Dạy học bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp - Pdf 32

LỜI CẢM ƠN
Xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy
giáo, cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, Khoa Ngữ văn,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là Th.S Phạm Kiều Anh đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong quá trình học tập và
hoàn thành khóa luận này.

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2013
Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Ca


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng
tôi, không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác. Nếu sai,
tôi xin chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ca


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CH

Câu hỏi

ĐHQG


SGV

Sách giáo viên

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

ThS

Thạc sĩ

TS

Tiến sĩ

TV

Tiếng Việt

VB

Văn bản

VBVH

5. Phương pháp nghiên cứu

5

6. Đóng góp của khóa luận

6

7. Cấu trúc của khóa luận

6

NỘI DUNG

7

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ TRONG
SGK NGỮ VĂN 12 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

7

1.1. Cơ sở lí luận

7

1.1.1. Cơ sở lí luận về quan điểm tích hợp

7



2.1.2. Nội dung bài học

21

2.2. Những căn cứ để vận dụng quan điểm tích hợp khi dạy học bài
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

22

2.2.1. Những kiến thức HS đã được học

22

2.2.2. Những kĩ năng có liên quan

22

2.3. Xác định mục đích tích hợp

23

2.4.Chọn nội dung tích hợp và xác định mức độ tích hợp

24

2.4.1. Chọn nội dung tích hợp

24


2.7.4. Tích hợp thông qua nội dung tiểu kết từng phần hay tổng kết
sau giờ học

29

2.7.5. Tích hợp thông qua bài tập thực hành

30

2.7.6. Tích hợp thông qua phiếu học tập

31

2.8. Quy trình dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong
SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp

32

2.8.1. Sử dụng câu hỏi kiểm tra bài cũ

32

2.8.2. Giới thiệu bài mới

33

2.8.3. Hướng dẫn học HS tham gia bài học thông qua hệ thống câu
hỏi tích hợp

34

3.5. Nội dung thực nghiệm

38

KẾT LUẬN

52

TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Từ xa xưa, giáo dục luôn được coi là “quốc sách hàng đầu” của
mỗi quốc gia trên thế giới. Ngày nay, khi khoa học công nghệ và thông tin
bùng nổ, giáo dục lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để bắt nhịp kịp
với sự phát triển ấy của thời đại, một trong những nhiệm vụ cấp thiết mà
ngành giáo dục đặt ra là phải xây dựng được những quan điểm giáo dục tiến
bộ. Tích hợp chính là một trong những quan điểm mà nhiều quốc gia đã lựa
chọn.
Ở nước ta, quan điểm tích hợp đã được áp dụng trong việc xây dựng
nội dung chương trình của một số môn học ở nhà trường phổ thông, trong đó
có Ngữ văn. Khi xây dựng chương trình, Bộ GD&ĐT khẳng định: “Lấy quan
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên
soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [3; tr.27]. Bởi vậy, cần
áp dụng và triển khai một cách thích hợp quan điểm này vào trong dạy học
Ngữ văn nói chung và trong từng bộ phận Văn, Tiếng Việt, Làm văn nói riêng.
1.2. Chương trình Làm văn hiện nay ở THCS và THPT không còn là

thử nghiệm, áp dụng quan điểm này vào các môn học. Bởi vậy, bước đầu đã
có những công trình bàn về vấn đề trên.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Tạp chí nghiên cứu Giáo dục 1973, khi bàn về “Dạy văn là quá trình rèn luyện toàn diện”, đã đưa ra vấn đề
cần đổi mới phương pháp dạy học. Tuy bài viết này được thực hiện từ khá
lâu, nhưng tác giả đã hướng mọi người đến một phương pháp mới là tích hợp.
Bởi vậy, có thể coi bài viết là một trong những nền tảng tư tưởng chỉ đạo đầu
tiên để quan điểm này được áp dụng trong ngành Giáo dục Việt Nam hiện
nay.
Trần Kiều trong Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 - 1995 với bài Một
vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông ở


