Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển nghề nuôi ngao nhằm cải thiện và đa dạng hoá sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo ven biển miền Trung Việt Nam - MS04 " potx - Pdf 15


Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chương trình Hợp tác về Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn (CARD)

027/05VIE

Phát triển nghề nuôi ngao nhằm cải thiện và đa
dạng hoá sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo
ven biển miền Trung Việt Nam
MS04: Báo cáo 6 tháng lần thứ 2
6.2. Các vấn đề về giới và xã hội ________________________________________ 26
7. Các tồn tại và tổ chức thực hiện ___________________________________27
7.1. Các tồn tại và thách thức ___________________________________________27
7.2. Sự chọn lựa ______________________________________________________27
7.3. Tồn tại___________________________________________________________27
8. Bước khắc phục trong thời gian tới_________________________________27
9. Kết luận ________________________________________________________27
10. Báo cáo theo quy định___________________________________________282
1. Thông tin về Viện nghiên cứu

Tên dự án
Phát triển nghề nuôi ngao nhằm cải thiện và đa
dạng hoá sinh kế cho cộng đồng cư dân nghèo ven
biển miền Trung Việt Nam (Dự án 027/05VIE)
Viện nghiên cứu ở Việt Nam
Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc
Trung Bộ, Việt Nam (ARSINC)
Ban quản lý dự án ở Việt Nam
Ông. Như Văn Vẩn (Giám đốc dự án)
Ông. Chu Chí Thiết (Quản đốc dự án)
Cơ quan phía Australia
Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Australia
(SARDI)
Nhân sự Australia
Dr Martin S Kumar (Phụ trách dự án)
Dr Bennan Chen (Nghiên cứu viên chính)
Ngày tiến hành dự án

Điện thoại

Chức vụ:

Fax:

Cơ quan

Email:

Ở Việt Nam
Họ tên:
Như Văn Cẩn
Điện thoại
84 383 829 884
Chức vụ:
Phân viện trưởng
Fax:
84 383 829 378
Cơ quan
Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thuỷ sản Bắc Trung Bộ
Email:

3
2. Tóm tắt dự án
Mục tiêu chính của dự án là phát triển và mở rộng công nghệ nuôi ngao (sản xuất

phẩm. Các kết quả nổi bật bao gồm:
• Hoàn thành các thí nghiệm nuôi ngao thương phẩm trong ao liên quan đến
sử dụng ao nước từ ao lắng và từ ao chứa nước thải từ ao nuôi tôm.
• Hoàn thành thí nghiệm nuôi kết hợp giữa ngao với tôm
• Thí nghiệm nuôi ngao trên bãi triều vừa kết thúc và đang tiến hành xử lý số liệu.
• Thí nghiệm nuôi ngao luân canh sau vụ tôm cũng vừa mới kết thúc và hiện
đang xử lý số liệu.

4
• Cơ sở hạ tầng trại giống được nâng cấp (bao gồm cả sản xuất thức ăn sống)
cho các thí nghiệm sản xuất giống và các thí nghiệm đang hoạt động tốt.
• Khoá tập huấn, bao gồm cả tham quan nghiên cứu tại SARDI, Australia cho
cán bộ dự án của ARSINC và cán bộ đại diện cho địa phương đã được triển
khai.
Trong năm thứ 2, dự án sẽ tập trung vào các mô hình trình diễn các công nghệ có
hiệu quả từ những kết quả nghiên cứu thu được và xây dựng các tài liệu khuyến
ngư. Một bản tiêu chuẩn lựa chọn ngư dân tham gia dự án đã được xây dựng bằng
việc tham khảo người đứng đầu, đại diện cho làng, xã và chính quyền địa phương.
Các chi tiết sẽ được đưa ra trong báo cáo sau. Trong năm thứ 3, dự án sẽ tập trung
phát triển khuyến ngư, bao gồm việc mở rộng việc tham gia vào thử nghiệm của
người dân. Tác động của dự án cũng sẽ được đánh giá trong năm thứ 3.
3.2 . Các kết quả chính
a) Các thí nghiệm nuôi thương phẩm đã tạo ra triển vọng tốt
Những kết quả có triển vọng và ý nghĩa đã được tạo ra trong hợp phần này của dự
án. Các kết quả từ thí nghiệm nuôi thương phẩm đã chỉ ra rằng ngao có thể nuôi
ngao thành công trong ao. Kết quả nghiên cứu cũng đã đưa ra những đề xuất cho
việc lựa chọn mật độ ngao nuôi, nền đáy nuôi phù hợp để ngao tăng trưởng tốt
nhất. Các kết quả chính được chỉ ra dưới đây:
• Ngao có thể được nuôi thương phẩm trong ao. Hiện tại ngao mới chỉ được
nuôi tại các vùng bãi triều. Các thí nghiệm của chúng tôi đã chỉ ra rằng có thể


