dạy học thơ đường trong sách giáo khoa ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

TRẦN THỊ MINH TÂM
DẠY VÀ HỌC THƠ ĐƢỜNG
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái Nguyên - Năm 2011

Thái Nguyên - Năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN !
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Hoàng Hữu Bội -
Người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng
đào tạo - Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ, khích lệ em trong quá trình nghiên cứu và học
tập tại trường.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh
Phúc, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn trường THPT Thái Hòa
và trường THPT Bố Lý - Tỉnh Vĩnh Phúc, bè bạn, đồng nghiệp cùng những
người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Tâm


1.1.2. Đặc điểm nội dung: 14
1.1.3. Đặc điểm hình thức 28
1.2. Cơ sở thực tiễn 38
1.2.1. Mục đích khảo sát: 38
1.2.2. Nội dung khảo sát: 38
1.2.3. Địa bàn, thời gian khảo sát: 39
1.2.4. Phương pháp khảo sát: 39
1.2.5. Kết quả khảo sát: 39
CHƢƠNG 2: ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN THƠ ĐƢỜNG
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 50
2.1. Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” – Lý Bạch . 51
2.1.1. Giá trị nội dung – nghệ thuật của bài thơ qua ý kiến của các nhà nghiên
cứu văn học: 51
2.1.2. Định hướng dạy học bài thơ theo hướng dẫn của Sách giáo viên: 58
2.1.3. Định hướng dạy học bài thơ theo hướng dẫn của một số cuốn thiết kế 66
2.1.4. Định hướng dạy học do luận văn đề xuất: 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ii
2.2. Bài thơ “Cảm xúc mùa thu” của Đỗ Phủ: 83
2.2.1. Giá trị nội dung – nghệ thuật của bài thơ qua ý kiến của các nhà nghiên
cứu văn học: 83
2.2.2. Định hướng dạy học bài thơ theo hướng dẫn của sách giáo viên: 92
2.2.3. Định hướng dạy học bài thơ theo hướng dẫn của một số cuốn sách thiết
kế giảng dạy: 100
2.2.3. Định hướng dạy học do luận văn đề xuất: 119
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 123
3.1. Thiết kế bài học: 123
3.1.1. Bài “Hoàng Hạc lâu tiễn Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lý

PHẦN MỞ DẦU
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Thơ Đường là một trong những đỉnh cao của văn học Trung Quốc,
là một thành tựu rực rỡ của văn học nhân loại. Sự kế thừa và phát huy những
giá trị đặc sắc quá trình phát triển lâu dài của thơ ca dân tộc từ Kinh Thi,
Nhạc Phủ đến Sở - Từ, dân ca Nam Triều… đã làm nên nét tinh hoa của thơ
Đường, giúp cho thơ Đường vượt qua được thách thức của thời gian, dâu bể,
mang đến cho người đọc mọi thế hệ sức hấp dẫn lạ kỳ.
Đã từ lâu vẻ lịch duyệt, thanh thoát, bay bổng của thơ Đường đã khuếch
tán, thẩm thấu và trở thành một phần không nhỏ trong đời sống tinh thần của
con người Việt. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam đã vận dụng một cách tài tình
đề tài, thi liệu, tứ thơ, điển cố và ngôn ngữ thơ Đường trong các sáng tác nghệ
thuật của mình. Đến với thơ Đường ta không chỉ thỏa mãn nhu cầu khám phá
cái đẹp của văn chương nhân loại, mà góp phần hiểu hơn về văn học cổ điển
Việt Nam với một niềm tự hào về khả năng sáng tạo tuyệt vời của mọi thế hệ
người Việt. Lịch sử đổi thay, văn học chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện
đại hóa. Và chính những trí thức Tây học, mặc đồ Tây, học tiếng Pháp, hiểu
biết sâu sắc văn học Pháp đã dành niềm ưu ái cho thơ Đường, thổi vào những
sáng tác thơ Mới phong vị Đường thi. Chất liệu Đường thi đã thấm sâu vào
thế giới nghệ thuật Thơ mới. “Âm hưởng thơ Đường rất quen thuộc đó lại tan
một cách tài tình vào câu thơ Việt Nam tự do hơn, thích hợp hơn với nội dung
mới” (Nam Trân).
Đối với chúng tôi, không biết tự bao giờ cái thâm trầm, ý vị của thơ
Đường đã ngấm sâu, lắng đọng trong tâm hồn, để rồi đôi lúc trong tâm khảm
vang ngân những câu thơ Đường nhẹ nhàng thấm đẫm dư vị: “Phương thảo
thê thê anh vũ Châu”, “Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên”, “Cố nhân tây từ
Hoàng Hạc lâu”, “Cử đầu vọng minh nguyệt; Đê đầu tư cố hương”, “Yên ba

