyên ngành: LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC VĂN TIẾNG
VIỆT

Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN – 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên QUY ƯỚC VIẾT TẮT GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NXB : Nhà xuất bản
SGK : Sách giáo khoa
PPGD : Phương pháp giảng dạy
THPT : Trung học phổ thông

1.3.3. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy - học ca dao ở
lớp 10 48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Chương 2: Tổ chức dạy - học ca dao ở lớp 10 theo hướng tích hợp,
tích cực 50
2.1. Việc thực thi chương trình và SGK Ngữ văn 10 ở phần ca dao 50
2.1.1. Nhận thức của giáo viên về dạy học theo hướng tích hợp tích cực 50
2.1.2. Việc thực thi của giáo viên ở giờ dạy ca dao 53
2.2. Chương trình và SGK Ngữ văn 10 56
2.2.1. Một số vấn đề chung về chương trình và SGK mới 56
2.2.2. Chương trình và SGK Ngữ văn 10 58
2.3. Tổ chức dạy - học ca dao ở Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp, tích cực 59
2.3.1. Dạy ca dao theo hướng tích hợp 59
2.3.1.1. Tích hợp và Tập làm văn 59
2.3.1.2. Tích hợp với tiếng Việt 60
2.3.2. Dạy học ca dao theo hướng tích cực 60
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm 68
3.1. Mục đích thể nghiệm 68
3.2. Nội dung thể nghiệm 68
3.3. Đối tượng thể nghiệm 70
3.4. Thiết kế bài học 70
3.5. §¸nh gi¸ thiÕt kÕ thÓ nghiÖm 89
Kết luận 90
Tài liệu tham khảo 93
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sÜ Hoàng Hữu Bội - người
thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.

Đạm chủ biên (NXB Giáo dục, H, 1971). Trong công trình này, những ngƣời
viết đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của từng loại thể và phƣơng pháp dạy
theo đặc trƣng loại thể. Đây là những đóng góp quan trọng trong công việc
định hƣớng dạy học tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng. Thế nhƣng ở
công trình này, các tác giả mới chỉ chú ý đến các thể loại văn học thành văn
còn các thể loại của văn học dân gian, trong đó có ca dao thì chƣa đƣợc quan
tâm đầy đủ. Mặc dù chúng ta đều biết rằng văn học dân gian cũng đƣợc phân
ra các thể loại (tự sự trữ tình, kịch). Dạy một tác phẩm văn học dân gian cũng
nhƣ dạy một tác phẩm văn chƣơng, nhƣng đây là một bộ phận có những đặc
điểm riêng. Cũng là thể loại trữ tình nhƣng ngoài những đặc điểm của trữ tình
nói chung thì trữ tình dân gian còn có những đặc điểm riêng. Vì vậy không
thể không bàn đến dạy học tác phẩm văn học dân gian theo thể loại. Các nhà
nghiên cứu đã bàn đến vấn đề dạy học tục ngữ, ca dao, truyện dân gian ở
trung học phổ thông (THPT). Song vấn đề dạy học ca dao trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10 (xuất bản năm 2006) thì chƣa có một công trình nào đề cập
đến một cách công phu và có hệ thống. Đề tài này nhằm góp thêm một tiếng
nói vào lý luận về dạy học tác phẩm văn chƣơng theo đặc trƣng thể loại mà
những ngƣời đi trƣớc đã đặt ra.

