Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chính phủ Australia
AusAID
Bản báo cáo tiến độ thực hiện dự án
“Phát triển và ứng dụng những tiến bộ khoa học mới phù hợp nhằm
nâng cao hiệu
quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông
dân tại các tỉnh miền trung Việt Nam” (009/VIE05)
Tiêu đề hoạt động
Dự án cải thiện hệ thống chăn nuôi dê Australia - Việt Nam (2006-2009)
MS5: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ 3 (T1-T6/2007)
Ngày 31 tháng 07 năm 2007
GS. TS. B.W. Norton (UQ), PGS.TS. Đinh Văn Bình ( GRRC)
và TS Nguyễn Thị Mùi (NIAH)
Đàn dê Bách Thảo khỏe mạnh tại tỉnh Ninh Thuận (3/2007)
1
Nội dung
1. Thông tin chung…. 3
2. Tóm tắt Dự án 4
3.Tóm tắt việc thực hiện Dự án 4
4. Đặt vấn đề và bối cảnh của Dự án. 5
5. Tiến độ hiện tại 8
5.1. Nét nổi bật trong hoạt động của Dự án 9
Đơn vị phía Australia
Trường Đại học Queensland
Chuyên gia phía Australia
TS. Barry W. Norton
Thời gian bắt đầu
01/4/2006
Thời gian kết thúc
31/3/2009
Thời gian tổng kết
31/3/2009
Thời gian báo cáo
Từ 01/ 1 đến 01/06/ 2007
Địa chỉ liên hệ
Phía Australia: ĐT: 61733651102
Tên: TS. Barry W. Norton 61732890260 (AH)
Vị trí: Cố vấn kỹ thuật Fax: 61732890103
Đơn vị: Trường Đại học Queensland Email: [email protected]
Phía Australia:
Tên: Ông Kerry Johnston ĐT: 61733657493
Vị trí: Quản lý Hành chính nghiên cứu Fax: 61733654455
Đơn vị: Trường Đại học Queensland Email:
Phía Việt Nam
Tên: PGS. TS. Đinh Văn Bình ĐT: 8434838341
trang được lựa chọn làm nông trang trinh diễn, tại đây các buổi tập huấn được tổ chức với
sự tham gia của nông dân và các cán bộ cấp tỉnh. Mọi chi phí thanh toán giữa trường
Queensland và TT Nghiên cứu Dê Thỏ Sơn Tây đã được giải quyết. Trận bùng nổ
dịch
Đậu mùa Dê ở khu vực miền Nam đang trở thành mục tiêu cho áp dụng công nghệ của dự
án.
3. Tóm tắt quá trình thực hiện dự án
Bản báo cáo sau đây đưa ra những thông tin về các hoạt động ban đầu của dự án CARD
“Phát triển và ứng dụng những tiến bộ khoa học mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả
trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh Miền Trung Việt
Nam” (009/VIE05) trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6/2007. Trong thời gian
này, TS Norton đã đến thăm Việt Nam (4-17/3/2007) để kiểm tra các nông trang trong dự
án, đánh giá tiến triển dự án và thảo luậ
n với TS Đinh Văn Bình và TS Nguyễn Thị Mùi -
Điều phối viên dự án- về quản lý dự án. Những gợi ý trong bản báo cáo này đã được thực
hiện trong thời gian tháng 5-6 với những kết quả sau. Chuồng trại dê của tất cả các nông
trang nằm trong dự án đều được nâng cấp. Đối với dê của các nông trang này, chúng đều
được tiêm vắc –xin phòng các dịch bệnh như đậu mùa dê, đường ruột và lở mồm long
móng; xử
lý kiểm soát các loại ký sinh trong và ngoài ở dê; và được đánh dấu và phân
loại (theo giới, theo tuổi, và theo tình trạng sinh đẻ). Đa phần các nông trang đều có khu
vực trồng cỏ khô thức ăn cho dê. Trong tổng số 27 nông trang thuộc dự án thì có 17 nông
trang đã khoanh vùng trồng cỏ thành công và công tác này vẫn được tiếp tục phát huy
4
song thực tế cho thấy đây quả là một khó khăn. 6 nông trang được lựa chọn làm nông
trang trình diễn, trong đó 3 nông trang ở Ninh Thuận, 2 ở Bình Thuận và 1 ở Lâm Đồng.
