Skkn phát huy vai trò tích cực của phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại, nâng cao hiệu quả trong cách nhìn nhận, đánh giá về tác gia văn họ - Pdf 42

SỞ GD-ĐT NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT LÝ NHÂN TÔNG

BÁO CÁO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT HUY VAI TRÒ TÍCH CỰC CỦA PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI, NÂNG CAO
HIỆU QUẢ TRONG CÁCH NHÌN NHẬN, ĐÁNH GIÁ VỀ
TÁC GIA VĂN HỌC NGUYỄN TRÃI QUA VIỆC TỰ
NGHIÊN CỨU HÌNH TƯỢNG “TRĂNG” & “HOA”
TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI

Tác giả: Đào Thị Diệu Linh
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT Lý Nhân Tông

Nam Định, tháng 5 năm 2016


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

1. Tên sáng kiến: Phát huy vai trò tích cực của phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại,
nâng cao hiệu quả trong cách nhìn nhận, đánh giá về Tác gia văn học Nguyễn Trãi qua việc tự
nghiên cứu hình tượng “trăng” & “hoa” trong thơ Nguyễn Trãi
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THPT.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Trong năm học 2014-2015 và năm học 2015-2016.
4. Tác giả:
Họ và tên: Đào Thị Diệu Linh
Năm sinh: 25/07/1989

đến và vận dụng tri thức, đã khiến mỗi người giáo viên phải tự tìm tòi những phương pháp đặc
trưng, vừa đáp ứng với nhu cầu đổi mới, vừa phù hợp với đối tượng học sinh nhằm đạt hiệu quả
cao trong giảng dạy.
.1.2. Thực tiễn sử dụng các phương pháp dạy học môn Ngữ văn
− Việc sử dụng phương pháp nào trong quá trình dạy học chịu sự chi phối của những
yếu tố sau: Nội dung bài học, vị trí của bài học trong chương trình, lượng thời gian cho phép,
trình độ HS, mục đích cần đạt được của bài học. Ðây là những yếu tố mà người GV ần cân nhắc
kĩ khi soạn bài.
− Trong quá trình dạy học Ngữ văn, người dạy chủ yếu sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp đọc tác phẩm (Việc tiếp nhận tác phẩm phải bắt đầu từ việc đọc:
đọc thành tiếng và không thành tiếng. Ðọc là một trong những hình thức giảng dạy tác phẩm một
cách trực quan, tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn
từ chết, làm cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được)
+ Phương pháp diễn giảng (Là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một
vấn đề mới cho HS, HS tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó. Ðây phương pháp dạy
học cổ xưa nhất. Ở Việt Nam, cho đến nay, phương pháp này vẫn được sử dụng chủ yếu trong
dạy học, nhất là dạy các môn khoa học xã hội).
+ Phương pháp đàm thoại (vấn đáp) (là phương pháp GV xây dựng hệ thống câu
hỏi cho HS trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó tiếp nhận
kiến thức. Trong điều kiện thiếu phương tiện, đồ dùng dạy học thì việc sử dụng câu hỏi là một
trong những cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập một cách tích cực.)
+ Phương pháp trực quan (bảng so sánh, bảng thống kê…)
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề
.1.3. Thực tiễn sử dụng phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại ở trường phổ thông
− Trong quá trình tìm tòi phương pháp đổi mới cách dạy và học tôi nhận thấy việc
dạy học theo đặc trưng thể loại vừa đáp ứng phương pháp đặc thù của bộ môn, vừa truyền thống
vừa, vừa hiện đại, lại rất khả thi, đang được nhiều trường THCS, THPT trong cả nước áp dụng.
Đào Thị Diệu Linh

Trang 1

cảm thức về thế giới con người thời trung đại Việt Nam, … bị coi nhẹ. Nhiều giáo viên giảng dạy
chủ yếu dựa vào sách giáo viên. Dù đây là bộ sách có nhiều mặt mạnh, nó là tài liệu định
hướng quan trọng cho mỗi bài giảng của giáo viên, tuy nhiên đó mới chỉ là những gợi ý rất
chung chung, người thầy cần định lượng kiến thức để dạy cho phù hợp. Một số chưa biết lựa
chọn những kiến thức cơ bản, bài giảng chưa phù hợp với đối tượng học sinh, tham kiến thức
mà chưa áp dụng lý thuyết loại thể, dẫn đến hứng thú học văn của học sinh chưa được phát
huy.. Hầu như hoạt động liên môn để mở rộng kiến thức, đào sâu hiểu biết của học sinh với loại
hình nghệ thuật tổng hợp này ít có.
− Kết quả là học sinh học xong văn bản nào biết văn bản ấy, hiểu về vị trí, vai trò của
tác giả văn học một cách đơn thuần, máy móc.
.3 Thực tiễn vị trí tác gia văn học Nguyễn Trãi
Trong chương trình THCS và THPT, Nguyễn Trãi là một tác gia rất quan trọng. Giáo
viên và học sinh không những được học những áng văn chính luận rất hào hùng như “Bình Ngô
Đại Cáo” mà còn được tiếp xúc với những vần thơ chan chứa cảm xúc, thấy rõ được chân dung
giản dị với những tâm sự thầm kín của “một con người trần thế nhất trần gian” (PGS. TS Lã
Nhâm Thìn) mà Quốc âm thi tập chính là bức chân dung tự họa đầy đủ nhất.
Đào Thị Diệu Linh

Trang 2


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

Nghiên cứu Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi từ góc độ nghệ thuật
còn giúp chúng tôi giảng dạy môn Ngữ văn trong trường học nói chung và nhà trường phổ
thông nói riêng tốt hơn. Bởi vì, di sản văn chương của ông được đưa vào giảng dạy trong trường
phổ thông ở khá nhiều lớp với nhiều tác phẩm khác nhau, trong đó có một số bài ở hai tập thơ
trên. Hơn nữa, việc tìm hiểu về Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi hiện nay và
mãi mãi về sau sẽ còn phải tiếp tục để khám phá sâu sắc hơn nữa giá trị của tác phẩm quý giá
này, nhằm tôn vinh Ức Trai – một danh nhân vĩ đại đem lại cho chúng ta lòng tự hào, khâm

