Dạy học bài từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong SGK ngữ văn11 theo quan điểm tích cực - Pdf 32

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

LƯƠNG THỊ PHƯỢNG

DẠY HỌC BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG
ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN TRONG SÁCH
GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO
QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Phạm Kiều Anh

HÀ NỘI, 2013


2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài Dạy học bài Từ ngôn
ngữ chung đến lời nói cá nhân trong SGK Ngữ văn 11 theo quan điểm
tích cực, tác giả khóa luận đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn,
đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và Thạc
sĩ Phạm Kiều Anh - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn và lời cám ơn trân trọng nhất tới các


Học sinh

SGK:

Sách giáo khoa

SGV:

Sách giáo viên

THPT:

Trung học phổ thông

PPDH:

Phương pháp dạy học

ĐHSP:

Đại học sư phạm

NXB:

Nhà xuất bản

ThS:

Thạc sĩ

Chương 2. Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
trong SGK Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực
2.1. Mục đích của việc dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông
2.2. Những yêu cầu khi vận dụng quan điểm tích cực vào dạy học
tiếng Việt

Trang
1
1
2
4
4
5
5
5
6
6
6
6
7
8
10
10
10
12
14
14
14
17
21

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Đối tượng thực nghiệm
3.3. Chủ thể thực nghiệm
3.4. Thời gian thực nghiệm
3.5. Nội dung thực nghiệm
3.5.1. Cách thức tiến hành thực nghiệm
3.5.2. Giảng dạy bằng giáo án thực nghiệm
3.5.3. Kiểm tra đánh giá hiệu quả các biện pháp đề xuất cuối đợt
thực nghiệm
3.6. Kết quả thực nghiệm

26
27
27
27
29
36
36
36
37
37
37
37
37

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2

chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học. Tuy nhiên, việc dạy và
học trong nhiều trường phổ thông vẫn còn chịu tác động nặng nề bởi mục tiêu
thi cử, “chạy theo thành tích”, học để thi, dạy để thi. Việc học chủ yếu vẫn là
truyền thụ một chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về lí


2

thuyết, xa rời thực tiễn, tập trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử,
chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến
thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học.
1.3. Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội
dung kiến thức mới, đòi hỏi phải tìm nhiều hình thức dạy học nhằm đạt
hiệu quả
Bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân là một nội dung kiến
thức mới đối với học sinh. Qua bài học, hướng tới mục tiêu là giúp các em
nắm được biểu hiện của cái chung trong ngôn ngữ của xã hội và cái riêng
trong lời nói cá nhân, mối tương quan giữa chúng; nâng cao năng lực lĩnh hội
những nét riêng trong ngôn ngữ của cá nhân, đồng thời rèn luyện để hình
thành và nâng cao năng lực sáng tạo của cá nhân; có ý thức tôn trọng những
quy tắc ngôn ngữ chung của xã hội và góp phần vào sự sáng tạo, phát triển
ngôn ngữ của xã hội. Tuy nhiên, với một nội dung kiến thức mới, việc tìm ra
hình thức dạy học là cần thiết. Bởi đó là cơ sở để việc dạy học bài này đạt
hiệu quả cao nhất.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Dạy học bài
"Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân" trong sách giáo khoa Ngữ văn
11 theo quan điểm tích cực.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu quan điểm tích cực trong dạy học
Cho đến nay, có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về vấn đề phát

sâu” [134]. Theo đó, tác giả chỉ ra bảy đặc điểm và yêu cầu của việc dạy học
theo hướng tích cực.
Có thể nói, những nhận xét trên đã nêu ra những chỉ dẫn cụ thể về
quan điểm dạy học này. Đó là cơ sở để giáo viên có thể vận dụng vào thực tế
giảng dạy cho tất cả các hợp phần của môn Ngữ văn ở THPT.
2.2. Lịch sử nghiên cứu việc dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời
nói cá nhân theo quan điểm tích cực
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có nhiều công trình nghiên cứu,
nhiều bài viết đề cập đến dạy học theo quan điểm tích cực. Tuy nhiên việc
vận dụng quan điểm ấy vào từng bài học cụ thể dường như chưa được chú