4. Giới thiệu tổng quát
Tóm tắt mục tiêu của dự án, dự kiến kết quả, cách tiếp cận và phương pháp luận
Mục tiêu chính của dự án là phát triển và mở rộng công nghệ nuôi ngao (sản xuất
giống và nuôi thương phẩm), nhằm góp phần ổn định sinh kế của cộng đồng cư dân
nghèo ở các tỉnh ven biển miền Trung và phát triển một chiến lược góp phần quản
lý môi trường nước bền vững thông qua việc nuôi ngao để xử lý các chất thải từ
hoạt động nuôi tôm. Mục đích của dự án là:
a) Cung cấp cho cộng đồng ngư dân chuyên sống bằng nghề khai thác có một
nguồn thu khác, bảo đảm an ninh lương thực;
b) Cải tiến công nghệ và năng lực khuyến ngư cho các bên tham gia;
c) Giảm mức độ ảnh hưởng tiêu cực của nghề nuôi tôm thông qua chiến lược
quản lý môi trường và tận dụng nguồn nước thải hiện có.
4.1. Các mục tiêu cụ thể của dự án
Mục tiêu của dự án (027/05VIE) bao gồm:
• Phát triển và mở rộng công nghệ sản xuất ngao (sản xuất giống và nuôi
thương phẩm)
• Ổn định các sinh kế của cộng đồng ngư dân nghèo ở các tỉnh ven biển miền
Trung
• Phát triển một chiến lược nhằm góp phần quản lý môi trường thuỷ sinh ổn
định bằng việc nuôi ngao để cải tạo nước thải trong nuôi tôm.
4.2. Các kết quả mong đợi
Theo kế hoạch của dự án, 6 tháng vừa qua đã tập trung vào những công việc liên
quan tới phát triển công nghệ nuôi thương phẩm. Khung thời gian liên quan đã
được thể hiện trong phần phụ lục A.
• Hoàn thành các thí nghiệm nuôi ngao thương phẩm trong hệ thống ao xử lý
nước (ao lắng), ao chứa nước thải và nuôi kết hợp giữa ngao với tôm trong
cùng một ao.
• Triển khai thí nghiệm nuôi ngao trái vụ trong ao nuôi tôm sau khi tôm đã thu
hoạch (nuôi ngao luân canh sau vụ tôm).

mong đợi là một chiến lược tốt trong việc quản lý môi trường ao nuôi tôm
thông qua việc nuôi ngao – đã hoàn thành.
c) Nuôi kết hợp giữa tôm và ngao: nuôi đồng thời tôm và ngao sẽ bảo đảm việc
cải tạo chất lượng nước của ao tôm cũng như tăng thêm vào thu nhập chung
– đã hoàn thành.
d) Nuôi ngao sau vụ tôm (nuôi luân canh): nuôi ngao sẽ được tiến hành sau khi
thu hoạch tôm, nuôi luân canh- đang tiến triển tốt.
e) Nuôi ngao trên bãi triều: bãi triều sẽ được chia ra làm 3 vùng dựa vào sự ảnh
hưởng của thuỷ triều để nuôi ngao – đang tiến triển tốt.
Thí nghiệm liên quan đến a, b và c đã được kết thúc. Nuôi ngao trên bãi triều và
nuôi luân canh đang triển khai và tiến triển tốt.
5.1.1.1. Thí nghiệm nuôi ngao trong ao lắng và ao chứa nước thải
Mục đích chính của thí nghiệm này là phát triển một phương pháp nuôi ngao trong
ao bằng việc sử dụng ao lắng và ao chứa nước thải. Mục tiêu của thí nghiệm là:
• Xác định nền đáy phù hợp cho sinh khối cao nhất (sản lượng)

7
• Xác định mật độ nuôi phù hợp cho sinh khối cao nhất (sản lượng)
Nuôi ngao hiện tại được nuôi chủ yếu ở vùng bãi triều. Để phát triển và mở rộng
nghề nuôi ngao như là một ngành công nghiệp bền vững thì cần thiết phải phát triển
công nghệ nuôi trong ao. Cũng rất cần thiết phải chuyển những ao nuôi tôm hiện
nay sang hình thức nuôi sinh thái bền vững hơn bằng việc tận dụng nguồn nước
thải gây ô nhiễm môi trường.