Mặc dù viết nhiều và viết hay về thiên nhiên nhưng Nguyễn Trãi thường tập trung tới hai
đối tượng đặc biệt nhất của thiên nhiên là trăng và hoa. Nhìn vào toàn bộ hai tập thơ Ức Trai thi
tập và Quốc âm thi tập, chúng ta thấy một ánh trăng dịu mát, tươi sáng phủ lên những cành mai,
khóm trúc, bụi hòe. Thiên nhiên giao hòa, trăng – hoa quấn quýt. Cảnh vật hữu tình lần lượt hiện
ra qua ngòi bút thiên tài và tấm lòng say sưa cảnh đẹp của thi nhân. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã
Đào Thị Diệu Linh

Trang 3


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

dùng rất nhiều bút lực để sáng tác ra những vần thơ kì diệu nhất về hình ảnh trăng và hoa. Đối
với thi nhân đây chính là hai vẻ đẹp tuyệt vời nhất của tạo hóa và là nơi Nguyễn Trãi có thể trút
bầu tâm sự, thể hiện được ý chí, tài năng cũng như phẩm chất của mình. Nó tạo nên nét riêng cho
thơ Nguyễn Trãi và giúp ta hiểu nỗi lòng của một thi nhân cách ta hơn 600 năm về trước. Đặc
biệt hơn, những vần thơ viết về trăng và hoa trong hai tác phẩm Ức Trai thi tập và Quốc âm thi
tập đến ngày nay vẫn làm rung động hàng triệu trái tim người đọc, đem lại cho ta những khám
phá và hiểu biết mới mẻ về thiên nhiên nói riêng và con người Nguyễn Trãi nói chung.
Bên cạnh những áng văn bất hủ Nguyễn Trãi đã để lại một di sản thơ vô cùng quý báu đó
là Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập. Hai tập thơ này đã hội tụ được nhiều giá trị về nội dung và
nghệ thuật, khai thông cho nền thơ ca tiếng Việt. Chọn đề tài Phát huy vai trò tích cực của
phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại, nâng cao hiệu quả trong cách nhìn nhận, đánh
giá về Tác gia văn học Nguyễn Trãi qua việc tự nghiên cứu hình tượng “trăng” & “hoa” trong
thơ Nguyễn Trãi , chúng tôi muốn làm sáng tỏ vị trí của Nguyễn Trãi, cũng như những giá trị nội
dung - nghệ thuật của tập thơ trong dòng chảy của thơ trung đại và ảnh hưởng của tác giả đến với
các nhà thơ sau này. Đây là một hướng nghiên cứu chuyên biệt, đánh giá một cách tương đối hệ
thống và toàn diện thành công nghệ thuật của Nguyễn Trãi trong việc khắc họa hai hình tượng
đặc trưng của thơ trung đại là trăng và hoa. Từ đó, soi chiếu vào nội dung thấy được giá trị và
đóng góp của tác giả trong dòng văn học trung đại Việt Nam. Có thể coi, hướng nghiên cứu này


cứu tìm hiểu các kiến thức. Tuy nhiên với sự đa dạng và phức tạp của văn học Trung đại thì hiệu
quả dạy phần văn học này vẫn không tránh khỏi những hạn chế. Các điển tích, điển cố của văn
học trung đại là phức tạp và đa nghĩa. Vì vậy đòi hỏi phải có một tư duy hết sức khoa học, hết
sức sáng tạo đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện phần văn học quan trọng này.
.1.2. Việc học của học sinh:
Thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với thi pháp văn học đương đại nên đó là
điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh
khó khăn khi tái hiện hoàn cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử dụng trong tác phẩm
văn học cổ. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đât nước, chúng ta có những thành
tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị trường đã tạo ra những
phức tạp và những ảnh hưởng không lành mạnh đối với đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ.
Đặc biệt là đối tượng học sinh, trong đó có học sinh bậc trung học cơ sở. Một bộ phận lớn học
sinh chịu ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực của XH chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu
tự giác. Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần văn học khó nhất. Vì thế, chất lượng học
sinh thuyên giảm. Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ huynh học sinh là sính học các
môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của
học sinh đối với môn Ngữ văn. Điều đó càng đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực để nâng
cao chất lượng học bộ môn ngữ văn của học sinh, trong đó có phần văn học trung đại Việt Nam
.2 Thực trạng nghiên cứu về tác gia văn học Nguyễn Trãi
Trải qua hơn sáu thế kỉ tiếp nhận, nghiên cứu và phát huy những giá trị tinh thần mà
Nguyễn Trãi để lại; có thể nói các thế hệ đã nối tiếp nhau tìm hiểu và hoàn chỉnh dần chân dung
người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Nhưng việc nghiên cứu tìm
hiểu thơ văn Nguyễn Trãi một cách có hệ thống mới chỉ thực sự được bắt đầu từ sau những năm
50 của thế kỉ XX. Bởi vì di sản thơ của Nguyễn Trãi ra đời vào thế kỷ XV nhưng đã bị thiêu hủy,
thất tán rồi được người đời sau chép lại, sưu tầm lại. Từ đó mới được một số học giả phiên âm,
chú giải và giới thiệu rộng rãi tới bạn đọc. Tìm hiểu tập thơ phục vụ cho đề tài báo cáo, chúng tôi
thấy không thể không đề cập đến tình hình sưu tầm di cảo của Ức Trai được. Đây là một trường
hợp đặc biệt có một không hai trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử văn học Việt Nam
nói riêng. Di sản văn học của Ức Trai cũng vấp phải số phận long đong lận đận như chính cuộc