4

trọng. Không là ngoại lệ, dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực, cũng chưa được
quan tâm. Vấn đề này được đề cập tới trong SGK Ngữ văn 11 (tập 1), SGV,
tài liệu bồi dưỡng giáo viên nhưng việc vận dụng như thế nào thì các công
trình trên chưa trình bày cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra một hướng dạy học bài Từ
ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân đạt hiệu quả, từ đó có thể vận dụng vào
các bài dạy Tiếng Việt theo quan điểm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu có những nhiệm vụ sau:
Hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu để xác định cơ sở lí luận và cơ sở
thực tiễn của đề tài.
Áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh vào dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong sách

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm một hình thức dạy học phù hợp với
thực tế dạy học Ngữ văn ở THPT và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời
nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 đạt hiệu quả cao nhất.
7. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung được
khai triển thành ba chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn dạy học bài Từ ngôn ngữ chung
đến lời nói cá nhân trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực.
Chương 2. Dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân trong
sách giáo khoa Ngữ văn 11 theo quan điểm tích cực.
Chương 3. Thực nghiệm.


6

NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC
BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN
TRONG SGK NGỮ VĂN 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC

1.1. Quan điểm tích cực trong dạy học
1.1.1. Tính tích cực và tính tích cực trong học tập
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội. Vì
thế, hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu
của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động thích ứng và góp
phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của
sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
Tính tích cực học tập được biểu hiện cụ thể ở hoạt động nhận thức, đặc
trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình

học tập của mỗi cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác. Dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, học sinh được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm,
ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả.
Đó là đặc trưng “lấy học sinh làm trung tâm”.
Vì thế, dạy và học tích cực chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của
học sinh, nhu cầu và lợi ích của xã hội. Trong quá trình dạy học, giáo viên
phải chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu, lợi ích của
xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, rèn luyện cho học sinh cách
làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc, trình
bày kết quả.
Mặt khác, khi dạy học, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hoá về trình
độ nhận thức của mỗi học sinh. Trên cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ học tập
để người học có điều kiện bộc lộ, phát triển khả năng của mình. Bên cạnh đó
cần phối hợp với học tập hợp tác, đặt các em vào các mối quan hệ thầy trò, trò


8

trò. Qua đó các em được học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời hình thành
và phát triển năng lực của bản thân.
Khi tổ chức các hoạt động dạy và học, giáo viên cũng phải chú trọng
tới việc hướng dẫn tìm tòi. Qua đó, học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn
đề và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thông qua
hoạt động. Căn cứ vào nhận thức của các em, người dạy có thể hướng dẫn
hoặc điều chỉnh những nhận thức chưa đúng để các em tiếp tục phát huy khả
năng tìm tòi của bản thân, nhằm đạt kết quả cao trong học tập.
Dạy học tích cực đòi hỏi kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của
trò. Trong dạy học tích cực, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển kỹ
năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Đây là hoạt động cần thiết cho sự
thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường trang bị cho học sinh. Từ đó, để tạo

