Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh miền trung Việt " potx - Pdf 15


Bộ Nông nghiệp và PTNT
Việt Nam

Chính phủ Australia
AusAIDBẢN BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN

Phát triển và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả trong chăn nuôi dê và tăng thu nhập cho các hộ nông dân
tại các tỉnh miền trung Việt (009/VIE05) Tên hoạt động
Dự án cải thiện hệ thống chăn nuôi dê Australia - Việt Nam (2006-2009) Lĩnh vực: Chăn nuôi dê
MS3 - BÁO CÁO ĐỊNH KỲ 6 THÁNG LẦN THỨ 2
Ngày 08 tháng 02 năm 2007

PGS . TS. B.W. Norton: Trường Đại học Queensland, Australia
PGS.TS. Đinh Văn Bình: Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, Việt Nam

5.2. Lợi ích của các hộ dân. 10
5.3. Xây dựng năng lực 11
5.4. Tính công khai 11
5.5. Quản lý Dự án 11
6. Báo cáo các vấn đề liên quan 12
6.1. Môi trường 12
6.2. Các vấn đề về giới và xã hội 12
7. Vấn đề thực hiện và tính b
ền vững 12
7.1. Kết quả đạt được đề và trở ngại 12
7.2. Sự lựa chọn 13
7.3. Tính bền vững 13
8. Những bước quan trọng tiếp theo 13
9. Kết luận 14
10. Sự cam kêt giữa các bên 14 Phụ lục
Phụ lục 1a. Chương trình hội nghị lần đầu tiên của ban cố vấn Dự án Phát triển
chăn nuôi dê Việt Nam- Australia (VAGIP) (2006-2009) CD phụ lục

1. CD phụ lục 1. Điều tra hệ thống chăn nuôi dê Việt Nam 2006-2007
2. CD phụ lục 2. Những đề xuất cho hoạt động của các hộ dân tham gia dự án CARD
3. CD phụ lục 3. Báo cáo về Hội thảo của ban cố vấn và diễn đàn của các nông dân tổ
chức tại Lâm Đồng
4. CD phụ lục 4. Trách nhiệm của trường Đại học Queensland với CARD (7-12/2006)
5. CD phụ l

PGS. TS. Đinh Văn Bình
Đơn vị phía Australia
Trường Đại học Queensland
Chuyên gia phía Australia
TS. Barry W. Norton
Bắt đầu
Ngày 01 tháng 4 năm 2006
Kết thúc
Ngày 31 tháng 3 năm 2009
Tổng kết
Ngày 31 tháng 3 năm 2009
Giai đoạn viết báo cáo
Ngày 01 tháng 7 đến 01 tháng 12 năm 2006
2. Tóm tắt dự án
Trong những năm gần đây, hệ thống phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam đã nhận được sự quan
tâm đặc biệt của Nhà nước thông qua việc thiết lập và ủng hộ cho các hoạt động cho Trung
tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây ở phía Bắc Việt Nam. Những hoạt động của Trung tâm
trong nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê thuộc các chương trình quốc gia và quốc tế đã
thực hiện thành công và mang lại hiệu qu
ả kinh tế cao trong các nông hộ chăn nuôi dê ở phía
Bắc và hiện tại hầu hết các địa phương và các tỉnh đều có mong muốn thúc đẩy hệ thống chăn
nuôi dê đã thành công ở phía Bắc đến các tỉnh miền Trung và phía nam Việt Nam nơi mà
nhiều các biện pháp kỹ thuật, tư vấn chuyên ngành và nguồn kinh phí cho việc áp dụng hệ
thống kỹ thuật mới phù hợp cho chăn nuôi dê còn nhiều hạn chế. Dự án đã đượ
c đề xuất thực
hiện trong thời gian 03 năm với mục tiêu là tìm ra được những hạn chế trong phát triển chăn
nuôi dê nhằm hoàn thiện kỹ thuật chăn nuôi, nâng cao thu nhập cho những hộ nông dân được
lựa chọn tham gia dự án tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng; đào tạo và hướng
dẫn kỹ thuật chăn nuôi dê cho các cán kỹ thuật của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
các hộ nông dân có các hệ thống chă