Hình 1: H

thốn
g
ao nước thải Hình 2: H


công thức, SGR = 100*(Ln(w
t
) – Ln(w
0
))/t, với w
t
là trọng lượng tại thời điểm t (cân mẫu),
w
0
là trọng lượng ngao lúc thả giống và t là thời gian thí nghiệm.
Kết quả và thảo luận
Kết quả chỉ ra rằng, ngao nuôi ở nền đáy cát pha bùn có tỷ lệ sống và sinh khối cao
hơn so với ngao nuôi ở nền đáy cát và bùn (P<0,05). Đáy cát – bùn phù hợp hơn
cho sự phát triển của ngao (P<0,05). Mô tả chi tiết về tỷ lệ phần trăm (%) của cát,
bùn và các đặc điểm tự nhiên đang được thu thập và sẽ được bổ sung trong báo
cáo tới. Một hỗn hợp hiện tại trong cát và bùn có thể tạo ra các điều kiện sinh thái
đặc biệt tối ưu cho ngao sống sót và phát triển (bảng 1 và biểu đồ 3 (a, b, c và d).

8
Bảng 1: Tỷ lệ sống và sinh vật lượng của ngao nuôi trong các nền đáy khác nhau
Nền đáy
Hệ thống ao
Cát Bùn Cát-bùn
Tỷ lệ sống (%) 63.00±2.64 54.33±5.50 71.00±6.56Ao nước thải
Sinh khối (kg/m
2
) 0.75±0.07 0.79±0.02 1.25±0.14
Tỷ lệ sống (%) 56.50±3.54 51.67±4.72 71.33±4.93Ao lắng
Sinh khối (kg/m
2

) 0.69±0.04 0.64±0.02 0.81±0.05

Biểu đồ 4 (a, b, c và d): Tỷ lệ sống và sinh khối của ngao ở các mật độ khác nhau

Thí nghiệm chỉ ra việc sử dụng nước thải để nuôi ngao thu được tỷ lệ sống và sinh
vật lượng cao hơn (P<0.05). So sánh kết quả giữa hệ thống ao lắng và chứa nước
thải được trình bày ở biểu đồ 5 (a-f). Theo các kết quả nghiên cứu trước đây thì
hàm lượng nitơ tổng số được duy trì ở mức 1,5
± 0,5 ppm bằng cách sử dụng nước
biển để hạn chế độc tố (hàm lượng amoniac) trong ao. Điều này cho phép tạo ra
sinh khối tảo lớn hơn từ 10 đến 15% trong ao chứa nước thải. Vì thế, với điều kiện
môi trường tốt hơn và được bổ sung nhiều thức ăn hơn đã dẫn đến tỷ lệ sống và
sinh khối cao hơn.

10

Biểu đồ 5 (a-f): So sánh tỷ lệ sống và sinh khối của ngao trong ao nước thải và ao lắng

Điều kiện môi trường của các hệ thống ao lắng và ao nước thải, đặc biệt là độ mặn,
nhiệt độ và độ trong không sai khác ý nghĩa. Trong thời gian thí nghiệm, độ mặn và
độ trong dao động rất mạnh. Độ mặn dao động từ 9
0
/
00
(min) đến 20
0
/
00
(max), độ


24.47±1.27 24.89±1.90 10.38±1.05 11.18±1.69
150 con/m
2
24.87±1.38 24.32±1.54 11.00±1.27 10.48±1.31

Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng riêng (SGR) của ngao ở các mật độ nuôi khác nhau trong
ao nước thải và ao lắng
Tăng trưởng thao chiều cao vỏ Tăng trưởng theo trọng lượng Yếu tố thí
nghiệm
Ao nước thải Ao lắng Ao nước thải Ao lắng
90 con/m
2
0.38±0.04 0.39±0.03 1.77±0.04 1.15±0.03
120 con/m
2
0.36±0.03 0.37±0.01 1.75±0.03 1.09±0.02
150 con/m
2
0.37±0.04 0.35±0.02 1.76±0.04 1.04±0.0312