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



3
1.3. Thơ Đường đến với Việt Nam có nhiều cách tiếp cận, thẩm thấu.
Các cụ đồ Nho xưa thì nhấm nháp, thưởng thức “cái hay, cái đẹp” trong ngôn
từ, hình ảnh của các bài thơ Đường. Còn ngày nay, các nhà nghiên cứu tùy
vào bản lĩnh khoa học của mỗi người có những cách tiếp cận cụ thể: Giáo sư
Phan Ngọc trong cuốn “Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ” khẳng định:
“Thơ Đường không thể đọc bằng mắt mà phải đọc bằng quan hệ…Vì nhiệm
vụ của thơ Đường nêu lên tính thống nhất…”[24, tr119]. Tác giả Nguyễn
Quốc Siêu với cuốn “Thơ Đường bình giải” chú trọng việc giải thích chữ
nghĩa và bình giá nét đặc sắc ở một số câu thơ tiêu biểu trong bài thơ. PGS-
TS Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn “Bình giảng thơ Đường ” đã đề xuất một
hướng khám phá và phân tích thơ Đường: “khởi phát từ nhan đề, đi từ ngoại
cảnh đến nội tâm để trở về với đề”[13]. Tác giả Hồ Sĩ Hiệp trong cuốn “Thơ
Đường trong nhà trường phổ thông” thì đi khám phá thơ Đường với những
nét khái quát ở phương diện ngôn từ, hình ảnh. Như vậy có thể khẳng định,
chưa có một phương pháp luận khoa học thống nhất, mang tính định hướng
cho giáo viên trong giảng dạy thơ Đường. Vậy ở trường phổ thông, thầy và
trò lựa chọn hướng khai thác nào? Đây là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu
nhưng luôn mang tính thời sự. Đây cũng là một lý do nữa khiến chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu này.
1.4. Thơ Đường là một thế giới vừa thi vị vừa thanh cao, tao nhã. Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ “Cảm tưởng đọc thiên gia thi” đã viết:
“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông.”
Còn học sinh ngày nay, các em sinh ra và lớn lên trong thời kỳ khoa
học kỹ thuật phát triển. Đất nước đã hoàn toàn đổi thay so với cái thời bay
bổng và say sưa trong thế giới thơ Đường của các cụ ngày xưa. Thế hệ tương
lai của đất nước năng động hơn, sáng tạo hơn đồng thời cũng phải đối mặt với


