Bộ Nông nghiệp và PTNT
Việt Nam
Chính phủ Australia
AusAIDBẢN BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN 009/VIE05
Phát triển và ứng dụng những kỹ thuật mới phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê
và tăng thu nhập cho các hộ nông dân
tại các tỉnh miền trung Việt Nam
MS6 - BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ 4
1. Thông tin về dự án
Tên Dự án
Phát triển và ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp nhằm
nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi dê và tăng thu
Tây, miền Bắc Việt Nam. Những nghiên cứu của trung tâm thuộc chương trình R&D của
quốc gia và thế giới bước đầu đã được tiến hành thành công ở các nông trường miền Bắc.
Hiện nay các cấp chính quyền địa phương và trung ương đều hi v
ọng có thể đạt được
những bước cải thiện tương tự ở miền Trung và Nam Việt Nam. Mặc dù Việt Nam không
hề thiếu về công nghệ, tuy nhiên việc ứng dụng những công nghệ này và hỗ trợ về vốn
cho các hộ nông dân nhỏ còn rất hạn chế. Theo mục tiêu kế hoạch 3 năm đã đề ra thì
chúng ta cần phải xác định những mặt hạn chế để từ đó nâng cao
được năng suất và chất
lượng những nông trại ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng; đào tạo nguồn
nhân lực cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, những người tham gia dự án và
nông dân địa phương trong công tác chăn nuôi dê và trong việc áp dụng các công nghệ
tương thích mới (cải thiện hệ thống chuồng trại, kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất
lượng và nguồn cung con giống, cho ra đời những con dê đực Bách Thảo có chấ
t lượng
gen tốt. Bằng cách này, chúng ta có thể giảm thiểu được những mặt hạn chế về năng suất
và tăng thêm thu nhập cho những nông trại khu vực này.
Bản báo cáo bán thường niên lần thứ 4 (7-12/2007) đã thể hiện sự tiến bộ trong công tác
thực hiện dự án giai đoạn này. Trong suốt tháng 9, 10 và 12/2007, tất cả các nông trại đã
được tiến hành thanh tra về tiến độ, phương án giải quyết sự c
ố và tiến trình đưa các dự
án vào thực hiện. Dòng F1 được sinh ra từ những con đực giống tốt vừa được giới thiệu
vào tháng 5/2007, sức khoẻ và cân nặng được theo dõi và ghi nhận vào tháng 9 và 12.
Hiệu quả của loại vắc xịn chống bệnh ở dê đang được thử nghiệm và sẽ có kết quả vào
tháng 3 tới. Giai đoạn tới của dự án sẽ tập trung giới thiệu một trong các khâu quan trọ
ng
nhất là kỹ thuật dự trữ và bảo quản cỏ khô. Thông báo xoá nợ cho UQ và GRRC cũng sẽ
được đưa ra.
3.Tóm tắt thực hiện
Ngành chăn nuôi dê Việt Nam đã được mở rộng nhanh chóng ở miền Bắc với sự xuất
hiện những công nghệ mới trong việc kiểm soát dịch bệnh, tổ chức cấy giống và giới
thi
ệu chọn lựa con giống nội (Co, Bách Thảo) và nhập ngoại (Boer, Saanen, Jumnapari )
tới người chăn nuôi.
Trung tâm nghiên cứu Thỏ và Dê đã tiến hành những nghiên cứu ban đầu ở Ba Vì, từ đó
mở rộng phát triển sang ngành chế biến thịt dê và sữa. Trong khi thịt dê không phải là
loại thực phẩm chính ở thị trường Việt Nam, lợi nhuận kinh tế mà các nông trại nuôi dê
thu được lại tương đối cao và đang thu hút rất nhiều nông dân chuyể
n sang chăn nuôi dê.
Dê đặc biệt quan trọng đối với những người nông dân nghèo, vì vốn đầu tư ít nhưng lợi
nhuận đem lại cao. Các dự án đề xuất nay đã được tiến hành và đang thu hút vốn tài trợ
của AusAID thông qua chương trình CARD với mục tiêu chủ yếu là hỗ trợ cho nông dân
nghèo ở các tỉnh miền Trung Việt Nam ( Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng), công
nghệ mới này được phát triển bởi GRRC miền Bắc. Chính tiêu
đề của dự án đã phản ánh
rõ mục tiêu này: “Cải thiện và bổ sung những công nghệ tương thích mới để cải thiện
công tác chăn nuôi dê và nâng cao thu nhập cho những người thu nhập thấp ở khu vực
miền Trung Việt Nam”.