phát triển chă
n nuôi dê Việt Nam - Australia (2006-2009) ”, và tên hoạt động này sẽ được sử
dụng trong tất cả các báo cáo chính thức tới, phần đặt vấn đề và bối cảnh của dự án, mục tiêu
của dự án, phương pháp tiếp cận, biện pháp ứng dụng những phương pháp còn lại và theo
những báo cáo trình bày tiến độ thực hiện đến tháng 12 năm 2006. Trong giai đoạn này, những
kỹ thuật mới sẽ được giới thiệu t
ới 27 hộ dân thuộc các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm
Đồng như thiết kế và sửa lại chuồng và nền chuồng bằng bê tông và xây dựng hầm/hố thu gom
phân hàng ngày, tiêm phòng cho dê các bệnh truyền nhiễm như Tụ huyết trùng, Đậu dê, Viêm
ruọt hoại tử định kỳ và trong một số trường hợp còn điều trị bệnh nội ký sinh trùng bằng thuốc
Ivermectin, thiết lập diện tích trồng cây thức ăn cho dê (0.2 ha/hộ) bao g
ồm các giống cỏ, cây
họ đậu và các cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Nhìn chung ở mỗi nông hộ sau khi được
tập huấn và giúp đỡ đã có sự thay đổi tích cực và một số hộ đã thực hiện rất thành công. Kế
hoạch hoạt động đã được triển khai cho mỗi hộ nông dân đúng theo những thứ mà họ cần, và
sự thành công của kế hoạch này sẽ được kiểm đị
nh lại trong chuyến thăm dự án lần thứ 2 vào
tháng 03 năm 2007 của TS Bary Norton. Trong thời gian thực hiện các hoạt động của dự án,
hội thảo của các cố vấn dự án đã được tổ chức tại Đà Lạt, Lâm Đồng, cán bộ của dự án sẽ
được cung cấp trực tiếp những thông tin phản hồi lại từ các cán bộ sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn của các tỉnh và các vấ
n đề khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện. Một
diễn đàn nông dân cũng đã được tổ chức tại Đà Lạt, đây là cơ hội cho các cán bộ dự án có thể
diễn giải mục đích của dự án, và giải đáp những câu hỏi trực tiếp từ nông dân xung quanh việc
thực hiện các hoạt động cuả dự án. Những hội thảo tương tự sẽ đượ
c tổ chức vào năm 2007 và
2008. Trong hoạt động năm 2006, 30 hộ nông dân khác trong vùng không tham gia dự án cũng
đã được tiến hành điều tra về hiện trạng phát triển chăn nuôi dê, cùng với 27 hộ nông dân
được tham gia vào dự án làm cơ sở đưa ra so sánh giữa các hộ (30 hộ ngoài dự án) để đánh giá
mức độ ảnh hưởng tích cực của dự án.

Báo cáo dưới đây mô tả những kết quả của lần thứ hai thăm chính thức Việt Nam trong quá
trình tổ chức thực hiện, quản lý, cũng như nắm bắt
được tiến độ thực hiện dự án theo mốc thời
gian đã đặt ra trong mục tiêu hoàn thành các hoạt động và kế hoạch cho các hoạt động cho giai
đoạn 06 tháng tiếp theo.

Mục tiêu và kết quả của dự án: Dự án được đề xuất với 07 mục tiêu và được thực hiện trong
vòng 03 năm 2006-2009. Bao gồm:
1. Phân loại và đặc điểm sản xuất của những hộ nông dân then chốt
2.
Đào tạo và phổ biến tuyên truyền thông tin
3. Cung cấp kinh phí, kỹ thuật cho việc sửa chữa, cải tiến nâng cao chuồng trại và
chăm sóc sức khoẻ cho đàn dê
4. Nâng cao số lượng và chất lượng các loại thức ăn tinh và thức ăn thô xanh cho dê
5. Cung cấp dê đực giống Bách Thảo trong việc cải tạo nâng cao phẩm chất giống
6. Xác định hiệu quả kinh tế của việc tác
động những biện pháp kỹ thuật mới tới khả
năng sản xuất của dê.
7. Trợ giúp một số trang thiết bị cho việc hình thành cơ sở chế biến thịt dê cừu quy
mô nhỏ tại Trạm Nghiên cứu Dê-Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận

Trong mỗi mục tiêu của dự án đều có hàng loạt các hoạt động gắn liền với những kết quả
mong đợi, những k
ế hoạch hoạt động này được trình bày ở bảng 10 (Khung chiến lược hoạt
động của dự án), tương tự ở Bảng 3.1 trong Đề cương cuối cùng được chấp thuận bởi dự án
CARD.
Ngoại trừ Nội dung 7, tất cả những mục tiêu trên hoặc một phần nội dung trên đều được thực
hiện trong giai đoạn 06 tháng đầu tiên này.