2
1.2. Đề tài này còn được lựa chọn từ thực tiễn dạy học ca dao trong sách
Ngữ văn 10 hiện nay ở trường THPT theo yêu cầu đổi mới phương pháp
dạy học
Hiện nay nền giáo dục nƣớc ta đang thực thi việc đổi mới chƣơng trình,
SGK các cấp học. Năm học 2006 - 2007, SGK Ngữ văn 10 mới chính thức
đƣa vào dạy học đại trà trên toàn quốc. Trong cuốn SGK “Văn học 10, tập 1”
(Sách chỉnh lý hợp nhất) NXB Giáo dục, 2000 có hai chùm bài ca dao: Những
câu hát thân thân; Những câu hát tình nghĩa. Cho đến năm 2006 SGK “Ngữ
văn 10” (sách cơ bản) lại gộp hai chùm bài ca dao Những câu hát thân thân;
Những câu hát tình nghĩa thành chùm Ca dao than thân yêu thương, tình

của việc nghiên cứu thi pháp thể loại: “Thể loại đƣợc gọi là đơn vị cơ sở của
văn học dân gian và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu văn
học dân gian. Và mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó. Thi
pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Có nắm đƣợc thi pháp thể loại mới có
kh¶ “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại”. Tác giả cũng chỉ rõ, trong nhà
trƣờng “việc nghiên cứu thi pháp thể loại giúp ngƣời giáo viên không những
có khả năng tự mình hiểu đúng, hiểu sâu hơn các tác phẩm văn học dân gian
trong chƣơng trình, mà có khả năng hoàn thiện hệ thống thao tác phân tích tác
phẩm nhằm luyện tập cho học sinh cách đọc - hiểu tác phẩm ngay chính trong
quá trình các em đƣợc hƣớng dẫn tìm hiểu tác phẩm”.
Nhƣ vậy ở đây một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh tới vai trò của thi
pháp thể loại, coi nó là chìa khoá giúp cho ngƣời giáo viên mở cánh cửa văn
học dân gian trong nhà trƣờng. Cũng xuất phát từ đó khi đề cập đến những
đÆc điểm thi pháp của ca dao tác giả cho rằng: sự tổng hoà của những đặc
điểm thi pháp những nhân vật trữ tình, những hoàn cảnh điển hình trong ca
dao, kết cấu ca dao, hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ, thể thơ và sự vận dụng
các thể thơ trong ca dao đã tạo nên một phong cách chung bền vững của ca
dao truyền thống.

4
* Cuốn “Bình giảng ca dao” của nhà nghiên cứu VHDG Hoàng Tiến
Tựu (NXB Giáo dục 1992) có nói về “Công việc bình giảng ca dao” nhƣ sau:
- Một bài ca dao đƣợc chọn để bình giảng phải có ít nhất ba điều kiện
sau đây: Thứ nhất, phải là một bài ca dao hay, có giá trị thực sự về nội dung
và nghệ thuật, đồng thời phải có vấn đề, có chỗ để bình giảng, đánh bình
giảng. Thứ hai, phù hợp với khả năng và sở trƣờng của ngƣời bình giảng. Thứ
ba, phù hợp với nhu cầu thị hiếu ngƣời nghe, ngƣời đọc (tr.15).
- Mục đích của việc bình giảng ca dao nói riêng cũng nhƣ việc nghiên cứu
văn học dân gian nói chung, không phải chủ yếu là chứng minh cho cái chung và
sự giống nhau. Càng không phải chỉ là nhƣ thế (mặc dù điều này cũng cần thiết),

Cách sử dụng tên riêng chỉ địa điểm trong ca dao về cơ bản khác với cách
dùng loại từ này trong thơ bác học. Về thể thơ, 95% ca dao cổ truyền đƣợc
sáng tác theo thể thơ lục bát. Các tác giả văn học dân gian khác các tác giả
văn học viết ở chỗ họ không chịu khuôn sáng tác vào những luật lệ có sẵn, do
đó thơ ca dân gian có phần hồn nhiên mộc mạc hơn. Mặt khác, hiện tƣợng đó
lại chứng tỏ ngƣời bình dân ít có khả năng tung hoành sáng tạo trong khuôn
khổ nghiêm ngặt của luật thơ. Sự ngắn gọn của các tác phẩm ca dao, phản ánh
đặc điểm, hoàn cảnh; điều kiện sáng tác và sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân
gian; mặt khác tính chất này cũng cho thấy tác giả dân gian chƣa có khả năng
xây dựng những tác phẩm thơ với quy mô đồ sộ. Kết cấu một số vế có phần
vần, kết cấu hai tƣơng hợp, kết cấu hai vế đối lập và trong khi sáng tạo lời
mới một dòng hoặc nhiều dòng ca dao có sẵn có thể đƣợc sử dụng… Là
những dạng kết cấu độc đáo và là đặc điểm của ca dao. Thời gian nghệ thuật
trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xƣớng. Không ít trƣờng hợp
trong đó thời gian miêu tả có tính chất công thức, ƣớc lệ. Không gian nghệ
thuật trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thƣờng, bình dị, phiếm