đưa đến cho người đọc một bản Quốc âm thi tập “kĩ lưỡng, chi li, chứa đựng những tri thức
bách khoa, những phát hiện sáng giá”, được Viện sử học xuất bản năm 1967. Năm 1971, Nxb
Thời Mới, Sài Gòn xuất bản Nguyễn Trãi toàn tập do Hoàng Khôi biên soạn, phiên âm, chú giải.
Năm 1997, Nxb Văn học cho ra mắt cuốn “Nguyễn Trãi thơ và đời”. Gần đây nhất, nhóm tác giả
Mai Quốc Liên - Kiều Thu Hoạch - Vương Lộc - Nguyễn Khuê, (1999-2001), xuất bản cuốn
“Nguyễn Trãi toàn tập tân biên”, Nxb Văn học, Hà Nội được xem là một công trình dày công
nghiên cứu và hoàn thiện hơn cả.
.2.1.2. Những văn bản phiên âm, chú giải tác phẩm Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập
Qua việc tìm hiểu những văn bản trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập đã được
phiên âm, chú giải, chúng tôi nhận thấy những điểm cơ bản sau:
Bản của Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm là văn bản có công khai phá, là một
công trình “vỡ hoang”. Hai ông có công rất lớn trong việc giới thiệu di sản thơ Nguyễn Trãi đến
với bạn đọc. Nhưng công trình vẫn còn để lại rất nhiều chữ, nhiều câu mà người kế tục phải ra
công giải quyết. Bản “Nguyễn Trãi toàn tập” do Đào Duy Anh phiên âm, chú giải, theo chúng tôi
là bản có độ tin cậy cao bởi được một người có kiến thức sâu rộng, am hiểu nhiều lĩnh vực toàn
tâm toàn lực thực hiện. Tuy nhiên, khi đối chiếu với các bản khác, chúng tôi thấy có chỗ vẫn
chưa thật hợp lý lắm, chưa đáp ứng được yêu cầu nghiêm túc của văn bản học, và vẫn chưa thể
thực sự yên tâm với sự phiên âm và chú giải trong ấy, nổi bật là vấn đề cứ liệu và hệ thống.
Bản của Hoàng Khôi là một bản phiên âm chú giải công phu, phần phiên âm, chú giải
Quốc âm thi tập khá kỹ lưỡng, đủ độ tin cậy để có thể tham khảo, sử dụng. Bản “Thơ quốc âm
của Nguyễn Trãi” - Bùi Văn Nguyên là một bản phiên âm, chú giải khá cụ thể của một chuyên
gia nghiên cứu và giảng dạy về tác phẩm văn chương của Nguyễn Trãi gần như trọn đời nên độ
tin cậy cũng khá cao. “Nguyễn Trãi thơ và đời” do Hoàng Xuân tuyển soạn là một bản sưu tập từ
các bản khác đã công bố vì vậy chỉ phục vụ mục đích tham khảo.
Bản “Nguyễn Trãi toàn tập tân biên” theo chúng tôi là một bản công phu, kết hợp
được không những trí tuệ của tập thể nhóm biên soạn với những hiểu biết sâu rộng mà còn tiếp
thu được trí tuệ, phương pháp của những bậc thầy đi trước, chú giải tỉ mỉ hơn, hoàn chỉnh hơn,
có sự so sánh nên phiên âm, chú giải hợp lý chính xác. Đây là một bản đáng tin cậy.
Vậy chúng tôi chủ yếu dựa vào hai bản phiên âm, chú giải: Bản của Đào Duy Anh và
bản của nhóm Mai Quốc Liên. Trong lúc thực hiện báo cáo, nếu có chỗ phiên âm và chú giải

những lúc đã hài lòng khi phát hiện ra rằng cuộc đời là đáng sống nếu như không đáng…ca
ngợi”.
Nhìn chung, những bài giới thiệu về Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập chủ yếu đưa
ra những nét chính về nội dung và nêu ra một số điểm nhỏ về nghệ thuật, chứ chưa đi sâu phân
tích toàn diện để rút ra những giá trị của tập thơ. Vì vậy, những bài giới thiệu đó chỉ có tính chất
“mở đường” và gợi ý.
.2.2.2. Những bài nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập
.2.2.2.1. Nghiên cứu về mặt nội dung
Nội dung của Quốc âm thi tập và Ức Trai thi tập có nhiều bài viết. Nổi bật là
những bài đề cập về con người Nguyễn Trãi. Đáng chú ý là các bài : “Một vài nét về con người
Nguyễn Trãi qua thơ Nôm” của Hoài Thanh; “Nguyễn Trãi, người đứng đầu một văn phái yêu
nước, thân dân, có lý tưởng xã hội cao cả” của Tầm Vu; “Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn
Trãi” của Nguyễn Huệ Chi; “con người Nguyễn Trãi qua thơ văn” của Nguyễn Huệ Chi; “Hồn
thơ đa dạng của Nguyễn Trãi” của Tế Hanh, “Vài nét về tư tưởng của Nguyễn Trãi qua thơ văn
ông” của Trần Thanh Mại; “Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi” của Trần Đình Sử;
“Nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ trong Quốc âm thi tập” của Trần Ngọc Vương; “Về con người cá
nhân trong thơ Nguyễn Trãi” của Nguyễn Hữu Sơn…
Con người cá nhân Nguyễn Trãi hiện lên qua cái nhìn của Hoài Thanh là con người
phần lớn sống trong cảnh đời không thuận, và “Hình như lúc này, nhà thơ thấy cần hơn lúc khác
một cách nói, một giọng nói tâm tình. Ta được gặp lại con người ấy, một con người rất đẹp, mà
gần gũi hơn, thân mật hơn”. Và từ đó, Hoài Thanh đi đến khái quát rất đúng về bản chất con
Đào Thị Diệu Linh