Các bước tiếp cận và phương pháp tiến hành

ộ mô hình chăn nuôi dê và được sử dụng làm phương tiện để tham quan, đào tạo các
nông dân khác ngoài dự án có thể áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi mới. Những hộ nông dân
được lựa chọn tham gia dự án là những hộ có kinh nghiệm trong chăn nuôi dê, có số lượng dê
từ 50-100 con và có đủ diện tích để trồng các loại cây thức ăn theo yêu cầu của dự án. Phương
pháp tiếp cận đồng bộ tất cả các biện pháp k
ỹ thuật mới được ưu tiên hơn là cách tiếp cận từng
mảng kỹ thuật riêng biệt khi chuyển giao kỹ thuật (ví dụ như chỉ điều trị bệnh tật cho dê hoặc
chỉ đảo đưc). Phương pháp tiếp cận trong phát triển chăn nuôi dê đã được áp dụng thành công
ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam và mong muốn sẽ ứng dụng thành công trong hệ thống chăn
nuôi tương t
ự tại miền Trung Việt Nam. Một sáng kiến mới khá quan trọng cho dự án này là
ủng hộ cho việc xây dựng xưởng chế biến thịt dê tại trạm Nghiên cứu Dê Cừu Ninh Hải, Ninh
Thuận.
Những thiếu hụt về kiến thức và phương pháp chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất
của đội ngũ cán bộ Trung tâm và cán bộ địa phương sẽ được hoàn thiện thông qua chương
trình đào tạ
o toàn diện. Đầu tiên là tập huấn cho các cán bộ thuộc các sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và liên kết họ với đội ngũ cán
bộ chuyên ngành của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây. Thứ hai là sử dụng những
cán bộ thuộc các sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đào tạo cho các cán bộ huyện, các
hộ nông dân tham gia và người dân địa phương thông qua sự phổ biến các thông tin bằng các
tài liệu kỹ thuật, hộ
i thảo và các mô hình ứng dụng. Cách tiếp cận này sẽ xây dựng sự hiểu biết
hợp tác lẫn nhau giữa phía Australia, kỹ thuật viên của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn
Tây và nông dân để hoạt động như là đơn vị liên kết, nhóm đơn vị trung gian và thúc đẩy
nhiều hơn nữa cách tiếp cận tổng thể nhằm nâng cao sản xuất nông nghiệp và vật nuôi ở
những vùng nông thôn nghèo thuộc các tỉnh miền Trung Việt Nam. Sự
đóng góp của phía đối
tác Australia sẽ rộng hơn thông qua các hoạt động tham gia của TS. B. Norton trong tất cả các
vấn đề có liên quan đến sự phát triển và chuyển giao những biện pháp kỹ thuật mới, và sẽ

m thiểu tối đa các rủi ro khi mà những bất thường
về tự nhiên: như bệnh tật, hạn hán, lũ lụt, hoả hoạn, bão có thể ảnh hưởng đến kết quả của dự
án. Có rất ít phướng thức sản xuất có thể thực hiện để loại trừ những thiên tai. Sự ủng hộ và
tham gia hoạt động của nông dân trong việc quản lý những con dê được chuyển giao trong
ch
ương trình thí nghiệm là cần thiết, và tất cả nông dân sẽ được hướng dẫn và được ủng hộ
của chính quyền địa phương (làng xã, huyện) và sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
trong việc thực hiện những tất cả các hoạt động chiến lược theo kế hoạch.

Phương pháp tiến hành. Thành phần chính của dự án này là sự xác định chính xác những cơ
sở vật chất sẵn có của các hộ
nông dân được lựa chọn tham gia dự án, từ những thông tin này
chiến lược quản lý và biện pháp kỹ thuật can thiệp vào sản xuất sẽ được phát triển bởi các cán
bộ dự án nhằm khắc phục những tồn tại để hoàn thiện hệ thông chăn nuôi dê. Do đó hoạt động
đầu tiên của dự án sẽ là tiến hành điều tra ở mỗi nông hộ về hệ thống chăn nuôi dê, nguồn
thông tin này sẽ sử dụng như là các số liệu cơ sở cho việc đo đạc sự thay đổi trong mỗi lĩnh
vực hoạt động. Nhóm cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm từ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ
Sơn Tây và Australia sẽ vạch ra những chiến lược phát triển cho mỗi nông hộ tuỳ thuộc vào
hoàn cảnh của họ. Trong một số trường hợp, một chiến lược phát triển có thể áp dụ
ng cho tất
cả các hộ tham gia dự án (thay thế đực, cải tiến chuồng trại, cung cấp vacxin, thuốc và hướng
dẫn cách sử dụng), trong một số trường hợp khác, một chiến lược có thể chỉ được áp dụng cho
một hộ nông dân (nâng cao thức ăn và các loại thức ăn bổ sung). Điều này được nhận ra rằng,
kinh nghiệm truyền thống về nguồn thức ăn và các biện pháp
điều trị bệnh cần được đánh giá
và kết hợp theo những chiều hướng có
thể thực hiện được.