Đây là một chương trình bao gồm đầy đủ các khâu từ khảo sát nông trại tới lên kế hoạch
chiến lược nhằm cải thiện sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng cho dê, cũng như
đào tạo nông
dân nguồn và nguồn nhân lực cho Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn trong việc ứng
dụng công nghệ mới. Các hoạt động này sẽ ngày càng được nhân rộng thông qua việc
tiến hành các buổi đàm luận, thảo luận của những nông dân đang ứng dụng mô hình nông
trại trên. Bản báo cáo sau đây sẽ mô tả chi tiết kết quả của việc áp dụng lần đầu tiên dự
án này tại Việt Nam song hành vớ
i các chiến lược cho dự án bổ sung và nâng cao khâu
tổ chức quản lý, cũng như ghi nhận việc thực hiện đúng tiến độ dự án và kế hoạch hành
động trong vòng 6 tháng tới.
là trồng sắn, cây ăn quả, trồng rừng và chăn nuôi. Năm 2004, số lượng đàn dê tại các tỉnh
Ninh Thuận, Bình Thuận, và Lâm Đồng tương ứng là 93.930, 35.275 và 9.309 con. Lao
động chăm sóc dê phần lớn là lao động phụ n
ữ và trẻ em. Thu nhập từ chăn nuôi ước tính
chiếm khoảng 22- 25% trong tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp hàng năm. Có ba
loại hệ thống nông nghiệp (bao gồm vùng thấp với lượng mưa nhiều; vùng cao với lượng
mưa ít và khu vực cao với lượng mưa nhiều) được lựa chọn. Thông qua việc khảo sát mỗi
doanh nghiệp, sẽ kế hoạch lựa chọn ra 27 hộ nông dân (15 hộ tại Ninh Thu
ận, 09 hộ tại
Bình Thuận và 03 hộ tại Lâm Đồng) để triển khai tiếp dự án bằng cách cung cấp những
kỹ thuật mới (xây dựng chuồng trại, chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng cho dê giống) như
đã định. Những hộ nông dân tham gia này cũng sẽ được đào tạo trong khoá đào tạo ngắn
hạn tại TT Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tâyvà sau đó sẽ được các cán bộ Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn tỉnh hướng dẫn thực tế cách áp dụng những kỹ năng quản lý này
ngay tại nông hộ. Tại mỗi tỉnh, 02 hộ nông dân sẽ được lựa chọn làm các hộ mô hình
chăn nuôi dê và được sử dụng làm phương tiện để tham quan, đào tạo các nông dân khác
ngoài dự án. Những hộ nông dân được lựa chọn tham gia dự án là những hộ có kinh
nghiệm trong chăn nuôi dê, có số lượng dê từ 50-100 con và có đủ diện tích để trồng các
loại cây thức ăn theo yêu cầu của dự án. Cách tiếp cận tổng thể các biện pháp kỹ thuật
mới này được ưu tiên hơn là cách tiếp cận từng phần chỉ bằng cách tiến hành can thiệp
riêng lẻ (ví dụ như chỉ tiến hành điều trị bệnh cho dê). Phương pháp tiếp cận này được áp
dụng thành công tại các tỉnh Miền Bắc Việt Nam và mong muốn sẽ cung cấp và nâng cao
nhanh chóng kh
ả năng sản xuất các hệ thống tương tự tại Miền Trung Việt Nam. Một
sáng kiến mới khá quan trọng cho dự án này là hỗ trợ xây dựng xưởng chế biến thịt dê tại
Trạm Nghiên cứu Dê Cừu Ninh Hải, Ninh Thuận.