Trang 7


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

người Nguyễn Trãi là người có “ý thức trách nhiệm đối với dân, với nước. Ý thức ấy đã ra đời từ
rất sớm, đã lớn mạnh không ngừng, đã bền bỉ gắn với mọi suy nghĩ và hoạt động của ông cho

.2.3. Những công trình nghiên cứu về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi
Thơ viết về thiên nhiên là một mảng nổi bật được nhiều nhà nghiên cứu phê bình đề
cập đến. Tế Hanh với bài “Hồn thơ đa dạng của Nguyễn Trãi” đã chỉ ra hồn thơ của Nguyễn Trãi
là hồn thơ của tình yêu thiên nhiên và hồn thơ của tình yêu lứa đôi.
Xuân Diệu, một trong những người mở đầu cho việc nghiên cứu và tìm hiểu thơ viết
về thiên nhiên của Ức Trai đã nói về lòng yêu tạo vật của thi nhân: “ trong thơ Việt Nam chưa có
nhà thơ yêu mến thắm thiết thiên nhiên và có những vần thơ đẹp đẽ tinh vi và sâu sắc về thiên
nhiên cho bằng Nguyễn Trãi”.
Nguyễn Thiên Thụ - một nhà nghiên cứu ở miền Nam trước đây cũng có bài “Thiên
nhiên trong thơ Nguyễn Trãi”. Trong bài viết này tác giả rút ra “thiên nhiên là nguồn mỹ cảm”,
Đào Thị Diệu Linh

Trang 8


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

là “người bạn của thi nhân”, là “biểu tượng của chân - thiện - mỹ” trong thơ Nguyễn Trãi. Thiên
nhiên trong thơ Nguyễn Trãi theo Nguyễn Thiên Thụ, còn là một thiên nhiên “khoác những
chiếc áo màu thời gian”.
Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi còn biểu hiện ở cảm hứng các mùa. Cao
Hữu Lạng với bài “Thơ Nguyễn Trãi - mùa xuân và hoa” đã chỉ ra rằng: “Nguyễn Trãi như say
với mùa xuân. Xuân trong thơ Nguyễn Trãi nhiều tứ đẹp, ý hay”. Cũng lấy chủ đề mùa xuân,
Nguyễn Hữu Sơn có bài “ Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi” đã đưa ra nhận xét
khá sâu sắc rằng: “Trong thơ Nguyễn Trãi, mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của vẻ
đẹp hoàn mỹ, hoàn chỉnh, phổ biến”. Từ đó, ông phân tích độ phong phú trong cách cảm nhận
thời gian của Nguyễn Trãi một cách tinh tế. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu vào phân tích hình
tượng hoa, mà chỉ nhắc đến hình ảnh này một cách chung chung.
Việc đưa vào trong thơ những hình tượng thiên nhiên bình dị, dân dã của Nguyễn Trãi
cũng rất được lưu tâm và đánh giá cao trong việc cách tân, vượt ra khỏi những khuôn khổ, điều


Trang 9


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

Trân. Hai bài viết này đã thể hiện cái nhìn khái quát nhất về hình ảnh thiên nhiên trong thơ
Nguyễn Trãi và có một vài lần nhắc đến những câu thơ có hình tượng trăng và hoa. Tuy nhiên
với dung lượng của một bài tạp chí hai tác giả này cũng chỉ nói về thiên nhiên một cách chung
chung mà chưa đi sâu tìm hiểu xem thiên nhiên cụ thể trong thơ Nguyễn Trãi là những hình ảnh
nào? Nó mang những ý nghĩa gì? Và những loài hoa cụ thể mà Ức Trai hay đề cập đến trong thơ
của mình là gì? Nó có còn là những loài hoa mang tính ước lệ giống như trong thơ ca trung đại
nữa hay không? Ức Trai hay dùng từ “nguyệt” hay từ “trăng”? Dùng như vậy nó có dụng ý nghệ
thuật gì không? Đó là những vấn đề rất quan trong khi tiếp cận, lý giải về hai hình tượng biểu
trưng trăng và hoa mà người viết cần phải giải quyết.
Tác giả Cao Hữu Lạng trong bài viết “Thơ Nguyễn Trãi mùa xuân và hoa” có đề cập
đến từ “hoa” nhưng đó không phải là một loài hoa cụ thể nào mà đó là từ chỉ chung:
Đông phong từ hẹn tin xuân đến
Đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi.
( Xuân hoa tuyệt cú)
Trong bài viết này tác giả duy nhất đi sâu phân tích bài thơ “xuân hoa tuyệt cú” của
Nguyễn Trãi và cắt nghĩa nguyên nhân khiến hoa tươi tốt “đơm chồi trổ hoa, tô điểm cho vẻ đẹp
của thiên nhiên” trong thơ Nguyễn Trãi chính là khí tiết của mùa xuân mang lại. “Hoa” và “mùa
xuân” có mối quan hệ rất khăng khít trong thơ Nguyễn Trãi. Tác giả nhận định: “mùa xuân đem
hơi ấm trở về. Khí dương hòa của mùa xuân không oi ả, không lạnh lẽo, lại có sức kì diệu khiến
trăm hoa đua nở rực rỡ đẹp tươi. Muôn hoa tươi là biểu hiện của mùa xuân đẹp”. Đây chỉ là một
bài viết mang tính chất cảm thụ một bài thơ và chỉ đề cập đến một khía cạnh rất nhỏ trong hình
ảnh “hoa” vốn rất phong phú và đa dạng trong thơ Ức Trai.
Hoặc bài viết “Trăng trong thơ Nguyễn Trãi” của La Kim Liên cũng là một bài viết
hay, độc đáo sâu sắc về hình ảnh “trăng” trong thơ Nguyễn Trãi. Bài viết của tác giả La Kim