Đồng thời, các cuộc hội thảo cũng được diễn ra vào tháng 6/2007 nhằm cung cấp những
thông tin lợi ích cho nông dân địa phương, cán bộ Sở NN và các cán bộ cấp xã. Các buổi
hướng dẫn này đều do TS Đinh Văn Bình, Nguyễn Thị Mùi và cán bộ TT nghiên cứu dê
hoạt động này cho cộng đồng lớn hơn sẽ được tiến hành thông qua việc tổ chức các cuộc
thăm quan, hội thảo cho người dân địa phương tới những hộ nông dân đã tham gia vào dự
án. Báo cáo dướ
i đây mô tả những kết quả của lần thứ nhất thăm chính thức Việt Nam
trong khoảng thời gian chiến lược cho việc thực hiện và quản lý dự án được tiến hành,
cũng như nắm bắt được tiến độ thực hiện dự án theo thời gian trong mục tiêu của dự án
cần hoàn thành và kế hoạch cho các hoạt động giai đoạn 06 tháng tiếp theo.
Mục tiêu và đầu ra của d
ự án: Dự án được đề xuất với 07 mục tiêu và được thực hiện
trong vòng 03 năm 2006-2009. Bao gồm:
1. Xác định và phân loại đặc điểm của những hộ mục tiêu
2. Đào tạo và cung cấp thông tin
3. Phát triển xây dựng chuồng trại và cách thức chăm sóc sức khoẻ cho dê.
4. Nâng cao số lượng và chất lượng thức ăn và các loại cỏ khô cho dê
5
5. Cung cấp dê đực giống Bách Thảo
6. Xác định hiệu quả kinh tế của việc tác động những biện pháp kỹ thuật mới
tới năng suất chăn nuôi dê.
7. Hỗ trợ các phương tiện hình thành xưởng chế biến thịt dê cừu quy mô nhỏ
tại Trạm Nghiên cứu Dê-Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận
Trong mỗi mục tiêu của dự án đều có một chuỗi các hoạ
t động gắn liền với những đầu ra
mong muốn, những kế hoạch này được trình bày ở CD phụ lục 1 (Mục 1: Phạm vi thực
hiện) và ở CD phụ lục 2 (Bảng mô tả các sự kiện và Khung Logic dự án), tương tự ở
bảng 3.1 trong bản Đề cương Dự án Cuối cùng đã được CARD thông qua thực hiện.
Ngoại trừ mục tiêu 7, một số phần hoặc là tất cả nh
ững mục tiêu trên đã được thực hiện
trong giai đoạn 06 tháng đầu tiên này.
Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
riêng lẻ (ví dụ như chỉ tiến hành điều trị bệnh cho dê). Ph
ương pháp tiếp cận này được áp
dụng thành công tại các tỉnh Miền Bắc Việt Nam và mong muốn sẽ cung cấp và nâng cao
nhanh chóng khả năng sản xuất các hệ thống tương tự tại Miền Trung Việt Nam. Một
6
sáng kiến mới khá quan trọng cho dự án này là hỗ trợ xây dựng xưởng chế biến thịt dê tại
Trạm Nghiên cứu Dê Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận.
Sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ và các đơn vị hỗ trợ sẽ được nâng cấp bởi một chương
trình đào tạo toàn diện. Trước hết là tập huấn cho các cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn tại TT Nghiên cứu Dê và Th
ỏ Sơn Tâyvà tạo điều kiện cho họ liên kết
với những nhà kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây. Sau đó là sử
dụng những cán bộ Sở đã được đào tạo để đào tạo lại cho các cán bộ huyện, các hộ nông
dân tham gia và người dân địa phương thông qua tài liệu viết, các cuộc hội thảo và
chuyến thăm quan mô hình thực tế. Cách tiếp cận này sẽ xây dự
ng năng lực cho các cộng
tác viên Australia, kỹ thuật viên của TT Nghiên cứư Dê Thỏ Sơn Tây và nông dân, và từ
đó họ làm việc thành các nhóm có tính liên kết kỷ luật với nhau và thúc đẩy nhiều hơn
nữa cách tiếp cận tổng thể nhằm nâng cao sản xuất nông nghiệp và vật nuôi ở những
vùng nông thôn nghèo thuộc các tỉnh Miền Trung Việt Nam. Sự đóng góp của phía đối
tác Australia sẽ mở rộng hơn thông qua các hoạt động tham gia của TS. Norton vào các
vấ
n đề liên quan đến phát triển và áp dụng biện pháp kỹ thuật mới, và sẽ được bổ sung
bằng chuyến thăm quan của 05 kỹ thuật viên Việt Nam có thâm niên tới Australia để
thăm quan mô hình chăn nuôi dê, các xưởng chế biến thịt, sữa, cũng như xem các hệ
thống lưu giữ giống cây lấy ngọn lá làm thức ăn cho dê.