6
chỉ với những nhân vật chƣa đƣợc cá thể hoá, mang tâm trạng, tình cảm
chung của nhiều ngƣời. Tuy cùng xây dựng các biểu tƣợng trên cơ sở là hiện
thực khách quan, nhƣng nhiều ý nghĩa của các biểu tƣợng trong ca dao khác
hẳn với thơ bác học… Các đặc điểm thi pháp vừa nêu tạo thành một thẻ loại
riêng trong lịch sử văn học Việt Nam: “Thể ca dao” (tr. 233 - 234).
* Cuốn “Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học
dân gian” của GS Hoàng Tiến Tựu (NXB Giáo dục 1993) đã khẳng định sự
cần thiết xây dựng những quy phạm riêng cho việc dạy học văn học dân gian
ở trƣờng phổ thông. Tác giả đã đề cập đến các phƣơng pháp nghiên cứu văn
học dân gian, làm sáng tỏ vấn đề giảng dạy văn học dân gian theo đặc trƣng
thể loại nhƣ: Dạy truyện dân gian, tục ngữ, ca dao…
Trong chƣơng IV “Mấy vấn đề cụ thể nghiên cứu và giảng dạy ca dao”

nghĩa và giá trị hiện đại của bài ca dao cổ về mặt nội dung cũng nhƣ mặt nghệ
thuật (tr. 134 - 135).
Bên cạnh các công trình chúng tôi nêu trên còn rất nhiều công trình quý
báu giúp chúng tôi hoàn thành luận văn nhƣ cuốn “Văn học Việt Nam - Văn
học dân gian, những công trình nghiên cứu” (của nhiều tác giả, do GS Bùi
Mạnh Nhị chủ biên, NXB Giáo dục, tái bản 2000); cuốn “Giảng văn văn học
dân gian Việt Nam” của hai tác giả Vũ Anh Tuấn và Nguyễn Xuân Lạc -
NXB Giáo dục 1993; Luận án tiến sỹ của Nguyễn Xuân Lạc “Quan điểm tiếp
cận và phương pháp dạy học ca dao ở THPT” (1996); cuốn “Phương pháp
dạy học tác phẩm văn chương” (theo thể loại) của Tiến sỹ Nguyễn Viết Chữ,
NXB ĐHSP, 2005.
Gần đây khi SGK Ngữ văn 10 đã đƣợc thực thi trong nhà trƣờng, có
nhiều cuốn sách tham khảo đã đƣợc xuất bản. Sách tham khảo dạy học Ngữ

8
văn 10 chia làm hai loại: loại sách phân tích, bình giảng các tác phẩm có trong
Ngữ văn 10; loại sách gợi ý về phƣơng pháp dạy học nhƣ cuốn Thiết kế bài
giảng Ngữ văn 10 của TS. Hoàng Hữu Bội, Thiết kế bài học Ngữ văn 10 do
GS. Phan Trọng Luận chủ biên…
2.2. Ca dao là mảnh đất nuôi dƣỡng và lƣu giữ đời sống tinh thần của
nhân dân lao động, vì thế, ca dao từ lâu không chỉ trở thành đối tƣợng nghiên
cứu của các nhà khoa học cơ bản mà còn là đối tƣợng quan trọng của giới
nghiên cứu phƣơng pháp dạy học. Là thể loại trữ tình dân gian ngoài đặc điểm
của loại hình trữ tình nói chung, ca dao còn có những đặc điểm riêng. Do đó,
đứng trƣớc những yêu cầu mới của chƣơng trình và SGK nhiều giáo viên
không tránh khỏi những khó khăn khi dạy - học ca dao. Vấn đề đặt ra là dạy -
học ca dao nhƣ thế nào để vừa bảo đảm yêu cầu tích hợp, vừa phù hợp với
đặc trƣng thể loại và phát huy đƣợc sự tích cực ở ngƣời học là vấn đề cần
quan tâm của mỗi giáo viên Ngữ văn.
* Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS. Đỗ Ngọc Thống ngƣời tham gia

học mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp một cách khoa học cùng với
cách thức và mô hình tích hợp đa dạng để hình thành và phát triển năng lực
đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng kết hợp với việc nâng cao dần kỹ năng nghe,
nói, đọc, viết trong văn hoá giao tiếp cho học sinh”.
* Dạy học theo hƣớng tích cực đã đƣợc thử nghiệm từ năm 1993 và
đƣợc giới thiệu cụ thể qua các cuốn sách “Một số vấn đề về phương pháp
giáo dục” (Nguyễn Kỳ và Dƣơng Xuân Nghiên, Vụ giáo viên, H. 1993);
“Phương pháp giáo dục tích cực” (Nguyễn Kỳ, NXB Giáo dục, H. 1994);
Cuốn “Phương pháp giáo dục lấy học sinh làm trung tâm” (Nguyễn Kỳ chủ
biên - NXB Giáo dục, H. 1995) có thể xem là công trình lý luận khá đầy đủ về

10
phƣơng pháp dạy học tích cực đang đƣợc nhiều giáo viên quan tâm. Bên cạnh
đó còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các báo và tạp chí cũng đề cập đến
phƣơng pháp này nhƣ: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” (GS. Trần Bá
Hoành - Nghiên cứu giáo dục, 1/1994); “Bàn về phương pháp giáo dục tích
cực” (PGS. Phạm Viết Vƣợng - Nghiên cứu giáo dục, 10/1995); “Phương
pháp tích cực bàn về học và nghiên cứu khoa học” (GS-VS. Nguyễn Cảnh
Toàn - Nghiên cứu giáo dục, 9/1996)…
Vấn đề mà các công trình về dạy - học tích cực luôn luôn quan tâm là
dùng các phƣơng pháp dạy học đa dạng, kiến thức phải đƣợc trình bày trong
dạng động, nghĩa là giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động, dẫn dắt
học sinh chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của chúng. Bên cạnh đó,
phải có hệ thống câu hỏi phong phú (hệ thống câu hỏi phát hiện, câu hỏi mở
rộng, câu hỏi tổng hợp nhận xét đánh giá, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi gợi mở,
câu hỏi liên tƣởng sáng tạo…) nhằm phát huy cao nhất khả năng tự chiếm
lĩnh tri thức của học sinh.
Cho đến nay, mặc dù vẫn còn những ý kiến khác biệt nhau, các nhà
khoa học và quản lý giáo dục đều khá nhất trí là cần đổi mới mô hình dạy học
thụ động đang chiếm ƣu thế trong nhà trƣờng hiện nay và đổi mới phƣơng