3

nước ta đã nêu ra cần phải thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường
phổ thông.
Năm 2000, khi Bộ GD&ĐT tiến hành đổi mới nội dung chương trình
và cách biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp thì một yêu cầu cấp thiết đã
được đặt ra, đó là phải tìm ra phương pháp giảng dạy theo quan điểm tích
hợp. Chính vì thế, nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề này qua một số bài báo,
tạp chí và tài liệu tham khảo sau:
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
(Tạp chí Giáo dục số 6 - 2002) đã chỉ ra tích hợp chính là một phương hướng
phối kết hợp các quá trình của nhiều môn học đạt hiệu quả thông qua sự liên
kết giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Làm văn. Khi viết về nguyên tắc
tích hợp trong cuốn “Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT”, tác giả đã khẳng
định đó là một nguyên tắc dạy học hiện đại và nêu ra các phương hướng khi
vận dụng nguyên tắc này trong chương trình giảng dạy Ngữ văn.
Trong Tạp chí Giáo dục số 22 - 2002, TS. Nguyễn Trọng Hoàn với bài
Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn đã đề cập đến

tích hợp sẽ góp một phần nhỏ vào việc áp dụng quan điểm tích hợp vào nội
dung này, từ đó nâng cao chất lượng dạy học Làm văn nói riêng và Ngữ văn
nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
- Tìm ra những cơ sở khoa học khi vận dụng một quan điểm giáo dục
tiến bộ vào dạy học một nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ văn
THPT.
- Góp một phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động
dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí đạt hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:


5

- Tổng hợp những tri thức cơ bản về nghị luận xã hội.
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nêu ra sự vận dụng quan điểm tích hợp và thực nghiệm qua bài Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí nhằm đánh giá tính khả thi của việc vận dụng này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung, dạy học Làm văn nói
riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi tập trung vào bài Nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC
BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ TRONG SÁCH GIÁO
KHOA NGỮ VĂN 12 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở lí luận về quan điểm tích hợp
1.1.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp là một quan điểm dạy học hiện đại, tiên tiến và đang được
nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng rộng rãi. Bởi thế khi bàn về quan điểm
tích hợp đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau.
Trong SGV Ngữ văn 6, GS. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) có nêu:
“Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá
trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình,
cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể
khác nhau”. Còn tác giả Phan Trọng Luận trong cuốn SGK Ngữ văn 10 có
nói: “SGK Ngữ văn 10 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở THCS, cụ thể là
học Ngữ văn trong nhà trường không thể tách rời ba bộ phận Văn, Tiếng Việt,
Làm văn”. Còn tác giả Nguyễn Hải Châu thì cho rằng: Tích hợp trong dạy
học là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn; giữa các bộ môn có liên
quan; giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể
thống nhất nhằm tránh tình trạng dạy học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân
môn trong bộ môn; qua đó rèn kĩ năng liên môn, xuyên môn để người học
phát huy khả năng tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp để vận dụng vào thực tiễn
ở những mức độ, bình diện khác nhau.
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng quan niệm của TS. Đỗ Ngọc
Thống và GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng về tích hợp: Tích hợp là tinh thần ba


8


9

Với sơ đồ trên, có thể khẳng định, tích hợp ngang còn được hiểu là
“tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời
điểm. Đây là hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri
thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một hoặc một số văn bản có vai
trò như là kiến thức nguồn. Nói cụ thể hơn, đó là sự khai thác triệt để mối liên
hệ kiến thức giữa các phần Văn, Tiếng Việt và Làm văn trong đơn vị bài học,
cũng có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau” [2; tr.8]. So với Ngữ văn ở
THCS, tích hợp ngang ở SGK THPT được vận dụng ít hơn.
* Tích hợp dọc
Tích hợp dọc (tích hợp theo vấn đề): “Là sự tích hợp ở một đơn vị kiến
thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo
nguyên tắc đồng trục (hay còn gọi là vòng tròn đồng tâm). Tích hợp theo từng
vấn đề còn tập trung khái thác sâu rộng về mối quan hệ giữa nội dung đang
dạy với các nội dung đã dạy hoặc sẽ dạy ở hai phân môn còn lại hay ở chính
phân môn đang dạy. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong
việc đưa ra những vấn đề mang tính chất liên tưởng, tổng quát, đồng thời
giúp học sinh biết liên hệ kiến thức, rèn luyện tư duy khái quát, tổng hợp và
có năng lực chiếm lĩnh tri thức một cách hệ thống từ cái cũ đến cái mới, từ
cái đã biết đến cái sẽ biết” [5; tr.76]. Ở Ngữ văn THPT, quan điểm tích hợp
dọc được vận dụng linh hoạt hơn tích hợp ngang.
Như vậy, tích hợp dọc là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề
trong phân môn. Cụ thể đó là tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián
tiếp) giữa các vấn đề trong cùng một phân môn, giữa các bài học với nhau
trong cùng một lớp, giữa lớp trước với lớp sau, thậm chí giữa các cấp học. Đó
là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mối liên hệ theo kiểu xâu chuỗi,
móc xích một cách chặt chẽ [2; tr.10]. Ta có thể hình dung tích hợp dọc thông
qua sơ đồ sau:


phẩm văn chương một lần nữa lại được soi sáng dưới góc độ của Làm văn. Từ
đây, học sinh có cơ hội ôn lại tác phẩm văn chương cũng như hiểu sâu hơn về
đặc điểm thể loại của nó. Văn bản sẽ cung cấp cho Làm văn những kiến thức
về đặc trưng thể loại như tự sự, miêu tả, biểu cảm. Những kiến thức phần Văn