Những chương trình đào tạo sẽ có như là mục đích chủ yếu chu
ẩn bị các nội dung cho sự
truyền đạt tới các hộ nông dân tham gia và các nông dân khác của những biện pháp kỹ
trình thí nghiệm là cần thiết, và tất cả nông dân sẽ được hướng dẫn và được ủng hộ của
địa phương (làng xã, huyện) và sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc thực
hiện những tất cả các chiến lược theo kế hoạch.
Phương pháp nghiên cứu. Thành phần chính của dự án này là sự xác định những nguồn
sẵn có trong các hộ nông dân được chọn, từ những thông tin này chiến lược quản lý và
can thiệp sẽ được phát triển bởi các cán bộ dự án để chiến thắng được những hạn chế
nhận định thấy để nâng cao khả năng sản xuất. Do đó hoạt động đầu tiên của dự án sẽ là
tiến hành điều tra ở mỗi nông hộ đê được cung cấp những nguồn thông tin như trên, và
sau đó những thông tin này sẽ phản ánh trở lại những lĩ
nh vực cần được xác định. Nhóm
cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm từ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và
Australia sẽ vạch ra những chiến lược phát triển cho mỗi nông hộ tuỳ thuộc vào hoàn
cảnh của họ. Trong một số trường hợp, một chiến lược phát triển có thể áp dụng cho tất
cả các hộ tham gia dự án (thay thế đực, cải tiến chuồng trại, cung cấp vacxin, thuốc và
hướ
ng dẫn cách sử dụng), trong một số trường hợp khác, một chiến lược có thể chỉ được
áp dụng cho một hộ nông dân (nâng cao thức ăn và các loại thức ăn bổ sung). Điều này
được nhận ra rằng, kinh nghiệm truyền thống về nguồn thức ăn và các biện pháp điều trị
bệnh cần được đánh giá và kết hợp theo những chiều hướng có thể thực hi
ện được.
5. Tiến độ thực hiện
Tiến độ được triển khai trong giai đoạn từ tháng 01 đến 6 năm 2007 sẽ được báo cáo
những việc triển khai nổi bật (5.1) theo công việc được hướng dẫn tại Khung hoạt động
của dự án cung cấp những hạng mục kết quả được xác minh theo kế hoạch thực hiện. Đầu
ra thứ nhất. Đầu ra Sự kiện 5 liên quan tới báo cáo này được trình bày ở bảng các sự
ki
ện, phụ lục 1của mục lục 2, phạm vi hoạt động dự án CARD 009/05 VIE được liệt kê ở
tham khảo khung hoạt động (Đầu ra 2.4) với phần mô tả giống như bản báo cáo 6 tháng
thường niên lần thứ 3 (phụ lục 1 và 2). Trong giai đoạn này, việc trả lại 33.221 đôla Úc
cho trường ĐH Queensland sẽ được thực hiện. Bằng chứng cho mọi hoạt động đã tiến
“công tác phối giống cho năng suất cao”để từ đó tổng hợp thành một tài liệu hoàn chỉnh
vào giai đoạn cuối của dự án bao gồm kết quả cuối cùng của việ
c cải tổ công nghệ phối
giống và điều kiện sinh sống của những người dân chăn nuôi dê ở những khu vực này.
Các hoạt động còn lại trong mục tiêu 1 (đầu ra 1.3) sẽ được tiến hành trong năm thứ 3
vào thời điểm thích hợp.
Mục tiêu 2. Đào tạo và truyền bá thông tin
Đầu ra 2.1:Đào tạo cho cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Trung tâm
Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, đã đượ
c báo cáo trong bản báo cáo 06 thường niên lần
thứ nhất.
Đầu ra 2.2: Chuẩn bị những hoạt động tham quan mô hình và tài liệu cho những hộ
tham gia dự án đã hoàn thành một số phần (xem mục sau về Đầu ra 2.5 and 2.7 trong
bản báo cáo này) và sẽ được tiếp tục tiến hành những phần còn lại của dự án.