Trãi, người viết làm nổi bật những vấn đề sau :
.4.1. Tìm hiểu khái quát về đặc trưng thể loại thơ trung đại Việt Nam
.4.2. Khảo sát hệ thống hình tượng trăng và hoa trong thơ Nguyễn Trãi.
.4.3. Khái quát ý nghĩa nghệ thuật của hình tượng trăng và hoa trong thơ Nguyễn Trãi.
.4.3.1. Trăng là vẻ đẹp của thiên nhiên, là người bạn tri âm tri kỉ của thi nhân.
.4.3.2. Hoa vừa mang vẻ đẹp cao sang quyền quý, vừa mang vẻ đẹp bình dị, dân dã.
.4.4. Khái quát lên tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi, tư tưởng hành đạo nhập thế
của nhà thơ.
.5 Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát, tìm hiểu trên người viết muốn đưa ra một số những nhận xét khách
quan để làm nổi bật sự cách tân của Nguyễn Trãi trong cách xây dựng hình tượng “trăng” và
“hoa”, cũng như những thành công xuất sắc của nhà thơ về mặt nghệ thuật. Đồng thời, qua hai
hình tượng đó, chúng ta thấy được tình yêu thiên nhiên tha thiết của thi nhân, tâm hồn lãng mạn,
yêu đời, nhập thế của Nguyễn Trãi dù ông đang sống trong hoàn cảnh của một ẩn sĩ.
.6 Phạm vi nghiên cứu
Ngoài việc khảo sát, phân tích hình tượng trăng và hoa trong Ức Trai thi tập và Quốc âm
thi tập của Nguyễn Trãi, người viết còn đề cập đến hai hình tượng này trong văn học Việt Nam
nói chung và trong những tác phẩm văn học trước Nguyễn Trãi (Thơ Lý - Trần: Mãn Giác thiền
sư, Vạn Hạnh thiền sư, Trần Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi
Khanh) và sau Nguyễn Trãi (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Bà Huyện
Thanh Quan, Tú Xương, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh).
.7 Đối tượng khảo sát
− Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh giới thiệu và chú giải, (1976), Nxb Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội.
− Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Mai Quốc Liên - Kiều Thu Hoạch (chủ biên), (19992001), Nxb Văn học – trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội.
.8 Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp thống kê: khảo sát, thống kê những hình tượng trăng và hoa trong thơ
Nguyễn Trãi.
− Phương pháp phân loại: phân loại các cấp độ từ thấp đến cao của các hình ảnh này và
ý nghĩa của chúng.

PHẦN NỘI DUNG GIẢI PHÁP
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẶC TRƯNG
THỂ LOẠI THƠ TRỮ TÌNH TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
. I ĐẶC TRƯNG THI PHÁP THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Văn học Trung đại Việt Nam nói chung và Thơ trữ tình Trung đại nói riêng được ra đời
trong bối cảnh xã hội phongkiến phát triển. Nó phản ánh thực tế lịch sử xã hội phong kiến từ thế
kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Đặc biệt là những biến động của xã hội và thân phận con người. Chủ
đề xuyên suốt như sợi chỉ đỏ của thơ Trung đại Việt Nam là cảm hứng yêu nước và cảm hứng
nhân đạo. Các tác giả thơ Trung đại Việt Nam chủ yếu là những người có địa vị xã hội, có những
ảnh hưởng quan trọng cho sự phát triển của xã hội…Chính vì thế khi giảng dạy hoặc phân tích,
bình giảng cần phải chú ý đến các đặc điểm cơ bản sau :
− Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” : Vănchương phải chuyên chở đạo lý.
− Tính ước lệ, tượng trưng, quy phạm: Đây là đặc điểm nổi bật của văn thơ Trung đại.
Khi sáng tác, các tác giả thường vay mượn văn thi liệu điển cố, điển tích lấy từ sách vở Thánh
Hiền và kinh sách của các tôn giáo. Chẳng hạn nói đến cây và hoa thì tùng, trúc, cúc, mai, sen…
bởi chúng là những biểu tượng để chỉ những phẩm chất cốt cách, khí tiết của người quân tử, của
bậctrượng phu; nói đến con vật thì phải long, ly, quy, phượng ; nói đến người thì ngư, tiều, canh,
mục; nói đến hoa bốn mùa thì phải là xuân lan, thu cúc, hạ sen,đông sen; tả mỹ nhân thì làn thu
thủy, nét xuân sơn, tóc như mây, da như tuyết …
− Tính giáo huấn, bác học,cao quý, trang nhã: Đối tượng, mục đích của văn thơ chủ yếu
là đề cao thần quyền, cường quyền mang tính giáo hóa, giáohuấn con người với khuôn phép định
sẵn. Ngôn từ diễn đạt diễm lệ, tránh nói thô tục, nếu có thì dùng ngụ ý, ám chỉ chứ ít khi nói
thẳng…
− Cảm thức về thế giới con người thời Trung đại Việt Nam: Con người thấy mình trong
tự nhiên, với suy nghĩ trong vũ trụ có ta và trong ta có cả vũ trụ… Vì thế khi nói về trời đất, về
không gian, thời gian với nhiều cách thể hiện bằng nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau như thời
gian chu kỳ tuần hoàn,thời gian tuyến tính, thời gian vĩnh cửu, thời gian không gian được cảm
nhận bằng nhiều giác quan khác nhau…Cho nên con người khi bất đắc chí tìm về thiên nhiên, vũ
trụ như tìm về cội nguồn. Khi ngắm cảnh trời mây, họ cũng như mơ về nguồn cội. Người Trung
Quốc ý thức gia tộc, gia hương rất mạnh mẽ như Lý Bạch nhìn trăng mà nhớ đến quê nhà (Tĩnh