5. Tiến độ thực hiện
Tiến độ được triển khai trong giai đoạn từ tháng 07 đến tháng 12 năm 2006 sẽ được trình bày

ều tra) đang được hoàn
thiện trong thời gian này. Một hoạt động khác không được liệt kê trong phần mục tiêu nhưng
có trong sự kiện 4 đó là thu thập thông tin của 30 hộ nông dân ngoài 27 hộ được chọn tham gia
vào hoạt động của dự án. Hoạt động điều tra thêm này đã làm cho thời gian triển khai kéo dài
hơn dự kiến và mới được hoàn thành vào tháng 12 năm 2006. Những hoạt động còn lại trong
mục tiêu 1 (Kết quả 1.3) sẽ được th
ực hiện trong năm thứ 03 và sẽ được báo cáo lại trong thời
gian sớm nhất khi có thể.

Kết quả 1.2, hoạt động 1.2.3. Đối chiếu và tóm tắt số liệu điều tra: Thu thập thông tin về
những hệ thống chăn nuôi dê đang được triển khai, và việc am hiểu tường tận những hệ thống
này chỉ có thể biết được khi so sánh lại khả năng sản xuất đã đạt được sau khi dự án kết thúc.
Cuộc điều tra ban đầu cung cấp cho chúng ta một sự nhận định trước mắt về 27 hộ dân tham
gia trong 07 huyện và 03 tỉnh thuộc miền Trung Việt Nam, s
ố liệu về 27 hộ dân này vẫn đang
tiếp tục thu thập với các nội dung theo dõi bao gồm tình hình bệnh tật, khả năng sinh sản, khối
lượng cơ thể ở các giai đoạn tuổi hiệu quả kinh tế của chăn nuôi dê trong vùng này. Cuộc điều
tra đã tuân theo những biện pháp kỹ thuât đã được đề xuất, tức là bao gồm cải tiến chuồng trại,
phòng và trị bệ
nh tật, cung cấp tốt hơn nguồn dinh dưỡng cho dê bằng cách trồng các loại cây
thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao tại các nông hộ. Đĩa CD phụ lục 1 trình bày các bảng và tóm
tắt ngắn gọn các số liệu thu thập được trong 27 hộ dân tham gia dự án và 30 hộ dân ngoại dự
án. Báo cáo này được trình bày như là một bằng chứng cho việc hoàn thành những công việc
trong Hạng mục 3 được liệt kê ở trên. Số liệu này sẽ được cô
đọng và tóm tắt lại trong năm
tới, kết hợp với những thông tin nắm bắt thêm trong “khả năng sản xuất của nông hộ” để tạo ra
bộ tài liệu toàn diện khi kết thúc dự án, nó sẽ bao gồm những kết quả cuối cùng của những cải
tiến kỹ thuật trong sản xuất và đời sống cho người dân trong vùng.

Nội dung . Đào tạo và truyền bá thông tin

thành công của gia đình ông Lung tại xã Tà Loan, huyện Đức Trọng sau khi tiếp nhận những
biện pháp k
ỹ thuật mới từ dự án mang lại. Hoạt động 2.4.3 trong khung hoạt động của Dự án
được phác thảo trình bày trong báo cáo này.

Nội dung 3. Trợ cấp nguyên vật liệu cho việc sửa chữa, nâng cấp chuồng trại và chăm
sóc sức khoẻ cho đàn dê

Kết quả 3.1 Nâng cầp chuồng trại chăn nuôi dê cho các hộ tham gia dự án
Hoạt động 3.1.1 và 3.1.2 đã được hoàn thiện trong giai đoạn trước, nhận định của những hoạt
động này được trình bày ở đĩa CD phụ lục 2. Một số những sửa đổi chính đã được đề xuất để
nâng cấp chất lượng của chuồng trại chăn nuôi dê.