nghĩa chiếm vị trí quan trọng. Học sinh xác định được tài liệu phải học thuộc
lòng, tài liệu nào phải diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình.
Trong học tập, chú ý có chủ định chiếm ưu thế. Sự tập trung có chú ý,
sự di chuyển của chú ý, khối lượng chú ý tăng lên rõ rệt. Do vậy cần tổ chức
giờ học sao cho có nội dung thích hợp, phù hợp với nhận thức của học sinh.
Điều đó đòi hỏi tư duy trừu tượng cũng chiếm ưu thế. Đó là loại tư duy hướng
vào giải quyết những nhiệm vụ lí luận bằng cách sử dụng khái niệm, kết cấu
lôgic, thao tác tư duy. Như vậy, trí tuệ của học sinh ổn định hơn do nắm vững
hệ thống các khái niệm của các môn học, học sinh có ý thức và sử dụng các
thao tác trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập.
Yếu tố thứ hai là đặc điểm về hoạt động học tập. Hoạt động học tập của
học sinh đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn. Học sinh
học tập nghiêm túc và có trách nhiệm, thái độ đối với môn học trở nên có lựa
chọn. Ở các em hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp.
Yếu tố thứ ba là đặc điểm về ý thức và sự giao tiếp của học sinh. Học
sinh ở lứa tuổi này thường cho rằng bản thân đã trưởng thành.Vì thế, các em
luôn mong được người lớn thừa nhận. Các em mong muốn được người lớn


10

tôn trọng, thừa nhận, tin tưởng vào tính độc lập của mình. Mặt khác, trong
nhà trường, các em được sinh hoạt cùng nhau, cảm thấy mình cần cho nhóm,
có uy tín và có vị trí nhất định trong nhóm nên quan hệ bạn bè rất quan trọng.
Giáo viên cần biết tạo điều kiện cho học sinh phát triển quan hệ giao tiếp, hợp
tác tập thể và biết uốn nắn học sinh theo hướng phục vụ mục tiêu giáo dục, có
phương pháp dạy học phù hợp giúp các em lĩnh hội kiến thức mới hiệu quả
nhất. Như vậy, gia đình và xã hội là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới tính tích cực
của học sinh. Nếu gia đình là môi trường nhỏ tạo điều kiện, có nền nếp và
truyền thống học tập nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các em, còn xã hội là

thống nhất để giao tiếp. Với người Việt, ngôn ngữ chung là tiếng Việt, “thứ
của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh).
Ngôn ngữ chung được thể hiện cụ thể qua hệ thống các đơn vị, các quy
tắc, các chuẩn mực xác định về ngữ âm, chữ viết, từ vựng và ngữ pháp. Từ
đó, mọi thành viên của dân tộc, của cộng đồng phải có vốn hiểu biết về các
đơn vị chung ấy. Có như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp mới diễn
ra thuận lợi, thông suốt.
Muốn có vốn hiểu biết về ngôn ngữ chung, nhất thiết phải thường
xuyên học hỏi. Có hai cách học hỏi chủ yếu: một là học qua giao tiếp tự
nhiên, hàng ngày; hai là học qua nhà trường, sách vở, báo chí. Qua giao tiếp
tự nhiên, hàng ngày con người học ngôn ngữ chung theo kênh âm thanh. Đó
là ngôn ngữ chung tồn tại ở một dạng, theo biến thể trong từng địa phương cụ
thể. Tích luỹ vốn ngôn ngữ tự nhiên này thường mang tính chất kinh nghiệm,
được hình thành và phát triển hai kỹ năng quan trọng: nói và nghe. Qua nhà
trường, sách vở, báo chí... con người học tiếp cận ngôn ngữ chung với tư cách
ngôn ngữ văn hoá. Với ngôn ngữ văn hoá, được hình thành và phát triển theo
theo kênh lời giảng ở lớp, lời phát biểu ở các hội nghị, hội thảo, diễn thuyết...
thông qua hệ thống ký tự chữ viết. Theo đó, vốn ngôn ngữ tích luỹ được là
nhờ vào hai kỹ năng quan trọng khác: viết và đọc.
Ngôn ngữ chung là căn cứ để mọi người trong xã hội sử dụng và giao
tiếp với nhau. Con người sẽ mở rộng vốn ngôn ngữ của mình qua thời gian,
qua tích luỹ...