Ở bậc Trung học cơ sở, thơ Đường luật các em được học một số thể thơ như: ngũ ngôn, thất
ngôn với số dòng là tứ tuyệt, bát cú. Vậy, trước hết ta phải hướng dẫn học sinh nắm được đặc
điểm hình thức của thể thơ này.
.1 Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật:
− Thể thơ này, bài thơ có bốn dòng, mỗi dòng có năm chữ, vần ở cuối các câu một, hai,
bốn hoặc cuối câu hai, bốn.
− Xét về thanh điệu: tiếng thứ hai với thứ tư trong mỗi câu phải đối nhau và tiếng thứ
hai, thứ tư trong mỗi cặp câu cũng phải đối nhau. Nghĩa là trong một dòng, nếu tiếng thứ hai là
tiếng bằng thì tiếng thứ tư phải là tiếng trắc, và ngược lại nếu tiếng thứ hai là tiếng trắc thì tiếng
thứ tư phải là tiếng bằng.
.2 Thể thơ thất ngôn bát cú:
− Về số chữ trong câu, số câu trong bài: Bài thơ có tám câu, mỗi câu có bảy chữ.
− Về vần: Độc vận, vần chân ở cuối câu một và các câu chẵn và là vần bằng.
− Về đối: Hai câu thực và hai câu luận thường đối nhau. Có khi đối ngay ở hai câu đề và
trốn đối ở hai câu thực và hai câu luận.
− Về niêm: Niêm nghĩa là dính. Câu một niêm với câu tám, câu hai niêm với câu ba, câu
bốn niêm với câu năm, câu sáu niêm với câu bảy.
− Về luật: Theo hệ thống thanh ngang. Cho phép: “ Nhất tam ngũ bất luận” và buộc
phải: “ Nhị tứ lục phân minh”. Có luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.
.3 Thất ngôn tứ tuyệt:
− Là dạng rút gọn của thể thơ thất ngôn bát cú: gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ.
− Vần: Vần bằng và là vần chân ở câu một, hai, bốn; có khi chỉ ở câu hai và câu bốn.
KẾT CẤU CỦA CÁC THỂ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT VÀ THẤT NGÔN BÁT CÚ
Thất ngôn tứ tuyệt Thất ngôn bát cú
Mục đích
Phần 1
Khai
Đề
Giới thiệu tựa đề
Phần 2

THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRONG VIỆC KHAI THÁC
HÌNH TƯỢNG TRĂNG & HOA TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
. I NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TÍNH ĐẶC THÙ VÀ VAI TRÒ TÍCH CỨC CỦA PPDH
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI CỦA MÔN NGỮ VĂN
Trong bối cảnh mới của thời đại, đổi mới cách dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học là một yêu cầu bức thiết đối với người giáo viên, với nhà
trường và ngành giáo dục nói chung .
− Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động của chủ thể- tích cực nhận thức, có
khát vọng hiểu biết và không ngừng cố gắng cả về nghị lực và trí tuệ cao để chiếm lĩnh tri thức.
Tính tích cực trong học tập của học sinh bộc lộ ở khả năng: Hứng thú với học tập; tập trung chú
ý đến bài học; Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận…; có sáng tạo
trong học tập; thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; hiểu bài và có thể trình bày lại bài theo cách
hiểu của mình; biết vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn.
− Dạy học tích cực: Hoạt động nhằm tích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng
tạo của người học. Nó đem lại cho người học hứng thú, niềm vui học tập, nuôi dưỡng khát khao
sáng tạo cho người học.
− Dạy học theo đặc trưng thể loại vừa đáp ứng phương pháp đặc thù của bộ môn, vừa
truyền thống vừa, vừa hiện đại góp phần thúc đẩy tư duy tiếp cận, đọc hiểu văn bản cũng như kĩ
năng bộ môn; phát triển năng lực tự học tích cực, chủ động cho học sinh.
. II VẬN DỤNG PPDH THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRONG VIỆC TỰ KHAI
THÁC HÌNH TƯỢNG TRĂNG & HOA TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI
.1 Bước làm
.1.1. Với phần đọc văn bản
− Đọc thơ: Đọc thơ là để tạo tâm thế ban đầu cần thiết cho học sinh cũng chính là
bước đầu tiếp cận hình tượng thơ. Cần đọc cả bản phiên âm, dịch nghĩa (nếu có), dịch thơ
− Đọc diễn cảm là tạo điều kiện cho cảm xúc của học sinh được khởi động theo âmvang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật trữ tình, cái mà đọc bằng mắt
nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo lên sự đồng điệu về tâm hồn
để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả
.1.2. Với phần phân tích
− Cho học sinh tìm hiểu kĩ về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Dạy thơ trung

thơ). Một bài thơ có thể có một, hai “nhãn tự” cũng có thể không có “nhãn tự”.
− Khám phá các mối liên hệ giữa các yếu tố & ý nghĩa của chúng trong mối quan hệ
giữa hình tượng – tác phẩm – tác giả - thời đại..
− Từ đó đưa ra cái nhìn toàn diện, tổng thể, hệ thống về vị trí của tác gia văn học
Nguyễn Trãi
.2 Phần thể nghiệm tự nghiên cứu hình tượng trăng & hoa trong thơ Nguyễn Trãi, từ
đó đánh giá vị trí tác gia văn học Nguyễn Trãi
.2.1. Hình tượng Trăng trong thơ Nguyễn Trãi
.2.1.1. Vài nét khái quát về hình tượng trăng trong thơ Việt Nam
Trăng là một vẻ đẹp kì diệu và quyến rũ nhất của tự nhiên, là biểu tượng cho cỏi Đẹp và
nghệ thuật. Nó mang lại cho con người cảm giác mơ hồ, xa xăm, bay bổng, lóng mạn, trữ tỡnh.
Trăng với tất cả sự bí ẩn của mình đã lôi cuốn biết bao tâm hồn thi nhân say sưa với cái đẹp của
tạo hoá từ xưa đến nay. Trước Nguyễn Trãi trong dòng văn học Lý - Trần đã có một hệ thống các
bài thơ viết về hình ảnh trăng. Theo khảo sát của người viết, trong số 400 bài thơ Thiền Lý Trần thì có 50 lần hình tượng trăng xuất hiện, chiếm 12,5%. Trăng trong thơ Lý Trần gắn liền
với những quan niệm về sắc, không, chân, tâm - những điều cốt tủy của Thiền Tông. Cao hơn,
vầng trăng đã trở thành thứ ánh sáng trí tuệ, ánh sáng tâm linh của con người lúc giác ngộ. Nó
khai sáng tâm hồn con người, là cầu nối con người với vũ trụ và là thứ ánh sáng đẹp đẽ tỏa ra từ
tâm hồn con người đã đốn ngộ trong tu hành:
Tùng phong thủy nguyệt minh
Vô ảnh diệc vô hình
Sắc thân giá cá thị
Không không tầm hưởng thanh
(Gió trên cành thông, trăng sáng ở dưới nước
Không có bóng cũng không có hình
Sắc thân cũng như thế đó
Muốn tìm nó khác chi tìm tiếng vang ở trong khoảng không)
(Tầm hưởng - Tô Minh Trí)
Đào Thị Diệu Linh