Đầu ra 2.3: Tập huấn cho các nông dân tham gia áp ứng dụng công nghệ mới hiện
vẫn đang diễn ra cùng với việc theo dõi tiến
độ của từng nông trang. Đĩa CD phụ lục 3
mô tả cụ thể hoạt động và những gợi ý của từng nông trang sau tháng 3/2007 do TS Nổtn
và cán bộ TT Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây giám sát. Đĩa CD phụ lục 4 bao gồm báo
cáo tháng 6 về kết quả thực hiện gợi ý của tháng 3. Bên cạnh đề cập về quá trình tiến độ
của mỗi nông trang, bản báo cáo cũng đưa ra một số kết luận chung căn cứ vào nhữ
ng
mục tiêu liên quan.
Hoạt động tập huấn cho nông dân được xem là một công cụ hữu hiệu mô tả lợi thế tiềm
năng về công nghệ hiện đại trong việc phối giống dê, quản lý nguồn thức ăn và sức khoẻ
cho dê. Sau khi tiếp thu những bài giảng, nông dân tham gia được tham quan nông trang
trình diễn, do đó nông dân tham gia sẽ có cái nhìn rộng hơn về cơ hội phát triển ngành
chăn nuôi dê tại nông trang của mình. Nông dân đều hiểu rằng vi
ệc thiết lập khu trồng cỏ
cho dê là quan trọng bởi đó là nguồn cung cấp dinh dưỡng và an toàn cho dê. Ngoài ra,
cho dê; 5. Quản lý sản xuất dê tại nông trang. Chi tiết của các bài giảng được chỉ ra rõ
trong các cuốn sách phân phát cho người tham gia. Bìa của những cuốn sách này sẽ được
trình bày trong các đĩa CD phụ lục 7,8,9, và 10. Các bài giảng này được trình bày bằng
tiếng Việt song vẫn chưa được dịch sang tiếng Anh. Phiên bản cứng của các bài giảng
này được cất giữ tại TT Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây. Giả
ng viên chủ yếu là chủ yếu
là cán bộ TT, với phụ trách chính là TS Mùi và TS Bình. Đĩa CD 5 sẽ trình bày chi tiết
hơn về kế hoạch và phân phối bài giảng.
Đầu ra 2.6 Chuyến thăm quan tập huấn hệ thống và công nghệ chăn nuôi dê tại
Australia nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi dê ở Việt Nam
10
Theo kế hoạch, lẽ ra có 5 cán bộ Việt Nam được chấp nhận tham gia vào khóa tập huấn
tại trường Queensland trong tháng 8 năm 2007. Tuy nhiên, đã xảy ra một số vấn đề nhất
định trong công tác tổ chức chuyến đi. Trước hết là nhiều nông dân đã liên lạc trước đó
trong năm để bán dê hoặc chỉ để lại một số con sau khi trận hạn hán diễn ra ở khu vực
Đông Nam Châu Úc trong 2 năm. Thứ hai, TS Norton không th
ể xin được giấy phép
chính thức từ các cán bộ cao cấp Wallagarang và Charleville cho chuyến thăm quan nơi
sản xuất thị dê tại Queensland, nguyên nhân là vì lý do “bí mật thương mại”. TS Norton
cho rằng chuyến thăm quan các thiết bị giết mổ là yếu tố quan trọng để chuẩn bị cho
bước tiếp theo để xây dựng cơ sở thương mại thịt dê tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên,
sau đó, cơ sở tham quan mới cũng được liên h
ệ và đồng ý, song lúc đó cũng quá muộn để
chuẩn bị cho chuyến đi. Hiện nay chuyến đi đã được chuyển sang tháng 4/2008, trong
chuyến đi sẽ bao gồm cả nông trang chăn nuôi dê cung cấp lấy thịt, len và sản phẩm sữa,
đồng thời cả những hệ thống quản lý đồng cỏ tại Úc. Vấn đề này sẽ được thảo luận cụ thể
làm và được làm khi nào. Do đó, có thể ghi trong bản báo cáo tháng 6 là tất cả số dê đều
được xác định (bằng đánh dấu ở tai) và tiêm vacxin thích hợp. Bệnh Đậu mùa dê hiện
được xem là bệnh dễ lây nhiễm nhất ở khu vực miền nam Việt Nam, và nạn dịch đã bùng
11
nổ vào tháng 5-6, gây ra tỷ lệ chết ở dê cao đối đặc biệt đối với dê không được tiêm
vacxin. Tuy nhiên đàn dê dự án trong thời gian này không bị nhiễm dịch bệnh do được áp
dụng chương trình tiêm vacxin quốc gia phòng bệnh Đậu dê ở cừu và dê. Tuy nhiên, dịch
bệnh lở mồm vẫn đang tiếp tục hoành hành ở dê con khi chuồng trại không được vệ sinh
hợp lý, vấn đề này sẽ được thảo luận cụ th
ể trong 6 tháng sắp tới. Thực tế cho thấy tất cả
các chuồng trại dê được xây gần chuồng trại con giống khác có nguy cơ mắc nhiều dịch
bệnh hơn. Phương pháp đơn giản là cách ly hoặc tiêm vacxin cho dê con.