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
với “Đường thi” (phiên dịch); Trần Trọng Kim với “Đường thi” (dịch); Trúc
Khê Ngô Văn Triện với phần dịch thơ Lý Đỗ….Cùng với việc dịch thuật,
hàng loạt các bài viết của các nhà nghiên cứu như: GS Lương Duy Thứ, GS
Nguyễn Khắc Phi, GS Lê Đức Niệm với cuốn “Diện mạo thơ Đường”…đã
đưa thơ Đường vượt qua sự cách trở của không gian, thời gian đến với độc giả
Việt Nam một cách rộng mở.
Hướng nghiên cứu về hình thức thể loại: Nhìn chung các bài nghiên cứu,
các chuyên luận đã bàn đến hình thức, thể loại của thơ Đường nhưng vẫn
dừng lại ở mức độ khiêm tốn.
Hướng nghiên cứu về thi pháp: ta có thể kể tới cuốn “Thi pháp thơ
Đường”: gồm 26 bức thư của Quách Tấn trình bày đại lược về thể thơ Đường
luật - vạch rõ những ưu khuyết điểm và giảng thêm đôi quy tắc cơ bản của
luật thi. Bản dịch từ tiếng Pháp của tác giả Nguyễn Khắc Phi với tựa đề “Bút
pháp thơ ca Trung Quốc” (được tin trong cuốn “Thi pháp thơ Đường” viết
chung với tác giả Trần Đình Sử), tác giả Trần Đình Sử với chuyên luận
nghiên cứu sâu về thời gian, không gian nghệ thuật thơ Đường…Hướng
nghiên cứu của các học giả đã chỉ ra những đặc trưng nổi bật của thơ Đường.
2.2. Lịch sử nghiên cứu phương pháp giảng dạy thơ Đường trong
trường THPT:
Thơ Đường là một vườn hoa trăm hồng ngàn tía, với thời lượng 45 phút
trên lớp người giáo viên gặp không ít khó khăn trong việc tổ chức, hướng dẫn
học sinh chiếm lĩnh tác phẩm. Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về
phương pháp giảng dạy thơ Đường.
Ta có thể kể tới cuốn “Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ” Giáo sư
Phan Ngọc. Tác giả Nguyễn Quốc Siêu với cuốn “Thơ Đường bình giải”.
PGS-TS Nguyễn Thị Bích Hải với cuốn “Bình giảng thơ Đường ”. Có thể
khẳng định đây là những công trình rất công phu, đưa ra nhiều cách tìm hiểu,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
5.1. Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết: Đặc điểm thơ Đường ở hai
phương diện nội dung và nghệ thuật; phương pháp giảng dạy văn học theo
đặc trưng thể loại và cách tổ chức học sinh chiếm lĩnh tác tác phẩm theo
hướng đổi mới về phương pháp dạy học.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu hứng thú và khả năng cảm thụ của
học sinh Việt Nam ngày nay với các văn bản thơ Đường của Trung Quốc thời
xưa và thực tiễn giờ dạy của giáo viên ở trên lớp.
5.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính đúng đắn của
những biện pháp đã đề xuất.
6. Giả thiết khoa học:
- Những đề xuất của luận văn được áp dụng trong thực tiễn giảng dạy sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy, kích thích hứng thú và khơi gợi khả
năng cảm thụ văn chương của học sinh.
- Học sinh phát huy tính chủ động sáng tạo, vượt qua được những băn
khoăn, trở ngại khi đứng trước một văn bản thơ Đường được đánh giá là hay
nhưng khó với học sinh phổ thông.
- Những đề xuất của luận văn cũng góp phần khẳng định tính đúng đắn
của việc đổi mới phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông theo
chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu:
7.1 Vận dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp tổng hợp lý luận: Sử dụng phương pháp tổng hợp lý luận
nhằm đưa ra những cơ sở lý luận về thơ Đường, đặc trưng của thơ Đường, tìm
hiểu đặc điểm cảm thụ của học sinh trung học phổ thông để đưa ra nội dung,
phương pháp, biện pháp dạy học cụ thể về văn bản thơ Đường trong sách giáo
khoa Ngữ văn 10.



9
2. Tổ chức dạy thực nghiệm.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC
THƠ ĐƢỜNG THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
Ở chương này chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
của đề tài. Dựa vào các công trình nghiên cứu về thơ Đường của các nhà khoa
học, chúng tôi sẽ trình bày về: lịch sử phát sinh, phát triển, đặc điểm nội dung,
hình thức của thơ Đường để làm cơ sở lý luận cho đề tài.
Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát, điều tra thực tế dạy học thơ Đường
để làm cơ sở thực tiễn cho vấn đề dạy và học các bài thơ Đường trong chương
trình THPT theo đặc trưng thể loại.
1.1. Cơ sở lý luận:
1.1.1. Lịch sử phát sinh và phát triển của thơ Đƣờng
1.1.1.1. Lịch sử phát sinh của thơ Đƣờng
Các nhà nghiên cứu về thơ Đường đã cho ta biết, thời nhà Đường kéo dài
300 năm (618 - 907), được bắt đầu từ khi Lý Uyên cướp thành quả của nông
dân khởi nghĩa, lên ngôi vua và lập ra nhà Đường, thi hành nhiều chính sách
cải cách xã hội. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế, thơ ca cũng phát
triển rực rỡ, nội dung phong phú, hình thức điêu luyện. Thơ Đường trở thành
mẫu mực, là đỉnh cao văn học Trung Quốc.
Thơ Đường có gần năm vạn bài thơ và trên 2300 nhà thơ. Sự phát triển
vượt trội của thơ Đường là do nhiều nguyên nhân. Theo Giáo sư Lương Duy
Thứ trong cuốn “Giáo trình văn học Trung Quốc”, NXB Giáo dục,1997, thì
thơ Đường phát triển là do những nguyên nhân sau:
Chế độ thi cử đời Đường đặc biệt coi trọng thơ ca. Trước thời Đường
chọn nhân tài theo chế độ cửu phẩm trung chính lập từ Ngụy Tấn. Thời Tùy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Huyền Tông lại tôn làm Đại thánh tổ Huyền Nguyên hoàng đế, đích thân chú
thích “Đạo đức kinh” để phổ biến. Đạo sĩ được coi trọng. Vương hầu khanh
tướng tin đan dược ưa cầu tiên. Mặt khác đạo Phật cũng được du nhập vào rất
thịnh đạt. Hai vị sư Huyền Trang (thời Trịnh Quán) và Nghĩa Tĩnh (Cao
Tông) đã vượt qua bao khó khăn gian khổ để sang Ấn Độ đem Kinh Phật về
truyền bá ở Trung Quốc. Đến thời Văn Tông ở Trung Quốc có hơn bốn trăm
vạn ngôi chùa và bảy mươi vạn tăng ni. Sự giải phóng tư tưởng tạo điều kiện
để thơ Đường phát triển đa dạng và phong phú.
Thơ ca đời Đường phát triển do sự phát triển của các ngành nghệ thuật
khác như: hội họa, âm nhạc, vũ đạo ….
Hội họa đời Đường có nhiều thành tựu với ba nhà danh họa đó là
Vương Duy, Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn. Vương Duy chuyên về tranh sơn
thủy bằng mực Tàu mở đầu cho phái Nam Tông, đồng thời ông cũng là một
nhà thơ nổi tiếng đời Đường. Tô Thức đã nói: “Trong thơ Ma Cật có họa,
trong họa Ma Cật có thơ”. Như vậy ta có thể khẳng định hội họa và thơ ca
đời Đường gắn bó với nhau chặt chẽ, sâu sắc.
Âm nhạc ở thời Đường cũng đặc biệt phát triển. Có những nhà âm nhạc
nổi tiếng như Lý Quy Niên. Thơ ca đời Đường đã trở thành nguồn nguyên
liệu phong phú, dồi dào cho âm nhạc. Rất nhiều bài thơ của các nhà thơ được
phổ nhạc và phổ biến rộng rãi. Việc Bạch Cư Dị nghe đàn tỳ bà và viết nên
khúc “Tỳ bà hành” làm xúc động người đọc nhiều thế hệ là một minh chứng
cho sự hòa quyện, gắn bó giữa thơ và nhạc ở đời Đường.
Bên cạnh đó vũ đạo đặc biệt phát triển ở thời Đường. Đồng thời việc
mở rộng thông thương giúp âm nhạc và hội họa đời Đường thăng hoa và gắn
bó máu thịt với thơ ca. Có lẽ bởi vậy đọc thơ Đường ta cảm nhận như “ngậm
âm nhạc trong miệng”