11

sẽ giúp học sinh tạo ra những văn bản đúng thể loại. Đó chính là cơ sở để tích
hợp Làm văn với đọc - hiểu văn bản.
Ngoài ra, Làm văn còn được tích hợp với những kiến thức và kĩ năng
của Tiếng Việt. Việc viết đúng chính tả, phát âm đúng, dùng từ ngữ chuẩn
xác, đặt câu đúng với hoàn cảnh giao tiếp và cấu trúc văn bản mạch lạc chính
là cơ sở để làm thành một bài văn hoàn chỉnh. Hơn nữa, Làm văn còn giúp
học sinh hoàn thiện việc sử dụng tiếng Việt theo đúng mục đích giao tiếp.
Nếu chỉ xác định được cơ sở tích hợp thì chưa đủ mà giáo viên cần phải
chủ động xây dựng nội dung tích hợp. Chẳng hạn, GV có thể xác định cơ sở
tích hợp Làm văn với Văn. Ví dụ: Khi học bài Tóm tắt văn bản tự sự (dựa
theo nhân vật chính) thì học sinh phải đọc lại một số văn bản như: Tấm Cám,
An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, nắm được đặc trưng thể loại của
những tác phẩm này thuộc tự sự hay miêu tả thì học sinh mới tóm tắt được tác
phẩm. Hay có thể xác định tích hợp Làm văn với Tiếng Việt, khi dạy các bài
thuộc phong cách chức năng ngôn ngữ nhằm giúp học sinh sử dụng đúng
ngôn ngữ này để viết một bài văn cho phù hợp với thể loại.
Có thể nói, nguyên tắc tích hợp cần được quán triệt trong dạy học Ngữ
văn. Để học sinh có được những kiến thức tổng hợp, nhiều chiều thì cần phải
có sự phối hợp và liên kết của tất cả các phân môn, chỉ như vậy thì các em
mới giải quyết tốt hai hoạt động đọc văn và làm văn cũng như củng cố và phát
triển các tri thức đọc - hiểu văn bản sâu hơn và rèn luyện các kĩ năng khi học
tiếng Việt.

những kiến thức xã hội để góp phần hoàn thiện năng lực viết văn, bồi dưỡng
tư duy và biết vận dụng những hiểu biết ấy vào những tình huống cụ thể, từ
đó giúp các em trở thành những công dân có trách nhiệm, có ý thức tự lập và
sáng tạo.
1.1.2. Cơ sở lí luận về nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí
1.1.2.1. Nghị luận xã hội
Khi nghiên cứu về văn nghị luận, các nhà khoa học đều khẳng định:
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lí luận, bao


13

gồm lí lẽ, dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đề
nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý
kiến đó. Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
Xét riêng về nghị luận xã hội, các nhà khoa học nhận định:
+ Là nghị luận về một vấn đề xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi
quan hệ, mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như
chính trị, kinh tế, giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số,…[15; tr.6].
+ Là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến
các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội. Mục đích cuối cùng của
nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ
giữa người với người trong xã hội [18; tr.5].
+ Là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh như: một tư
tưởng, đạo lí; một lối sống cao đẹp; một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của
đời sống; một vấn đề thiên nhiên, môi trường [12; tr.15].
1.1.2.2. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Có thể hiểu tư tưởng là sự kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ về
cuộc đời. Đó là những ý nghĩ, suy nghĩ sâu xa, độc đáo về một vấn đề của đời
sống. Còn đạo lí được hiểu là những vấn đề về đạo đức, về lí tưởng. Ngoài

trong đời sống bởi dù sao đi nữa nó vẫn luôn mang tính xác thực chứ không
chứa đựng màu sắc hư ảo thông qua trí tưởng tượng của người cầm bút. Sau
khi giải thích, phân tích, bình luận về tư tưởng, đạo lí ở nhiều góc độ, khía
cạnh khác nhau, người viết cần nêu được ý nghĩa, rút ra bài học về tư tưởng,
đạo lí và hành động, qua đó áp dụng vào thực tiễn đời sống. Đây là một đặc
trưng không thể thiếu của kiểu bài này.
Văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí nói
riêng có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong nhà trường cũng như
trong xã hội. Ở đó, mục tiêu của nó không chỉ là giúp học sinh vận dụng một
cách tối đa, tổng hợp nhất những hiểu biết của mình về tự nhiên, xã hội, rèn