Tình trạng đẻ non và chết ở dê Phụ lục 6 chỉ ra những con số thống kê chung về đàn dê
trong nghiên cứu. Trong khi số lượng đầu dê tăng song tỷ lệ chết non ở dê cũng gia tăng,
hiện tượng này đã được ghi nhận do GRRC (xem phụ lục bảng 7) Tuy nhiên, có một số
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, ví dụ dịch bệnh, ở một số yếu tố khác. Điều này sẽ
được điều tra rõ hơn sau này. Cũng lưu ý rằng tỷ lệ chết ở dê mới sinh cũng cao, điều này
có thể thấy rằng do tình trạng suy dinh dưỡng của dê cái dẫn đến lượng s
ữa còn hạn chế.
Cần phải nhấn mạnh trong các cuộc thảo luận với nông dân rằng việc cung cấp đủ dinh
dưỡng cho dê cái là chìa khóa dẫn đến thành cong trong việc nâng cao năng suất trong
chăn nuôi dê. Có hai điều cần phải lưu ý: một là cung cấp thức ăn khô cho dê cái trong
mùa khô hoặc kéo dài khoảng cách thời gian sinh đẻ bằng cách chỉ đẻ một năm một lần.
Mặc dù người dân Việt Nam cho rằng sinh sản tự do là cách th
ức phổ biến đối với dê
Việt Nam song theo tôi nếu để dê sinh sản theo cách thức đó số dê chết non cao hơn là
chỉ để dê sinh sản 2 lần trong một năm. Rõ ràng ở miền Nam dê sinh đẻ vào mùa mưa tổt
nhất (tháng 11 và tháng 12), bởi lẽ lúc này là thời điểm mà dê cái được cung cấp đủ dinh
dưỡng hơn cả. Dê con được sinh ra vào thời điểm mùa lạnh sẽ được cai sữa vào tháng 4
t số chiến lược nhất định. Sau mùa khô, những dữ liệu
đã được thu thập chỉ ra rằng: 7 loại cỏ khô bao gồm Pennisetum purpureum
(Kingrass), Panicum Maximum CV58, Signal grass (Brachiaria decumbens), Ruzi
grass (Brachiaria ruzisinensis), Plus/CIAT 184 Stylo (Stylosanthes hamata),
Leucaena K636 (L. Leucocephala cv K636) và Flemingia đang hứa hẹn là loại cỏ khô
tốt cho dự án. Nhiều nông trang yêu cầu dự án cung cấp hạt giống. hạt cỏ stylo đang
được sản xuất tại một số trang trại và được bán cho các nông trang khác trong địa
phương. Một s
ố chiến lược mới được tiến sỉ Gutteridge gợi ý trong bản báo của ông.