12

Tóm lại phải biết học tập suốt đời để có kiến thức đầy đủ về ngôn ngữ
chung, để hoàn thiện các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nhất là kỹ năng viết và
nói - hai kỹ năng có vai trò quyết định đối với việc tạo lập lời nói cá nhân.
1.2.2. Lời nói cá nhân

nhưng ở lời nói cá nhân có sự chuyển đổi sáng tạo trong nghĩa từ, trong kết
hợp từ ngữ, trong việc tách từ, gộp từ, chuyển loại từ hoặc mang sắc thái
phong cách. VD1: Trong câu thơ của Xuân Diệu
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng)
Từ "buộc" được chuyển nghĩa (chỉ mong muốn không có gió hoặc gió
ngừng thổi) nên kết hợp được với từ gió.
VD2: Các từ: Bướm chán ong chường, dày gió dạn sương, bướm lả ong
lơi... (Nguyễn Du) được Nguyễn Du sáng tạo nhờ sử dụng biện pháp tách từ.
Trong văn chương nghệ thuật, dấu ấn cá nhân được trau chuốt thành lời
nói và phong cách nghệ thuật. Nhà văn Tô Hoài đã nói: “Từ lúc mới cầm bút
viết một câu muốn định cho nó là một việc nghệ thuật, thì trong con người
mình đã phải trải hai lần nghĩ. Một lần nghĩ ra cái ý ấy, một lần nắm lấy cái ý
ấy mà tìm chữ nghĩa để đặt bút xuống. Trong sáng tạo nghệ thuật, ta phải
vượt hai lần sáng tạo. Lúc đầu không mấy ai có ý thức ấy. Nhưng dần dần về
sau, viết càng quen thì cả thói quan lẫn lương tâm ngòi bút mình đã tìm ra cái
lần sáng tạo thứ hai. Từ khi biết như thế thì việc tìm chữ nghĩa đối với tôi trở
thành một cái ham mê kích thích, trở thành những cái khó, cái khổ, cái sợ.
Cầm bút viết không lúc nào không lo. Một chữ phải là một hạt ngọc trên
trang bản thảo, phải là hạt ngọc mới nhất của mình tìm được, do phong cách
văn chương mình mà có được. Trang sách này không có ngọc, trong bản thảo
không có chữ thần, không có tinh hoa thì cái hồn tác phẩm, từ tư tưởng đến
nhân vật, tất cả bao nhiêu ước vọng, khát khao ta gửi gắm vào sáng tác biết
lấy gì mà sống được. Không có chữ nuôi nó, nó trống rỗng rồi chết héo đi.
Nghĩ đến sáng tác nghèo nàn còi cọc bao giờ cũng giật mình”.
(Tạp chí Văn học - Số phát hành 07/12/1988, tr.14)


14


15

1.3.1.2. Nội dung bài dạy
Nội dung bài học Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân gồm 3 phần chính:
* Ngôn ngữ - tài sản chung của xã hội.
Ngôn ngữ - tài sản chung của một cộng đồng xã hội (một dân tộc hay
một số dân tộc). Nó là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy chung của cả
cộng đồng xã hội.
Cho học sinh chỉ ra tính chung trong ngôn ngữ của cộng đồng biểu hiện
qua các phương diện nào. Sau đó học sinh trả lời.
Trong thành phần của ngôn ngữ có những yếu tố chung cho tất cả mọi
cá nhân trong cộng đồng. Mỗi cá nhân đều cần tích luỹ những yếu tố chung
đó và biết sử dụng chúng để tạo nên lời nói, đáp ứng nhu cầu biểu hiện nội
dung và giao tiếp với người khác. Những yếu tố chung bao gồm:
Các âm và các thanh (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu).
Các tiếng (âm tiết) do sự kết hợp của các âm và thanh theo những quy
tắc nhất định.
Các từ và ngữ cố định.
Tính chung còn thể hiện ở các quy tắc và phương thức chung trong việc
cấu tạo và sử dụng các đơn vị ngôn ngữ. Các quy tắc và phương thức này
được hình thành dần trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ và cần được
mỗi cá nhân tiếp nhận và tuân theo nếu muốn cho sự giao tiếp với cộng đồng
đạt được hiệu quả. Đó là:
Quy tắc cấu tạo các biểu câu.
Phương thức chuyển nghĩa từ: chuyển từ nghĩa gốc sang nghĩa phái sinh.
VD: Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ đối với các từ chỉ trạng thái
của quả cây (non, già, chín) sang chỉ các mức độ của sự đo lường (non một
cân, già một cân), chỉ các mức độ của nhận thức, trí tuệ (suy nghĩ còn non,
suy nghĩ đã chín, suy nghĩ già dặn).