dao theo thi pháp thể loại. Tìm hiểu lí thuyết về tích hợp, tích cực trong dạy
học Ngữ văn.
b. Tìm hiểu thực tiễn dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10 trong
những năm đầu thực hiện chƣơng trình và SGK mới.
c. Đề xuất một phƣơng án có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giờ
học theo hƣớng tích hợp, tích cực (thể hiện qua thiết kế dạy học và tổ chức
thể nghiệm sƣ phạm). 12
6. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý luận
Tổng hợp các bài viết, các công trình nghiên cứu về ca dao, về phƣơng
pháp dạy học ca dao trong SGK Ngữ văn 10.
b. Phương pháp khảo sát
Khảo sát các giờ dạy - học ca dao ở 2 lớp 10 trƣờng THPT Phú Bình,
huyện Phú Bình; trƣờng THPT Đồng Hỷ - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
để tìm ra những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
c. Thể nghiệm sư phạm
Thiết kế một số giáo án ca dao trong chƣơng trình và dạy thể nghiệm.
7. Giả thuyết của luận văn
Nếu đổi mới dạy học những chùm ca dao trong Ngữ văn 10 theo hƣớng
tích hợp, tích cực có cơ sở lý luận và thực tiễn thì hiệu quả, chất lƣợng dạy
học ca dao sẽ đƣợc nâng cao.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thƣ mục tham khảo, luận văn
của chúng tôi gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy - học ca dao theo hƣớng tích
hợp, tích cực.
Chương 2: Tổ chức dạy - học ca dao ở lớp 10 theo hƣớng tích hợp,

14
Ca dao kết tinh từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân.
Ngôn ngữ ca dao là thứ ngôn ngữ nghệ thuật giản dị, đẹp đẽ trong sáng,
chính xác vì đã đƣợc chắt lọc qua bao thế hệ. M.Gorki khẳng định vẻ đẹp của
ngôn ngữ ca dao là “cái đẹp trong sự giản dị”.
Tình yêu mộc mạc của ngƣời bình dân đƣợc diễn tả chân thành, đôi khi
thẳng băng:
Tiện đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không?
Hoặc nỗi yêu thƣơng kín đáo:
Thò tay mà bứt ngọn ngò
Thƣơng em đứt ruột giả đò ngó lơ.
Ngôn ngữ ca dao mang vẻ đẹp giản dị nhưng cũng rất sinh động,
giàu sức biểu cảm. Điều đó đƣợc thể hiện trong việc dùng một số lƣợng
phong phú và chính xác những động, tính từ, đại từ, đặc biệt là các từ láy gợi
hình, biểu cảm, các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ…
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Nhƣ con bò gầy gặp bãi cỏ non.
Có những câu ca dao có thể trở thành mẫu mực trong việc dùng từ ngữ,
và về mặt gợi cảm, gợi hình, nó không thua bất cứ một câu thơ nào. Điều đó
chứng tỏ các tác giả dân gian cùng rất chú ý việc trau chuốt lời thơ trong ca
dao. Câu ca dao này in dấu ấn của văn học bác học:
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này.
Không phải câu ca dao này gợi cảm ở những từ nhƣ “đèn tà”, “bóng
trăng”, “ngƣời ngọc”, mà chính từ láy “thung thăng” đã làm hiển hiện hình

15
bóng ngƣời con gái thanh thản bƣớc đi trong đêm trăng dƣới cái nhìn say
đắm, ngƣỡng mộ của chàng trai. Có thể thấy nhận xét này về từ láy để phân

Một từ “cô ấy” đầy ẩn ý:
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mƣợn cô ấy về khâu cho cùng.
Ngoài ra ca dao còn sử dụng một số yếu tố thuộc phƣơng thức tự sự,
miêu tả… trong tổ chức ngôn ngữ của mình. Việc biểu lộ vẻ đẹp nhân cách
của con ngƣời thông qua việc miêu tả đặc điểm bông sen trong đầm:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Là xanh bông trắng lại chen nhị vàng…
Hoặc sự kể lể, trần thuật chỉ là cái cớ để nhân vật trữ tình giãi bày tâm
trạng khó nói nhất:
Ơi cô gánh nƣớc quang mây
Cho anh một gáo tƣới cây ngô đồng
Cây ngô đồng không trồng mà mọc
Ngọn ngô đồng cành dọc cành ngang
Quả dƣa gang ngoài xanh trong trắng
Quả mƣớp đắng ngoài trắng trong vàng
Từ ngày anh gặp mặt nàng
Lòng càng ngao ngán dạ càng ngẩn ngơ.
Nhƣ vậy ngôn ngữ rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản,
nó là yếu tố thứ nhất, là chất liệu đầu tiên của mọi tác phẩm nghệ thuật. Ngôn
ngữ ca dao không giống nhƣ ngôn ngữ trong văn học viết, nó vừa mang sắc
thái dân gian gắn với cách cảm, cách nghĩ của cộng đồng, vừa gắn với những