ví dụ như, ban đầu những chiếc túi này sẽ được dùng để cất giữ cỏ khô sử dụng cho
mùa khô nhưng sau đó có thể tận dụng những cái túi này để ủ silô. Tại các cuộc họp trước dó, mỗi một nông trang trình diễn được cung cấp một máy cắt cỏ
và trong giai đoạn này, 4 nông dân tham gia sẽ đoợc cung câps máy cắt cỏ. Mô hiìnhnày
an toàn hoơ môi hình ở mieềnBắc. Ba máy được mua và trở từ Hà Nôi đến Ninh Thụan
và một mayd được mua ngay gại Ninh Thuận. Chiêdc máy này đoợc cung cấp cho Anh
13
Hoa và anhd đã được TS Mùi chỉ dẫn cẩn thận cách cắt các loại cỏ khác nhau. Sau khi có
tiến triẻn tốt, dự án sẽ cung cấp thêm máy cắt cỏ cho một số nông trang khác
Mục tiêu 5. Cung cấp dê đực giống Bách Thảo
Lý do chính của mục tiêu này là hầu hết các nông trang đều cho phối giống dê đồng
huyết. Hầu hết các trang trại đều sử dụng cùng một loại dê đực để phối giống trong 5-7
năm. Theo kế hoạch, các dê đực tại các nông trang dự án đã thay bằng những con dê đực
ít tháng tuổi hơn trong tháng 6/2007 miễn sao những con dê đực đang sử dụng để phối
giống không
được dùng lại tại nông trang đó. Công tác thay de đực đều được các cán bộ
Hoa, Hung và Long thực hiện. Tính đến nay, hầu như các con đực đã được thay thế. Tất
ẽ so sánh lợi ích kinh tế trước và sau khi áp dụng
công nghệ mới.
5.2. Lợi ích của các nông hộ
Lợi ích của các nông hộ chăn nuôi dê ở các tỉnh miền Trung Việt Nam là rất rõ ràng. Dê
của họ được cung cấp vacxin, thuốc điều trị bệnh, tỷ lệ chết do đó đã giảm rõ rệt, tăng
trọng nhanh hơn, do đó người dân có nhiều dê hơn để bán giống hay bán thịt. Cải tạo
chuồng trại cho dê từ đó đã làm trong sạch môi trường sống cho cả người và gia súc, và
nguồn phân thu gom
được có thể sử dụng để bón cho cây trồng và đồng cỏ. Rất nhiều
nông dân đã ngạc nhiên rằng họ đã thu được rất nhiều phân từ sau khi cải tạo chuồng trại.
Họ cũng được cung cấp những con dê đực khoẻ mạnh để phối giống cho đàn dê cái.
Người dân cũng nhận thấy việc cung cấp các giống cỏ là hết sức cần thiết vì họ nhận ra
rằng dê của họ cũng cần có các loại thức ăn có chất lượng trong mùa khô. Trong 6 tháng
qua, nạn dịch bệnh đậu mùa dê đã bùng phát ở khu vực miền Nam Việt Nam và nhiều
nông dân chăn nuôi dê đã mất vật nuôi và phải chịu một mức giá thấp. Tuy nhiên, nông
dân trong dự án đã được bảo vệ khỏi nạn dịch này và đây là một dấu hiệu khả quan cho
việc phát triển chăn nuôi dê ở miền Nam trong tương lai.
5.3. Nâng cao năng lực
Trọng điểm chính của dự án trong giai đoạn này là đào tạo cho các cán bộ dự án thuộc
các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm
Đồng về cách chăn nuôi dê và quản lý chúng, trong cách chỉ đạo điều tra, chuyên môn để
hoạt động như là những nhà chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi dê. 14 cán bộ các sở
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tham gia vào lớp đào tạo tại Trung tâm Nghiên cứu
Dê và Thỏ Sơn Tây đã có vai trò quan trọng trong
đó việc lựa chọn các hộ tham gia dự
án, một cán bộ sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, một cán bộ địa phương, một chủ
tịch xã đã tham gia vào suốt quá trình hoạt động của dự án từ khi phỏng vấn đến khi áp
dụng, điều này có tác dụng trong việc tận dụng những kiến thức của họ với hoạt động của
dự án và các biện pháp kỹ thuật mớ
i sẽ được áp dụng tuỳ thuộc vào mỗi vùng khác nhau.
đưa ra của TS Norton nhiều lúc không được đề cập. Vì vậy đòi hỏi cần phải thường
xuyên tổ chức các chuyến thăm quan hoặc liên lạc giữa các đối tác nhằm đem lại những
kết quả tốt hơn cho dự án. Hệ thống thư từ chuyển đến TT Nghiên cứư Dê Thỏ
Sơn Tây
còn hạn chế, tất cả số thư đến nay đều bị thất lạc. Vì dung lượng của các bản báo cáo quá
lớn để chuyển bằng đường điện tử vì vậy TS Bình cần phải mở một địa chỉ bưu điện ở Hà
Nội để tạo điều kiện cho việc vận chuyển. Việc viết báo cáo cũng khó khăn đặc biệ
t là
công tác dịch từ Anh sang Việt hay ngược lại.