Trang 17

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Như vậy, cú thể nói yêu trăng, say trăng và làm thơ về trăng là một thú vui tao nhã của
các bậc tao nhân mặc khách từ xưa đến nay.
.2.1.2. Hình tượng trăng trong thơ Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi cũng là một thi nhân, bởi vậy ông yêu trăng cũng là một lẽ tất nhiên. “Tình
bạn của Nguyễn Trãi với trăng được gắn bó từ khi ông cáo quan về ở ẩn. Trước đó cũng có đôi
lần ông nhắc đến trăng, nhưng chỉ tả nét đẹp của trăng thiên nhiên, trăng vời vợi trước sự
ngưỡng mộ của con người. Còn trăng giữa cảnh núi rừng tĩnh mịch, êm ả chỉ có tiếng chim kêu
vượn hót, tiếng suối rì rầm mang tư cách là một con người, hơn thế là một người bạn thân thiết,
người tin tưởng để nhà thơ có thể dốc bầu tâm sự, khiến cho tâm hồn thi nhân bớt đi nỗi u hoài,
ngột ngạt ở chốn triều đình. Trăng đến với ông khi trong lòng ông đầy ắp nỗi chán chường danh
vọng, ngán cảnh bon chen, xúc xiểm của quan quân trong triều. Chính ở Côn Sơn vắng lặng
Nguyễn Trãi mới có điều kiện nói thật, nói hết lòng mình. Và chỉ có tìm đến trăng, tấm lòng của
ông mới được thanh thản”
Hình tượng trăng trong hai tập thơ Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập xuất hiện khá
nhiều lần. Trăng trong Ức Trai thi tập có tất cả là 30 bài trên tổng số 99 bài thơ chữ Hán của cả
Đào Thị Diệu Linh

Trang 18


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

tập, chiếm khoảng 33%. Có thể nói đây là một số lượng khá lớn. Tuy nhiên, vì Ức Trai thi tập là
một tập thơ chữ Hán bởi vậy Nguyễn Trãi không sử dụng từ trăng mà viết là nguyệt. Nhưng dù
là từ trăng hay nguyệt thì nó cũng chỉ là một đối tượng mà thôi. Đó là một khách thể của tự
nhiên và đồng thời cũng là khách văn chương của thi nhân Nguyễn Trãi.
Còn hình tượng trăng trong Quốc âm thi tập xuất hiện với tất cả là 72 bài trên tổng số
254 bài của cả tập thơ, chiếm tỉ lệ là 28,3%. Tỉ lệ này cho thấy trăng xuất hiện trong Quốc âm
thi tập với số lượng không nhiều nhưng tần số xuất hiện của từ trăng trong tập thơ là rất lớn. Có

(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm)
Hay: Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then
(Thuật hứng - bài 24)

Đào Thị Diệu Linh

Trang 19


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016

Bức tranh thiên nhiên trong một đêm trăng vô cùng yên tĩnh, huyền hoặc, lãng mạn.
Không gian mở rộng như đến tận cùng với mênh mông của mặt sông. Ánh sáng hư huyền của
trăng chiếu khắp cây cỏ mặt sóng giống như khói. Càng về khuya khói sóng càng dềnh lên, nhiều
lên cùng với ánh trăng. Đây giống như một bức tranh thuỷ mặc nơi bờ sông bến nước, mà trung
tâm của bức tranh chính là hình ảnh bất tận tuyệt đẹp của trăng. Gió trăng chất thành một kho
đầy vượt qua cả giới hạn của con thuyền thơ chật hẹp. Khói sóng làm cong cả con thuyền chở thi
nhân. Cảnh thiên nhiên trăng gió thật đẹp bày ra trước con mắt hữu tình của nhà thơ. Người đọc
có cảm giác Nguyễn Trãi giống như một ông ngư nhàn tản, thảnh thơi ngắm cảnh sau một ngày
lao động vất vả. Cảm nhận của Nguyễn Trãi vô cùng phong phú tinh tế gợi ra mỹ cảm đẹp đẽ
cho người đọc.
Tuy nhiên Nguyễn Trãi không chỉ miêu tả vẻ đẹp của trăng đơn thuần là vẻ đẹp của tự
nhiên nhằm gợi hứng cho con người mà bản thân nó đã mang sẵn cái thần, cái tình:
Thần phù hải khẩu dạ trung qua
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà
Thần phù vượt cửa giữa đêm thanh
Gió mát trăng trong biết máy tình
(Quá Thần Phù hải khẩu)
Việc vượt biển vốn rất vất vả khó khăn nguy hiểm. Con người thường sẽ rất mệt nhọc và