Biểu đồ 6 (a-b): So sánh khối lượng và SGR của ngao trong ao nước thải và ao lắng
Mật độ ngao nuôi 150 con/m
2
vẫn chưa phải là giới hạn mật độ ảnh hưởng đến tăng
trưởng trong 3 mật độ thí nghiệm trên. Đây là điều có lợi cho ngư dân trong việc thả con
giống ở mật độ cao để có thể thu được sản phẩm cao hơn trong khi chi phí thuê đất và chi
phí hoạt động vẫn không thay đổi, ngoại trừ chi thêm cho việc mua con giống. Điều đó có

phẩm tại thời điểm mong muốn. Kích cỡ ngao thương phẩm là một yếu tố quyết định giá bán
của nó. Do tỷ lệ chết của ngao nuôi trong ao lắng cao hơn trong ao nước thải, một số
lượng nhỏ động vật nuôi bị ảnh hưởng tới yếu tố nền đáy trong hệ thống ao lắng. Trọng
lượng cuối cùng của ngao nuôi trong ao lắng cao hơn so với ao chứa nước thải (P<0,05)
khi nuôi ở cùng mật độ 90 và 120 con/m
2
(biểu đồ 7 (a-f)). Tuy nhiên, ở mật độ cao (150
con/m
2
), không có sự sai khác có ý nghĩa giữa hai hệ thống ao nuôi (P>0,05).

Biểu đồ 7 (a-f): Giá trị trung bình và sự tăng trưởng của ngao ở các nền đáy khác nhau 14

Biểu đồ 8 (a-f): So sánh trọng lượng ngao trong ao nước thải và lắng ở mật độ và nền đáy khác nhau

5.1.1.2. Thí nghiệm nuôi kết hợp ngao với tôm trong ao nuôi tôm nước lợ
Mục tiêu chính trong thí nghiệm này là phát triển công nghệ nuôi ngao kết hợp với
tôm. Do các thí nghiệm khác tập trung vào nghiên cứu kích thước và nền đáy phù
hợp, thí nghiệm này chỉ tập trung vào xác định mật độ ngao nuôi phù hợp mà không
thay đổi quy trình nuôi tôm hiện tại.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm ngao nuôi kết hợp với tôm trong ao nước lợ với các mật độ khác nhau:
60 con/m
2
, 90 con/m
2
và 120 con/m

tốc độ tăng trưởng ở mật độ 90 con/m
2
và 120 con/m
2
thì khác nhau không có ý
nghĩa. Thức ăn và môi trường sống xung quanh có thể là lý do chính tạo nên tốc độ
tăng trưởng cao hơn đối với ngao nuôi ở mật độ thấp.
Bảng 7: Sự tăng trưởng của ngao nuôi trong ao nuôi tôm nước lợ (Mean ± SD)
Yếu tố Chiều cao Trọng lượng GSRL GSRW
60 con/m
2
26.20±0.62 7.58±0.37 0.47±0.01 0.88±0.01
90 con/m
2
24.86±0.59 6.99±0.35 0.42±0.02 0.80±0.02
120 con/m
2
23.93±0.60 6.80±0.26 0.39±0.03 0.77±0.05
Ghi chú: GSRL: tăng trưởng riêng theo chiều cao vỏ; GSRW: tăng trưởng riêng theo trọng lượng

Biều đồ 9a: Trọng lượng của ngao trong ao kết hợp
Biể
u
đồ 9b: SG
R
W
c
ủa n
g
ao tron

Biểu đồ 11 (a,b): So sánh trọng cuối của ngao nuôi trong ao nước thải, ao lắng và ao kết hợp
Một phân tích so sánh để tìm hiểu sự khác nhau về tăng trưởng của ngao khi nuôi
bàng các phương pháp khác nhau đã được thực hiện. Biểu đồ 17 và 18 mô tả sự khác
nhau về tăng trưởng của ngao trong các hệ thống nuôi khác nhau. Có sự khác nhau về
trọng lượng cuối cùng của ngao trong ao lắng, ao chứa nước thải và ao nuôi tôm
(P<0.05). Biểu đồ 17a, 18a chỉ ra rằng trọng lượng cuối cùng của ngao cao nhất ở hệ
thống ao lắng và thấp nhất ở hệ thống nuôi kết hợp. Trọng lượng trung binh ngao thu
từ hệ thống áo chứa cao hơn có thể do tỷ lệ sống của ngao là thấp hơn so với hệ thống