6. Báo cáo các vấn đề liên quan
6.1 Môi trường
Trong quá trình thực thi các hoạt động dự án, một số vấn đề về môi trường đã gặp phải
như khu vực thấp ven biển nơi thường diễn ra lũ lụt và bệnh tật hoành hành, khu vực cao
với khí hậu khô, mùa trồng trọt ngắn và công tác thuỷ lợi hạn chế. Mỗi nông trang cũng
đều có khó khăn nhất định đối với đất trồng (như loại, độ nhiễm mặn, kích c
ỡ) tuỳ thuộc
vào từng nông trại khác nhau. Vì thời gian thực hiện dự án là ngắn, nên rủi ro của môi
trường có thể tác động đến kết quả của dự án nhưng cho đến nay thì những vấn đề này
còn nhỏ. Tác động lớn nhất của môi trường là nạn bùng nổ dịch bệnh Đậu mùa dê vừa
qua trong khu vực dự án, nhưng theo như đề cập ở trên, chính nạn dịch bùng nổ trong khu
vực ch
ăn nuôi dê đã cho thấy hoạt động hiệu quả của dự án khi các vùng trong dự án
không bị dịch bệnh.
6.2 Vấn đề về giới và xã hội
16
Vấn đề về giới và xã hội đã không ảnh hưởng gì đến việc triển khai dự án theo kế hoạch.
Hai nông dân đã rút khỏi dự án tháng 12/2006, một nông dân khác đã quyết định sát nhập
đồng cỏ của mình với một nông dân khác trong dự án. Một trong số nông dân thành công
nhất của dự án là co Lung tại tỉnh Lâm Đồng, đã làm gương tốt cho các phụ nữ khác
7.3 Tính bền vững
Tính bền vững của công nghệ áp dụng trong dự án sẽ phụ thuộc vào việc nông dân tiếp
thu những công nghệ này trong phương pháp chăn nuôi như thế nào. Dự án chỉ phát huy
hết được công dụng trong việc chăn nuôi dê khi dịch bệnh được kiểm soát, hệ thống thức
ăn cho dê được phát triển, công tác quản lý tốt- đây là những khó khăn còn gặp phải của
khu vực phía Nam Việt Nam. Tôi tin rằng chúng ta nên quan tâm nhiều về vấn đề
này tại
cuộc họp Diễn đàn Nông dân sắp tới tổ chức vào tháng 11/2007 tại Bình Thuận. Nông
dân tham gia sẽ được hỏi về kế hoạch đầu tư vào việc tiêm vắc-xin và thuốc phồng bệnh
cho dê và phát triển đồng cỏ sau khi dự án hoàn tất. Tại thời điểm này, chung ta cần phỉa
17
đưa ra những hiệu quả kinh tế trong chiến lược quản lý về việc tăng lợi nhuận trong công
tác chăn nuôi dể ở Việt Nam
8. Những bước quan trọng tiếp theo
Kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo của dự án được liệt kê trong khung hoạt động của dự án
bao gồm nhận định về thành công của việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới, về việc
tiêm phòng vacxin phòng các bệnh như Đậu mùa dê, ký sinh trùng hoại tử, FMD cho các
con dê mới trong đàn, sử dụng phương pháp Ivermectin nằhm kiểm soát các loại ký sinh
trong và ngoài, tiếp tục phát triển trồng cỏ khô nhằm cung cấp ngu
ồn thức ăn có chất
lượng cho dê. Trong giai đoạn 6 tháng tiếp theo, từ tháng 9-11/2007 sẽ tiến hành tham
quan các nông trang để cân nặng và đánh dấu tai những con dê mới và đánh đánh giá
năng suất sinh sản của dê và trồng cỏ. Sắp tới, sẽ phải quan tâm hơn đến việc bảo quản cỏ
khô cho mùa khô của những nông trang này. Trong tháng 11, sẽ tổ chức cuộc họp Tư vấn
lần thứ 2 và Diễn đàn Nông dân t
ại tỉnh Bình Thuận và kế hoạch cho các cuộc họp hiện
đang triển khai. Hiện cần phải tiến hành thu thập số liệu về các trang trại của dự án từ đó
có thể biết được sự thay đổi định tính và định lượng của các nông trang này sau khi được
dự án hỗ trợ. Trong thời gian này, việc xây dựng TT Nghiên cứu Cừu và Dê Ninh Hai