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
“Phái thơ Biên tái”:gồm Cao Thích (702-765) và Sầm Tham (715-
770), hay còn gọi là phái “Cao- Sầm”: Thơ của họ viết về cuộc sống ở chốn
biên cương, nỗi nhớ nhung ly biệt của người vợ có chồng đi chinh chiến.
“Phái thơ Lãng mạn”: Nhà thơ tiêu biểu là Lý Bạch: Những vần thơ
của ông thể hiện một sự bay bổng, phóng khoáng với những ước mơ táo bạo.
“Phái thơ hiện thực”: Đứng đầu là nhà thơ Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Thơ
của ông mang đậm chất hiện thực, mang nội dung xã hội sâu sắc.
Trung Đƣờng: ( 766-827 ): Thời kỳ này mâu thuẫn xã hội ngày một sâu
sắc. Loạn An Sử đã bị dẹp nhưng nhà Đường không trở lại được đỉnh cao huy
hoàng như trước. Xuất hiện tiếng thơ ai oán, tiêu cực: Thơ của Lý Bạch, Liễu
Tông Nguyên, Đỗ Phủ…Thời kỳ này có hai nhà thơ lớn đó là Bạch Cư Dị và
Nguyên Chuẩn.
Vãn Đƣờng: ( 827-904 ) Nhà Đường lung lay, sụp đổ. Thơ ca cũng lâm
vào bước thoái trào, tuy nghệ thuật sáng tác điêu luyện nhưng nội dung mang
tính chất bi trầm, thể hiện nỗi bi quan thất vọng trước buổi “ hoàng hôn” của
triều đại. Một số nhà thơ chú trọng lời lẽ tế nhị uyển chuyển ít có ý nghĩa xã
hội như Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục. Bên cạnh đó có một số nhà thơ tuy không
nổi tiếng bằng song lại kiên trì khuynh hướng Tân Nhạc Phủ do Bạch Cư Dị
đề xướng, đó là Nhiếp Di Trung, Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc…
Tóm lại thơ Đường có nhiều hình nhiều vẻ, nhiều phong cách, nhiều
nhà thơ, nhưng nổi bật nhất là hai trào lưu chính: Lãng mạn và hiện thực. Ngô
Tất Tố đã nhận xét về quá trình phát triển của thơ Đường như sau: “Sơ Đường
phần nhiều hay về khí cốt nhưng lối dùng chữ đặt câu chưa được chau chuốt
cho lắm. Vãn Đường giỏi vê từ tảo, lời đẹp ý sâu nhưng lại thiếu phần hùng
hồn, có khi còn bị cái tội ủy mị là khác. Duy có Thịnh Đường ở vào giữa hai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