17
ao nước thải. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thấp của ngao ở ao nuôi kết hợp với tôm
có thể do một số nguyên nhân, bao gồm cả các điều kiện môi trường. Hơn nữa, màu
sắc của ngao nuôi trong ao tôm tối hơn so với ngao ở các ao lắng và ao chứa nước thải
(Hình 12). Ngao và tôm là động vật sinh sống đáy. Ngao nuôi trong ao tôm ảnh hưởng do
hoạt động của tôm. Hơn nữa, hoạt động của tôm cũng làm giảm độ trong nước dẫn đến
làm giảm khả năng xâm nhập ánh sáng và qua đó
hạn chế sự phát triển của tảo, được coi là nguồn
thức ăn chính cho ngao. Một lý do khác có thể ảnh
hưởng đến đến sự tăng trưởng của ngao trong ao
kết hợp là việc sử dụng hoá chất xử lý nước trong
thời gian nuôi tôm.
Hình 12. Màu sắc (màu tối) của ngao trong ao nuôi kết hợp với tôm.
Một so sánh nữa đối với các thí nghiệm mật độ trong 3 loại hình nuôi (ao lắng, ao
nước thải và ao kết hợp) đã cho thấy kết quả rõ ràng ở biểu đồ 13 (a-d). Kết quả chỉ
ra rằng: cùng mật độ nuôi thì tỷ lệ sống và sinh vật lượng cao nhất ở hệ thống ao
chứa nước thải, theo sau là ao lắng. Tỷ lệ sống và sinh vật lượng của ngao thấp
nhất ở ao nuôi kết hợp.

ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của nghề nuôi. Vì thế, điều quan trọng là xem
xét tốc độ tăng trưởng và thời gian nuôi thích hợp cho mỗi loại trước khi
quyết định đến mật độ thả giống và kích thước ngao giống.
5.1.1.3. Thí nghiệm nuôi ngao trên bãi triều
Nghề nuôi ngao truyền thống được bắt đầu từ việc nuôi trên bãi triều. Mục tiêu của
thí nghiệm này là nâng cao lợi ích cho người nuôi ngao. Mục đích cụ thể của thí
nghiệm góp phần nâng cao sản lượng nuôi bằng việc xác định mật độ và kích thứơc
thả phù hợp. Các yếu tố khác trong hệ thống nuôi không thể thay đổi do đây là hệ
sinh thái tự nhiên, liên kết chặt chẽ tới khai thác thuỷ sản là một nghề chính trong
cộng đồng ngư dân.

19

Hình 14. Đo tăng trưởng ngao nuôi trên bãi triều Hình 15. Mẫu ngao nuôi ở vùng bãi triều
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm nuôi ngao bãi triều được tiến hành trên 24 ô, mỗi ô 50 m
2
. Ngao thí nghiệm
với 2 kích thước 1 cm và 2 cm và 4 mật độ: 60 con/m
2
, 120 con/m
2
, 240 con/m
2
và 360
con/m
2
khác nhau. Thời gian thí nghiệm là 6 tháng, kết thúc vào tháng 5/2007. Hiện tại,
thí nghiệm tiến triển tốt, kết quả cuối cùng sẽ được đề cập trong báo cáo sau, báo cáo
này chỉ đưa ra những thông tin đã thu thập được trong quá trình theo dõi. Số liệu tăng