Lời nói cá nhân là thực tế sinh động hiện thực hoá những yếu tố chung
những quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ.


17

VD: Quy tắc cấu tạo câu đơn gồm ba phần:
Trạng ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ được hiện thực hoá qua câu thơ đầu tiên
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
Chính những sự biến đổi và chuyển hoá diễn ra trong lời nói cá nhân
dần góp phần hình thành và xác lập những cái mới trong ngôn ngữ, nghĩa là
làm cho ngôn ngữ chung phát triển
1.3.2. Điều tra giáo viên và học sinh
1.3.2.1. Điều tra khảo sát giáo viên
* Phát phiếu thăm dò giáo viên
Để đánh giá thực trạng dạy học, chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò ý
kiến giáo viên xoay quanh khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
Phiếu điều tra được phát cho giáo viên tổ Văn, Trường THPT Nguyễn
Huệ, tỉnh Yên Bái. Nội dung phiếu xoay quanh vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học nói chung và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân nói
riêng, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Nội dung gồm 3
câu hỏi cụ thể sau:
Đồng chí vui lòng cho biết một số ý kiến xung quanh vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời
nói cá nhân nói riêng nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
Câu 1: Đồng chí có nhận xét gì về sự khác biệt về phương pháp dạy
học cũ với phương pháp dạy học mới?

Thủ pháp so sánh, đối chiếu.
* Dự giờ giáo viên
Kết hợp với việc phát phiếu thăm dò điều tra, chúng tôi tiến hành dự
giờ giáo viên khi dạy bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân để đánh giá
kết quả về việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực của giáo viên. Qua dự
giờ chúng tôi nhận thấy:


19

Đa số giáo viên đi theo trình tự của SGK: Đưa ra ngữ liệu để học sinh
phân tích, từ đó rút ra kiến thức bài học.
Giáo viên vẫn còn phụ thuộc vào hệ thống ngữ liệu trong SGK, ít cung
cấp ngữ liệu ngoài cho học sinh. Điều này khiến giáo viên gặp hạn chế trong
quá trình giảng dạy và học sinh khó nắm kỹ kiến thức.
Khi dạy học, giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học
truyền thống, cung cấp kiến thức cho học sinh một chiều, phụ thuộc vào sách
giáo khoa nên bài dạy chưa thật sự sinh động, không gây được hứng thú đối
với học sinh.Việc tổ chức luyện tập thực hành cho học sinh còn nhiều hạn
chế, do sự chi phối về thời gian dạy.
Như vậy, qua khảo sát và dự giờ giáo viên chúng tôi thấy việc dạy học
tiếng Việt ở trường THPT hiện nay thường rơi vào tình trạng dạy học máy
móc, ít sáng tạo. Mặc dù có nhiều giáo viên phát hiện ra trọng tâm của bài học
và sự lựa chọn những phương pháp dạy học, song hiệu quả giờ học chưa cao
do phương pháp mà giáo viên lựa chọn chưa phù hợp với đối tượng học sinh.
Khi dự giờ chúng tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa chú ý đến bài giảng
của giáo viên, không tham gia xây dựng bài, còn nói chuyện trong giờ học.
Chính điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ
năng giao tiếp cho học sinh.
1.3.2.2. Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status