15
(Tương tiến tửu)
(Há chẳng thấy nước sông Hoàng Hà từ trời tuôn xuống
Chảy tuột bể Đông chẳng quay về)
Dòng sông như sống dậy dưới ngòi bút nhà thơ, nó truyền cho người
đọc một tinh thần lạc quan, một niềm tự hào về quê hương, tổ quốc. Hình ảnh
dòng sông Trường Giang còn trở lại nhiều lần trong thơ Lý Bạch:
“Sông Hoàng chảy vỡ núi Côn Lôn
Thét gào muôn dặm húc Long Môn”
(Công vô độ hà)
“Cô phàm viễn ảnh bích không tận”
Duy kiến trường giang thiên tuế lưu”
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi quảng Lăng)
Với tâm hồn bay bổng, Lý Bạch đã tưởng tượng thác Hương Lư như
sông Ngân Hà tuột khỏi mây. Quả là một liên tưởng bất ngờ và thú vị của “thi
tiên” Lý Bạch:
“Nắng rọi Hương Lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây”
(Vọng Lư Sơn bộc bố)
Còn nhà thơ hiện thực nhất thời Đường – Đỗ Phủ đã miêu tả rất chân
thực bức tranh mùa thu đặc trưng của Trung Quốc. Bức tranh ấy được vẽ nên
bởi tâm hồn, tình cảm của một trái tim luôn thiết tha với quê hương, đất nước.
Chính nhà thơ Đỗ Phủ, trong giây phút vui mừng hiếm hoi của cuộc đời mình
đã tạo dựng nên một bức tranh phong cảnh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống:
Lưỡng cá Hoàng Ly minh thúy liễu,
Nhất hàng Bạch lộ thướng thanh thiên;


thanh tĩnh, yên bình. Dường như tâm hồn con người cũng vô cùng thanh tĩnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
và hòa cùng thiên nhiên. Chỉ hai mươi chữ của bài thơ nhưng chúng ta được
cảm nhận một bức tranh toàn vẹn của cảnh sắc núi rừng.
Những cảnh sắc giản dị của cuộc sống, những quy luật bình thường của
tự nhiên cũng là nguồn thi hứng dồi dào cho các nhà thơ:
Xuân miên bất giác hiểu ,
Xứ xứ văn đề điểu .
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu .
Giấc xuân, sáng chẳng biết
Khắp nơi chim ríu rít;
Đêm nghe tiếng gió mưa ;
Hoa rụng nhiều hay ít ?
( Xuân hiểu)
PGS Nguyễn Thị Bích Hải đã nhận xét: “Bài thơ thật giản dị, tự nhiên,
câu nào cũng như lời nói bình thường, cả 20 chữ không chữ nào thể hiện tâm
trạng mà bốn câu hợp thành một thế giới nghệ thuật, một bản hợp xướng với
“bè cao” là tiếng chim hót ríu ran, “bè trầm” là tiếng gió mưa xao động mơ
màng trong giấc ngủ đêm xuân. Tình yêu thiên nhiên và cái đẹp hiện ra thật
tự nhiên, trong trẻo và hồn hậu”[13]. Quả đúng là chỉ có tình yêu và sự gắn
bó tha thiết với thiên nhiên, Mạnh Hạo Nhiên mới có thể tạo dựng một bức
tranh thần tình đến thế của buổi sáng mùa xuân thanh cao, trong sáng.
Hay như với hình ảnh một dòng sông đêm trăng, Lý Bạch đã đưa người
đọc đến một thế giới thanh bạch, tĩnh mịch mà vô cùng thơ mộng:
“Sông giang triều thủy liên hải bình
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh

(Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Lại làm cho phong tục thuần hóa)
(Phụng tặng Vi Tả thừa trượng nhị thập nhị vân)
Với tư tưởng lớn lao như thế mà Đỗ Phủ đã lo lắng cho vận nước. Ông
luôn lấy phép nước làm trọng, phụng sự non sông hết lòng. Dù được phép về
thăm nhà, ông vẫn trần trừ nán lại vì lo không có ai cán gián vua:
“Tạ từ lạy trước sân rồng

Trích đoạn Địa bàn, thời gian thực nghiệm: Kết quả thực nghiệm: Đánh giá:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status