Kết quả 3.2 Điều trị bệnh tật và nâng cao sức khoẻ cho dê ở các hộ tham gia dự án
Hoạt động 3.2.1 và 3.2.2 đã được lên kế hoạch và hoàn thiện trong thời gian này. Tại tỉnh Bình
Thuận, ngoại trừ số vacxin cung cấp từ dự án, không có bất kỳ loại vaxcin nào được sử dụng
bởi các nông dân chăn nuôi để phòng bệnh cho dê và nguyên nhân này đang được điều tra là
tại sao chương trình vacine cho dê này đã không được triể
n khai. Ở những vùng khác thì dê có
được tiêm vacxin phòng bệnh Viêm ruột hoại tử, bệnh Đậu dê, nhưng không có vacxin Lở
mồm long móng. Vacxin Đậu dê được sản xuất tại Việt Nam và cũng chưa biết rõ được hiệu
quả phòng bệnh như thế nào. TS. Norton đã yêu cầu kết quả kiểm định chất lượng cho loại
vacxin này nhưng vẫn chưa có kết quả phản hồi lại. Trong khi đó, bệnh Đậu dê là một bệ
nh
sảy ra hết sức nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay và có rất ít các thông tin về dịch tễ học và
điều trị loại bệnh này. Việc cần thiết hơn nữa là tiếp tục thu thập các thông tin về bệnh đậu để
tìm ra hướng điều trị đặc hiệu. Một điều quan trọng khác cũng được nhận ra là việc sử dụng
những chế phẩm củ
a Ivermectin để điều trị bệnh nội ký sinh trùng cho dê. Tuy nhiên người
dân đã không quan tâm nhiều đến phương pháp điều trị này vì lý do họ phải trả tiền thuốc, hậu


Nội dung 6. Xác định hiệu quả kinh tế của việc tác động những biện pháp kỹ thuật mới
tới khả năng sản xuất của dê.

Kết quả 6.1 Số liệu về hiệu quả kinh tế về khả năng sản xuất của dê
Hoạt động 6.1.1 đã được hoàn thành với sự thu thập số liệu về thu nhập và chi phí của mỗi
nông hộ tham gia vào dự án, việc phân tích số liệu này sẽ được thực hiện vào thời gian tới. Số
liệu này sẽ được sử dụng để so sánh với số liệu thu thậ
p sau khi các biện pháp kỹ thuật mới
được áp dụng.

5.2. Lợi ích của các nông hộ

Lợi ích của các nông hộ chăn nuôi dê ở các tỉnh miền Trung Việt Nam là rất rõ ràng. Dê của
họ được cung cấp vacxin, thuốc điều trị bệnh, do đó tỷ lệ chết đã giảm rõ rệt, tăng trọng nhanh
hơn, người dân có nhiều dê hơn để bán giống hay bán thịt. Việc cải tạo chuồng trại cho dê từ
đó đã làm trong sạch môi trường sống cho cả người và gia súc, và nguồn phân thu gom đượ
c
có thể sử dụng để bón cho cây trồng và đồng cỏ. Rất nhiều nông dân đã ngạc nhiên rằng họ đã
thu được rất nhiều phân từ sau khi cải tạo chuồng trại. Họ cũng được cung cấp những con dê
đực khoẻ mạnh để phối giống cho đàn dê cái. Người dân cũng nhận thấy việc cung cấp các
giống cỏ là hết sức cần thiết vì họ nhận ra rằ
ng dê của họ rất cần có các loại thức ăn có chất
lượng trong mùa khô. Trong năm tới, một số nông hộ tiêu biểu sẽ được chọn làm các mô hình,
từ đó những nông dân khác có thể học tập theo và áp dụng những biện pháp kỹ thuật mới này
để nâng cao năng suất chăn nuôi dê của các hộ.