Sự thiếu hụt về đội ngũ cán bộ và các đơn vị hỗ trợ sẽ được nâng cấp bởi một chương
trình đào tạo toàn diệ
n. Trước hết là tập huấn cho các cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn tại TT Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tâyvà tạo điều kiện cho họ liên kết
án có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện đường xá, thời tiết khí hậu, và thời gian của tất
cả các hoạt động sẽ được lên kế hoạch với những hạn chế này trong suy nghĩ. Nó sẽ
được lên kế hoạch để giới thiệu những dê đực giống Bách Thảo để thay thế những con
đang sử dụng. Với những hệ thống phối giống liên t
ục thường xuyên tìm thấy, một khả
năng có thể sảy ra là trong những năm đầu tiên một số lượng ít dê cái không chửa sẽ được
sử dụng biện pháp thụ tinh nhân tạo bởi những con dê đực được giới thiệu. Một khả năng
khác cũng có thể sảy ra là bệnh ngoài da như Lở mồm long móng có thể được ảnh hưởng
kết quả của điều tra này. Tất c
ả những trở ngại nói trên (và những vấn đề phát sinh khác)
sẽ được đánh giá trong quá trình điều tra, chiến lược thực hiện được sửa đổi để đáp ứng
cho bất kỳ hạn chế nào. Trong khi có những điều được nhận ra rằng thảm hoạ tự nhiên
như bệnh tật, hạn hán, lũ lụt, hoả hoạn, bão có thể ảnh hưởng đến kết quả c
ủa dự án. Có
rất ít kế hoạch có thể được thực hiện để loại trừ những thiên tai. Sự ủng hộ và tham gia
hoạt động của nông dân trong việc quản lý những con dê được giới thiệu những chương
trình thí nghiệm là cần thiết, và tất cả nông dân sẽ được hướng dẫn và được ủng hộ của
địa phương (làng xã, huyện) và sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong việc thực
hiệ
n những tất cả các chiến lược theo kế hoạch.
Phương pháp nghiên cứu. Thành phần chính của dự án này là sự xác định những nguồn
sẵn có trong các hộ nông dân được chọn, từ những thông tin này chiến lược quản lý và
can thiệp sẽ được phát triển bởi các cán bộ dự án để chiến thắng được những hạn chế
nhận định thấy để nâng cao khả năng sản xuất. Do đó hoạt động đầu tiên của dự án sẽ là
tiến hành điều tra ở mỗi nông hộ đê được cung cấp những nguồn thông tin như trên, và
sau đó những thông tin này sẽ phản ánh trở lại những lĩnh vực cần được xác định. Nhóm
cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm từ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và
Australia sẽ v
ạch ra những chiến lược phát triển cho mỗi nông hộ tuỳ thuộc vào hoàn
cảnh của họ. Trong một số trường hợp, một chiến lược phát triển có thể áp dụng cho tất
Đầu ra 2.1 Việc đào tạo các cán bộ Sở NN-PTNT đã được báo cáo đầy đủ trong bản báo
cáo định kỳ sáu tháng đầu tiên.
Đầu ra 2.2 Việc chuẩn bị tài liệu hướng dẫn và minh hoạ cho những nông dân tham dự
đã hoàn thành được một phần (xem mục đầu ra 2.5 và 2.7 trong phần dưới) và sẽ được
tiếp tục hoàn thiệ
n
Đầu ra 2.3 Việc đào tạo những nông dân tham áp dụng công nghệ mới hiện vẫn đang
diễn ra, tương ứng trong bản báo cáo tiến độ của từng nông hộ. Phụ lục CD 4 đưa ra
những đánh giá và đề xuất cho mỗi trang trại qua cuộc điều tra tháng 11-2007 của tiến sĩ
Norton và cán bộ Sở NN-PTNT. Ngoài những đánh giá việc áp dụng tại mỗi trang trại,
một số kết luậ
n cũng được đưa ra qua những mục tiêu thích hợp được trình bầy dưới đây
Hoạt động tập huấn chăn nuôi dê được xem như là một hoạt động hữu hiệu trong công tác
nâng cao chăn nuôi dê với các công nghệ nhân giống, cách thức chăn nuôi và quản lý sức
khoẻ cho dê. Tuy nhiên, kiến thức về cách quản lý chăn nuôi dê còn nông cạn, chưa hiểu
biết sâu về việc nâng cao sức khoẻ đàn dê bằng phương pháp tiêm chủng, từ đó số lượng
dê con và dê trưởng thành tăng, đặc biệt hơn nữa là kiến thức về nguồn thức ăn cho dê
trong mùa khô sắp tới. Do đó, cần phải quan tâm hơn nữa vào việc bảo quản nguồn thức
ăn khô nhằm đáp ứng nhu cầu trong 6 tháng tới.