( Ngôn chí- bài 13)
Hay :
Thơ nên cửa thấy nguyệt vào!
( Mạn thuật - bài 13 )
Hình ảnh nguyệt làm cho câu thơ của Nguyễn Trãi thêm tình tứ, ý vị. Khi tứ thơ chưa đến
với mình thì không sao, nhưng khi tứ thơ đã đến rồi, câu thơ đã thành rồi, thì tự nhiên ở cửa thấy
trăng đi vào. Trăng thường trực trong từng ý thơ gợi cảm hứng sáng tác cho thi nhân.
Trong cảm nhận tinh tế của Nguyễn Trãi trăng lung linh rực rỡ hơn khi được soi chiếu
vào ánh nước:
Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh
Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng
(Trăng dầm nước biếc ngọc nghìn khoảnh
Mây kéo gậy tiên trời chín trùng)
(Thượng nguyên hỗ giá chu trung tác)
Hoặc trong một bài thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng viết một ý tương tự:
Nguyệt trong đáy nước nguyệt trên không
Xem ắt lắm, một thức cùng
Hình ảnh trăng dầm nước hay nguyệt trong đáy nước thật là đẹp! Trăng thực đấy nhưng
soi chiếu xuống ánh nước đã trở nên hư ảo, lung linh hơn gấp bội phần. Vẻ đẹp của trăng được
tăng lên gấp bội khi được dầm trong ánh nước đêm trong vắt. Trăng soi chiếu xuống tận đáy
nước như muốn làm một cuộc hành trình khám phá tìm hiểu và in bóng của mình. Thiên nhiên
hoà hợp, quấn quýt vào nhau như hình với bóng. Con người đứng trước cảnh đẹp đó cũng không
khỏi xuyến xao, ngỡ ngàng “Xem ắt lắm, một thức cùng”.
Không chỉ có vậy , Nguyễn Trãi còn viết những câu thơ tuyệt diệu khác về sự quấn quýt
giữa trăng và nước. Chỉ tính riêng trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, thì hình ảnh trăng
trong nước đã chiếm tới 12 bài, chiếm khoảng 4,8%. Trong số đó, có những câu thơ như:
Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn ( Ngôn chí - bài 20)
Thuyền chèo đêm nguyệt sông biếc ( Ngôn chí - bài 21)
Có khi vì tiếc bóng trăng trong nước quá đẹp mà Nguyễn Trãi không nỡ phá vỡ nó:

Thời gian làm nổi bật lên tâm trạng của con người. Cái vĩnh cửu làm nền cho sự thay
đổi, sự đảo điên của lòng người. Trăng chính là biểu tượng cho thời gian ngắn ngủi, vô thường:
Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành
Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình
(Thơ tiếc cảnh - bài 4)
Thoi nhật nguyệt đưa qua mấy phút
Áng phồn hoa họp mấy trăm đời
(Tự thán - bài 15)
Nhà thơ tiếc cho tuổi trẻ, thấy được sự hữu hạn của kiếp người, nuối tiếc trước thời
gian. Các bình diện thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai như xóa nhòa trong hình ảnh trăng.
Ta chỉ thấy được khoảnh khắc xuất hiện của trăng mà thôi. Có lúc trăng như hiện hữu từ quá
khứ: “Đêm thanh nguyệt hiện ngoài hiên trúc” dẫu là quá khứ không xa và trong cả tương lai
nhưng tương lai không xác định: “Ngòi thuở triều cường chờ nguyệt mọc”. Ta không thể xác
định được thời gian một cách cụ thể mà chỉ có thể cảm nhận trăng trong những thời điểm của
thời gian.
Thể hiện thời gian qua một hình tượng của không gian là một nét đặc sắc trong thơ
Nguyễn Trãi. Trăng chính là những năm tháng chảy trôi của cuộc đời nhà thơ:
Cát ông nhất khứ kim thiên tải
Đơn táo hàn yên tuế nguyệt xa
( Cát ông đi biệt đà lâu lắm
Khói lạnh lò đơn, ngày tháng xa)
( Hoạ hữu nhân yên hà ngụ hứng - bài 2 )
Thời gian trôi qua thật vô tình, khiến Nguyễn Trãi thở dài:
Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch
Quân thân tại niệm thốn tâm đan
(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm)
Hay:
Hồ sơn hữu ước vi sơ chí
Tuế nguyệt như lưu mạn thử sinh
(Bình nam dạ bạc)

trăng luôn theo sát Nguyễn Trãi trong suốt cuộc đời của ông. Ngay từ khi chưa thành công, trăng
đã có mặt bên cạnh nhà thơ để chia sẻ nỗi niềm tâm sự trong những đêm không ngủ khi lo cho
vận nước:
Mãn giang hà xứ hưởng đông đinh
Dạ nguyệt thiên kinh cửu khách tình
(Khắp sông đâu đấy nện thình thình
Đất khách trăng khuya bỗng giật mình)
( Thôn xá thu châm )
Tiếng chày đập vải, tiếng châm, trăng thu là ước lệ quen thuộc của văn học cổ khi nói về
mùa thu của đất nước Trung Hoa. Bởi vậy, Nguyễn Trãi cũng dùng những ước lệ đó để nói về
cái sự lẻ loi, đơn độc của vầng trăng thu hay cũng chính là tâm trạng, hình ảnh của mình nơi đất
khách. Âm thanh tiếng chày đập vải đã làm náo động cả không gian đem vắng tĩnh mịch, khiến
ánh trăng thu trên cao cũng giật mình. Đó phải chăng cũng chính là cái giật mình thảng thốt, ngỡ
ngàng của Nguyễn Trãi khi nghĩ về bản thân, về vận mệnh dân tộc đất nước.
Tuy nhiên, trăng không chỉ đến với Nguyễn Trãi vào những đêm không ngủ vì lo bận
việc nước, mà còn chia sẻ với thi nhân cả những niềm vui:
Dốc thanh vạn lý khê sơn nguyệt
Kỳ cước thiên nham thảo mộc phong
( Hạ tiệp)
Trăng ở chốn rừng núi hoang sơ vẫn kiêu hãnh với tất cả vẻ đẹp rực rỡ của mình trong
ngày thắng trận của đại quân Lam Sơn. Hai câu thơ phấp phới, tươi vui với âm điệu mạnh mẽ,
Đào Thị Diệu Linh

Trang 23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status