5.3. Nâng cao năng lực

Trọng điểm chính của dự án trong giai đoạn này là đào tạo cho các cán bộ dự án thuộc các sở

một điều là chúng ta đã thiết lập được những nông hộ áp dụng thành công các biện pháp kỹ
thu
ật mới trong chăn nuôi dê. Khi lần đầu tiên giới thiệu những biện pháp kỹ thuật mới này
vào chăn nuôi dê tại Lâm Đồng, nơi mà hầu hết các ý kiến và các hoạt động trước đây cho
rằng môi trường ở đây không thích hợp cho chăn nuôi dê, tuy nhiên sau khi áp dụng những
biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất chăn nuôi dê ở các hộ gia đình tại đây đã đạt được thành
công và đem lại lợ
i nhuận khá cao cho người chăn nuôi

5.5. Quản lý dự án

TS. Nguyen Thi Mùi và TS.Dinh Van Bình đã có sự chỉ đạo quyết liệt và ủng hộ cho việc thực
hiện dự án này ở miền Trung Việt Nam. Các nhân viên kỹ thuật từ Trung tâm Nghiên cứu Dê
và Thỏ Sơn Tây đã góp phần tích cực trong việc điều tra và triển khai kế hoạch thực hiện tại
mỗi nông hộ. Trong mỗi lần thăm Việt Nam TS. Norton luôn được lên kế hoạch trùng khớp
với những kế hoạch và những tri
ển khai mới, và chỉ trong một năm thực hiện dự án đã có rất
nhiều mục tiêu đã được thực hiện. TS. Norton có trách nhiệm chuẩn bị báo cáo toàn diện về
các kết quả và các quyết định thực hiện trong mỗi chuyến thăm và được thông qua tất cả các
cán bộ dự án. Điều đó có thể tránh được những vấn đề bàn cãi về các kế hoạch đã thực hiện.
Tuy nhiên sự giao thiệp giữa Việt Nam và Australia vẫn còn hạn chế

6. Các vấn đề khác có liên quan

6.1 Môi trường

Đã không có bất kỳ vấn đề trở ngại nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án ngay cả những
vấn đề có thể phát sinh trong thời điểm mùa mưa cũng đã được lường trước khi chọn lựa các
nông hộ tham gia dự án. Tuy nhiên một số giống cỏ được sử dụng trong việc thiết lập diện tích
đồng cỏ cho một số hộ nông dân đ

khác. TS. Bình có kế hoạch là sẽ chọn lọc phân loại tìm ra những con dê đực có thành tích tốt
nhất sau đó đem đi phối giống cho tất cả đàn dê cho các hộ dân tham gia, trong thời gian triển
khai dự án. Nhưng vấn đề nảy sinh là làm thế nào để chọn lọc được những con dê đực có
thành tích sản xuất tốt, nếu chỉ đánh giá theo các chỉ tiêu về đặc điểm ngoại hình và thể tr
ọng
thì chưa hoàn toàn chính xác, lý do là những con này có thể là những con sinh ra từ đơn thai
và được nuôi với chế độ dinh dưỡng tốt hơn, chứ chưa chắc chắn là những con có tiềm năng
sản xuất giống tốt thực sự. Trong khi chúng ta muốn chắc chắn rằng tất cả các hộ nông dân
tham gia dự án sẽ có dê đực để phối giống cho đàn dê cái của họ trong năm tới mà việc chọn
lọc nh
ững con dê đực tốt cần phải có thời gian. Một gợi ý có thể là giải pháp cho vấn đề này là
sử dụng tinh đông viên từ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, tuy nhiên việc vận
chuyển, bảo quản tinh từ Trung tâm đến các tỉnh triển khai dự án là rất khó khăn. Vấn đề này
sẽ được đưa ra thảo luận trong cuộc họp hội đồng của dự án vào tháng 11 năm 2007

7.2. Sự lựa chọn

Kế hoạch của dự án cho phép có sự chon lựa khác nhau trong qúa trình thực hiện để có được
kết quả. Cho đến thời điểm này chúng tôi nhận thấy chưa có vấn đề gì cần thay đổi so với kế
hoạch ban đầu, và không có những quyết định nào được đưa ra về sự cần thiết phải có sự lựa
chọn khác cho các hoạt động của dự án.

7.3. Tính bền vững

Vì dự án mới được triển khai do đó chúng tôi nhận thấy rằng chưa có bất kỳ vấn đề nào xuất
hiện mà có thể ảnh hưởng đến tính bền vững lâu dài của dự án. Những vấn đề này sẽ được
thảo luận trong những báo cáo tiếp theo.

8. Những bước quan trọng tiếp theo


về những thứ thiếu h
ụt tại các nông hộ cần sự giúp đỡ, chiến lược can thiệp được đặt ra và áp
dụng cho mỗi nông hộ trước mùa mưa. Thành công của việc áp dụng những chiến lược này sẽ
được đánh giá trong chuyến thăm dự án vào tháng 3 năm 2007, và những đề nghị khác đã làm
để xem xét những thiếu sót đã nhận ra trong hệ thống.
12


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status