Đầu ra 2.4 Lập báo cáo định kỳ sáu tháng và đánh giá tiến
độ dự án
Hoạt động 2.4.2 và 2.4.4 đã báo cáo toàn bộ trong giai đoạn trước. Bản báo cáo định kỳ
sáu tháng lần thứ tư chủ yếu mô tả toàn bộ tiến trình của hoạt động 2.4.5. Báo cáo cũng
đề cập đến cuộc họp của Ban lãnh đạo tư vấn lần thứ hai được tổ chức tại Phan Thiết,
Bình Thuận ngày 24/11/2007 nhằm họp bàn về tiến trình thực hiện công nghệ
đã được đề
xuất và tình hình giải ngân của UQ và Sở NN-PTNT tính đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2007 (CD phụ lục 5,6,7,8 và 9. Nội dung những cuộc họp được trình bày trong phụ lục 2
và 3)
Đầu ra 2.5: Chuyến đi thực tế và trình diễn phương pháp nâng cao năng suất chăn
Đầu ra 3.2 Kiểm soát các dịch bệnh nhằm nâng cao sức khoẻ cho dê tại các trang trại
Hoạt động 3.2.1 và 3.2.2 đang diễn ra và cách chữa trị và quản lý dê thường xuyên được
xem xét. Một số góp ý được nêu ra như sau:
Quá trình kiểm soát dịch bệnh. Đáp lại những quan sát trong dự án và cuộc bùng phát
dịch bệnh đầu mùa ở dê ở
miền Nam Việt Nam, chính Phủ Việt Nam đã tăng cường sản
phẩm thương mại vacxin miễn phí cho nông dân (thông qua Sở NN-PTNT) và chấp thuận
cho phép sử dụng trên khắp các tỉnh miền Nam. Đây là kết quả khá thành công của dự án
song một số yêu cầu cảnh báo cần được xem xét.
Cần điều tra tiếp hiệu quả của vacxin bệnh đậu mùa ở dê và tiêm chủng phải được kiểm
tra định kỳ 6 tháng một lần. Thí nghiệm này xác định khả năng miễn dịch được duy trì
trong bao lâu và việc kiểm tra bao gồm cả kiểm tra sản xuất vacxin tại Trung tâm vacxin
vệ sinh (CCVV). Giảm liều lượng sử dụng thường xuyên một số vacxin khác cũng cần
được xem xét
để giống dê không bị sử dụng lại. Ngoài những con dê Bách Thảo đượ
c cung cấp, anh
Hoa cũng đã được nhận 1 con dê Boer, anh Hung và anh Long nhận dê Saanen nhập từ
TT Nghiên cứu Ba Vì. Vào thời điểm viết báo cáo, số liệu thu thập vào tháng 12 chưa
được phân tích nên chi tiết sẽ được trình bày trong báo cáo tiếp theo. Hiện chưa có thông
tin về nguồn gốc, cân năng, loài giống của dê đực do dự án cung cấp, song mọi việc diễn
ra có vẻ tốt đẹp. Một con dê bị ong rừng đốt chết, con khác chết chưa biết rõ nguyên nhân
killed in the forest by bee stings (Mr Ta Tu) and another died from unknown causes. Anh Hải cùng với con dê giống Bách Thảo mới, tháng 11/2007
Mục tiêu 6. Đánh giá hiệu quả kinh tế các kỹ thuật chăn nuôi dê mới
Đầu ra 6.1. Dữ liệu kinh tế về năng suất nuôi dê
Hoạt động 6.1.1 đã được hoàn thành khâu thu thập thông tin về chi phí và thu nhập của
phục vụ lậu dài thực tiễn sản xuất chăn nuôi ở nước ta.
5.4 Tính quảng bá
Dự án này đã được biết đến khá nhiều ở miền Nam Việt Nam và đang ngày càng thu hút
thêm nhiều nông dân tiến hành thử nghiệm chăn nuôi dê. Nhóm làm việc Việt Nam hiện
đang được khuyến khích dựng lên các áp phích ở ngoài hoặc trên đường để quảng bá cho
sự hợp tác giữa Việt Nam và Ôxtrailia trong dự án này. Đại sứ Ôxtrailia, thông qua ngài
Simon Cramp, thư ký thứ nhất Đại sứ quán Ôxtralia sẽ tới thăm dự án trong chuyến thăm
tiếp theo tại miền Nam Việt Nam. Một bài viết trên bản tin của Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn xuất bản trong ấn phẩm thứ 3 (bằng tiếng Anh và tiếng Việt) đã thông
báo những thành quả đạt được của dự án nâng cao công tác chăn nuôi dê Việt Nam –
Ôxtraylia.