15

luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, rèn luyện tư duy lôgic khoa học, giúp
học sinh nhận thức, đánh giá đúng và có thái độ đúng trước các vấn đề của
cuộc sống, qua đó giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh. Đồng thời
nó còn là vũ khí tư duy lí luận sắc bén giúp con người có thể nhận thức đúng
đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần làm sâu sắc hơn cho chức
năng giáo dục của văn học đối với con người.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong
SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp
1.2.1.1. Điều tra, thăm dò, dự giờ giáo viên
Để hiểu về thực tế dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, chúng
tôi tiến hành thăm dò, điều tra đối với các GV giảng dạy Ngữ văn và trực tiếp
dự giờ của họ. Cụ thể:
* Phát phiếu thăm dò ý kiến GV
Phiếu điều tra gồm 14 phiếu phát cho GV tổ Văn, Trường THPT
Nguyễn Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.

Câu 3: Đa số GV đều tìm ra được những thuận lợi và khó khăn khi
soạn giáo án bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo quan điểm tích hợp.
Nội dung tổng hợp lại như sau:
- Thuận lợi:
+ Bài giảng linh hoạt, sinh động, hấp dẫn, không khô khan, nhàm chán.
+ GV đã thu hút được HS, có điều kiện để kiểm tra khả năng ghi nhớ
kiến thức cũ của HS và có điều kiện kiểm định phương pháp dạy học của bản thân.
+ Việc soạn bài và giảng bài trở nên chủ động hơn.
+ HS là người chủ động làm việc với SGK, tính tích cực của HS được
phát huy cao độ.
- Khó khăn:


17

+ Công việc soạn bài và giảng bài cần nhiều thời gian vì khi tiến hành
tích hợp phải đặt nhiều câu hỏi.
+ GV phải hệ thống lại những kiến thức và kĩ năng mà HS học từ lớp
dưới.
+ Nếu không bố trí được thời gian sẽ dễ dẫn đến lan man, cháy giáo án.
Câu 4: Đa số GV chọn trả lời về ưu điểm của việc dạy học theo quan
điểm tích hợp, đó là:
- Tiết kiệm thời gian.
- Giúp HS hiểu và biết phối hợp các kiến thức và kĩ năng một cách hiệu
quả và biết vận dụng vào thực tiễn.
- Góp phần rèn luyện khả năng tự học, ghi nhớ và tư duy sáng tạo, tư
duy tổng hợp cho HS.
Nhận xét
Qua việc khảo sát trên chúng tôi nhận thấy đa số GV đã có nhận thức
đúng về bản chất của quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung và

Phiếu điều tra gồm 50 phiếu phát cho HS Trường THPT Nguyễn Viết
Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc. Nội dung phiếu như sau:
Câu 1: Em có thích Làm văn không? Vì sao?
Câu 2: Em có thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí không?
Tại sao em thích? Tại sao không thích?
Câu 3: Khi học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo hướng tích
hợp, em có suy nghĩ gì?
Nhận xét kết quả điều tra
Câu 1: Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy đa số các em thích học Làm
văn. Vì theo các em, môn Làm văn có nội dung kiến thức ngắn gọn, chủ yếu
là phân tích ngữ liệu sau đó áp dụng tiến hành làm bài tập, chính bởi vậy kiến
thức không cồng kềnh, không gây áp lực và căng thẳng tinh thần như giờ Đọc
văn hay Tiếng Việt.


19

Câu 2: Đa số HS thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Điều
này được thể hiện rõ bởi tinh thần tích cực, hăng hái tham gia xây dựng bài
của các em.
Đa số HS thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí bởi dạng bài
này có nội dung kiến thức gần gũi, các em cũng đã được học ở những lớp
dưới. Không những thế, đây còn là kiến thức gắn liền với nếp cảm, nếp nghĩ
trong đời sống hàng ngày của các em.
Câu 3: Đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau nhưng đa phần các em
nhận thấy khi dạy bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo hướng tích hợp
giúp các em tiếp thu kiến thức, dễ dàng, thuận lợi khi tiến hành liên hệ với
thực tiễn cuộc sống.
Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy giờ học bài Nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí nói riêng và các giờ Làm văn nói chung đều có không khí sôi nổi, hào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status