17
cảm xúc cá nhân trong các tình huống cụ thể, cái tôi trữ tình dân gian là cái
tôi phiếm chỉ, cái tôi phổ biến. Cho nên, nói nhƣ Mai Ngọc Chừ “Ngôn ngữ
ca dao Việt Nam đã trở nên những viên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn
học dân gian của dân tộc. Có thể nói ngôn ngữ ca dao đã kế tục phát huy
những đặc điểm ngôn từ tuyệt vời của Tiếng Việt” [4; tr. 24 - 28].
* Về kết cấu trong ca dao

thấy đƣợc hết cái độc đáo, đặc sắc dân gian của ca dao.
3. Nhìn khái quát, có thể thấy mấy dạng kết cấu cơ bản như sau:
Thứ nhất: nhân vật trữ tình trực tiếp bộ lộ giãi bày tình cảm; thứ hai: nhân
vật thường bóng gió xa xôi lấy thiên nhiên làm cớ để bộc lộ tâm trạng; thứ ba:
sử dụng các ý, các hình ảnh lặp lại nhiều lần khắc sâu vào tâm trạng trữ tình,
đó là kết cấu trùng điệp rất quen thuộc phổ biến trong ca dao.
Nhƣ vậy, dựa vào kết cấu ca dao ta có thể xác định đƣợc nhân vật trữ
tình cùng với nghệ thuật tổ chức, trình bày hệ thống cảm xúc của nó và nét
cảm hứng dân gian đƣợc thể hiện trong các bài ca dao ấy.
Từ những kiến thức này, có thể giúp học sinh biết vận dụng vào việc
tạo lập các văn bản biểu cảm (tích hợp với Làm văn).
* Về thể thơ trong ca dao
Dạy học ca dao từ thi pháp thể loại còn phải làm cho học sinh nắm
đƣợc đặc điểm của thể thơ lục bát trong ca dao cùng với các thể thơ khác
đƣợc các tác giả dân gian sử dụng để bộc lộ tình cảm trong ca dao.
Văn biểu cảm luôn cần đến âm vang của nhạc điệu ngôn từ và dạng
thức văn bản biểu cảm thƣờng là lời nói đƣợc tổ chức trong một hệ thống âm
thanh, vần luật mang tính cách điệu gọi là thể thơ.

19
Đa số ca dao được sáng tác theo thÓ lục bát với đặc trƣng là nhịp đôi
đều đặn, thuận tai, vần bằng (chủ yếu) êm dịu, linh hoạt về thanh điệu, biến
hoá về âm điệu, có sức lôi cuốn tự nhiên lại có thể kéo dài thoải mái nên dƣợc
sử dụng rộng rãi. Vì thế, thể lục bát phù hợp với việc phô diễn cảm xúc tình
cảm của con ngƣời, nhất là đối với ngƣời bình dân xƣa. Chính do vần, thanh,
nhịp ở thể thơ mà tạo thành nhạc tính. Đó là nhạc ngân nga, hoà điệu vào
nhau làm cho câu ca dao bay bổng, thanh thoát, gây ấn tƣợng. Bởi thế, bài ca
dao thƣờng có thể hát lên theo cung bậc xúc cảm. Khi hát ngƣời hát truyền
tình cảm vào đó, nhờ vậy mà những câu ca dao trở lên du dƣơng, có khả năng
lây lan cảm xúc. Trong thơ, thể lục bát cũng đƣợc sử dụng phổ biến và trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status