5.5 Quản lý dự án
Tiến sĩ Mùi và tiến sĩ Bình đã thể hiện khả năng lãnh đạo tuyệt vời và sự hỗ trợ to lớn
cho dự án ở miền Trung Việt Nam. Hội đồng kỹ thuật từ GRRC đã tiến hành khảo sát
việc ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất tại từng nông trường và công tác hướng
dẫn nông dân sủ dụng những công nghệ mới này. GRRC, Bộ NN và PTNT các cán b
ộ xã
huyện và những người nông dân tham gia dự án đã cùng nhau hợp tác rất ăn ý. Mỗi
chuyến thăm của tiến sĩ Norton tới Việt Nam đều được lên kế hoạch để có thể trùng khớp
với giai đoạn thực hiện áp dụng các kỹ thuật công nghiệ mới.
Tiến sĩ Norton đã chuẩn bị một bản báo cáo toàn diện các kết quả và quyết định được tiến
hành trong su
ốt chuyến thăm của mình, được lưu hành nội bộ trong hội đồng dự án. Bản
báo cáo này được hi vọng sẽ cung cấp những thông tin cập nhật về các buổi thảo luận và
các quyết định đưa ra nhằm giảm thiểu tranh luận xung quanh những vấn đề đã được lên
kế hoạch từ trước. Tuy nhiên, khoảng cách và sự khác biệt ngôn ngữ vẫn luôn là những
trở ngại trong quá trình tiếp xúc giữ
a các nhà quản lý Việt Nam và Ôxtraylia. Khoảng
7.1 Các hạn chế và thách thức
Không có một vấn đề nghiêm trọng nào cản trở việc tiến hành dự án như đã lên kế hoạch,
với việc tiếp cận và hợp tác ăn ý với hầu hết các nông trại tham gia, cùng với đó là sự
nhiệt tình ứng dụng các công nghệ kỹ thuật mới. Đáng chú ý, đây là khoá đào tạo tổ chức
tương đối phức tạp, đòi hỏi s
ự hợp tác làm việc của rất nhiều cá nhân, nhưng tiến sĩ Bình,
tiến sĩ Mùi và đội GRRC cùng nhau đã tiến hành rất thành công và chuyên nghiệp.
7.2 Lựa chọn
Kế hoạch của dự án lần này cho phép đa dạng hoá các giải pháp để tiến tới đạt được
những kết quả như kỳ vọng, sẽ không cần phải thay đổi kế hoạch ban đầu và do vậy đưa
ra quyết
định chọn lựa các phương án thay thế là không cần thiết.
7.3 Tính bền vững
Tính bền vững của các ứng dụng công nghệ mới mà dự án đã giúp đỡ cải thiện sẽ còn
phụ thuộc rất nhiều vào cách người nông dân sử dụng nó trong thực tiễn sản xuất. Dự án
đã đưa ra những nguyên tắc căn bản để cải thiện chất lượng đàn dê như kiểm soát dị
ch
bệnh, tạo dựng nguồn thức ăn quanh năm, nâng cao khả năng quản lý để ngăn ngừa tỉ lệ
bệnh tật và tử vong cao vốn là đặc điểm của ngành chăn nuôi dê ở miền Nam Việt Nam.
Vấn đề này theo gợi ý sẽ được thảo luận thêm ở hội nghị nông dân tại Phan Thiết, nhưng
nó đã không được phía Việt Nam chấp thuận. Cuối năm tới, vi
ệc người nông dân có còn
tiếp tục đầu tư tiến hành áp dụng các công nghệ mới naỳ hay không sẽ càng rõ ràng hơn.
8. Các vấn đề quan trọng tiếp theo:
Các kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo của dự án được đưa ra trong khung dự án, sẽ bao
gồm những nhận xét bình luận về thành công của công tác ứng dụng công nghệ mới, tiêm