thí nghiệm là đánh giá tính khả thi của
một vụ nuôi ngao khác đối với người
nuôi tôm từ tháng 10 đến tháng 3. Dựa
vào kết quả của 3 thí nghiệm trên (nuôi
kết hợp, nuôi trong ao lắng và ao nước
thải), nền đáy phù hợp (cát-bùn) và mật
độ ngao nuôi 60 con/m
2
được lựa chọn.
Thí nghiệm này chỉ tập trung xác định
kích thước ngao phù hợp cho nuôi luân
canh ngao và kích thước 2 cm và 3 cm
đã được đưa vào thí nghiệm.
Vật liệu và phương pháp
Hai kích thước ngao (2 cm và 3 cm) ở
mật độ 60 con/m
2
được thử nghiệm
trong ao tôm, với 3 lần lặp. Các yếu tố
môi trường như DO, nhiệt độ nước, pH,
N-NH3, độ đục, cũng như động vật đáy
đã được định kỳ theo dõi và ghi chép.
Mẫu ngao được thu ngẫu nhiên (30
con/ao) với tần suất 15 ngày/lần để đánh giá tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng được
theo dõi là trọng lượng (g) và kích thước (mm). Thí nghiệm được bắt đầu từ 7/12/06 đến
7/3/07 và được kết thúc và cuối tháng 4/07.
Kết quả
Nuôi luân canh ngao với tốc độ tăng trưởng khả quan, kết quả được trình bày trong
biểu đồ 19 và 20 dưới đây.


Hình 21. Hệ thống nuôi tảo sinh khối ngoài trời

5.2. Lợi ích của nông hộ
5.2.1. Cơ hội sử dụng ao nước lợ để nuôi ngao thương phẩm
Thử nghiệm chỉ ra rằng ngao có thể sống và phát triển trong ao, mở ra cơ hội cho
ngư dân tận dụng các ao nước lợ mà những năm gần đây việc nuôi tôm thường
gặp thất bại do quản lý yếu kém.
Thành công trong việc nuôi ngao trái vụ sẽ cung cấp một cơ hội mới cho ngư dân trong
việc tận dụng ao nuôi tôm để nuôi ngao, mà trước đây thông thường chỉ sử dụng 4 tháng
trong một năm cho nuôi tôm.
5.2.2. Tăng lợi nhuận từ nuôi ngao trong vùng triều
Mật độ nuôi và kích cỡ ngao giống phù hợp sẽ cung cấp năng suất cao, giảm chi
phí vận hành và thu được lợi nhuận cao hơn.
5.2.3. Kỹ thuật dễ được ứng dụng trong sản xuất
Các yếu tố như mật độ nuôi thả, độ mặn nằm trong khả năng mà người dân, đối
tượng ứng dụng công nghệ có thể theo dõi, thực hiện và quản lý. Bằng việc tập
trung nghiên cứu và hiểu biết sự ảnh hưởng các nhân tố tới tỷ lệ sống, sự tăng
trưởng của ngao Bến Tre (M.lyrata) và ấu trùng của nó, nhóm nghiên cứu của
ARSINC đang xây dựng các kỹ thuật nuôi cơ bản, có thể áp dụng tại các nông hộ.
5.2.4. Rủi ro thấp về đầu tư

24
Việc tập trung nghiên cứu chi phí thấp, dễ áp dụng đối với kỹ thuật sản xuất giống
và nuôi thương phẩm và cơ sở hạ tầng tạo nên sự rủi ro thấp cho các nông hộ và
cộng đồng.
5.2.5. Tối đa hoá tiềm năng thương mại thông qua sự hiểu biết
Bảng tóm tắt dưới đây tóm tắt các ứng dụng từ kiến thức mà dự án đem lại về tiềm
năng sản xuất hàng hoá ở nông hộ.
Bảng 9. Sự áp dụng công nghệ vào sản xuất hàng hoá ngao M. lyrata
Mô hình

spat
• Dễ sử dụng, hệ thống nội địa chi phí thấp (được
ARSINC phát triển) có thể được thực hiện tại nông hộ
hoặc tại các hợp tác xã trong khu vực
• Giảm thu gom con giống từ tự nhiên qua đó làm
giảm tác động xấu đến hệ sinh thái ven biển Việt
Nam
Sản xuất
giống/Nuôi
vỗ cong bố
mẹ
Thành phần thức
ăn (các loài tảo)
• Cho phép các trại giống và các Hợp tác xã trong
vùng có thể sản xuất thức ăn sống (sử dụng nguồn
tảo thuần từ ARSINC và từ các nguồn khác) cho
việc sản xuất giống ngao
• Ngư dân cũng có thể tạo ra được đàn ngao bố mẹ
để phục vụ sản xuất.
Sản xuất
giống/ương
nuôi ấu trùng
Mật độ ương/tỷ lệ
sống/tốc độ tăng
trưởng
• Cho phép các trại giống trong vùng đạt được sản
lượng ấu trùng ngao tối ưu
Độ mặn/Tỷ lệ
sống/tốc độ tăng
trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status