Cách tiếp cận tác phẩm tự sự dân gian trong chương trình ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT LƯU ĐÌNH CHẤT

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁCH TIẾP CẬN TÁC PHẨM TỰ SỰ DÂN GIAN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

Người thực hiện :
Chức vụ
:
SKKN thuộc môn :

Lê Thị Phương Thảo
Giáo viên
Ngữ văn

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
TT

NỘI DUNG

Trang

1
2

II/ Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
IV/ Phương pháp nghiên cứu:
B. PHẦN NỘI DUNG.
I/ Cơ sở lý luận:
II/ Thực trạng của việc dạy học truyện dân gian trong chương
trình ngữ văn 10:
1/ Thuận lợi
2/ Khó khăn
III/ Cách tiếp cận một số tác phẩm VHDG trong chương trình
ngữ văn 10 theo đặc trưng thể loại :
1/ Sử thi dân gian - “Chiến thắng Mtao Mxây” (trích sử
thi“Đăm Săn”) .
2/ Truyền thuyết - “Truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”.
3/ Truyện cổ tích - “Tấm Cám”.
4/ Truyện cười - “Tam đại con gà” và “Nhưng nó phải bằng
hai mày”
IV/ Giáo án thể nghiệm và hiệu quả thể nghiệm
1. Giáo án thể nghiệm
2. Hiệu quả thể nghiệm
C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3
4
4
4
7
9
12
14

theo đặc trưng của từng thể loại, biết phát hiện và rung động trước vẻ đẹp của
tác phẩm góp phần quan trọng bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho HS
Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài thể hiện một
vài kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học của mình, đó là: “Cách tiếp cận
tác phẩm tự sự dân gian trong chương trình ngữ văn 10 theo đặc trưng thể
loại”. Hy vọng với đề tài này, Tôi sẽ có những đóng góp mới và tích cực hơn
trong công tác giảng dạy bộ phận VHDG ở các trường THPT hiện nay.
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đưa ra phương pháp, cách thức dạy học truyện dân gian có hiệu quả qua
một số tác phẩm theo đặc trưng thể loại cụ thể, phù hợp với từng lớp, đối tượng
HS nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong xu thế đổi mới phương
pháp dạy học như hiện nay.
III/ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng nghiên cứu:
+ Phương pháp, cách thức dạy học truyện dân gian trong chương trình
Ngữ văn 10.
+ HS lớp 10B4, 10B2; 10A1, 10A5 Trường THPT Lưu Đình Chất
2. Phạm vi nghiên cứu:
1


Những tác phẩm (đoạn trích) thuộc thể loại truyện dân gian Việt Nam
được học trong chương trình Ngữ văn 10 - Chương trình chuẩn (không bao gồm
các bài đọc thêm và truyện dân gian nước ngoài).
IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp tiếp cận văn bản.
- Phương pháp phân tích.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp thực nghiệm

đức kiên trung, vị tha, tính cần kiệm, óc thực tiễn,… Đồng thời qua việc tìm
hiểu cái hay, cái đẹp của một số tác phẩm truyện dân gian, bồi dưỡng tình cảm
yêu quý và trân trọng giá trị văn học truyền thống cho HS.
Trên tinh thần thấy được vai trò quan trọng của VHDG, từ năm học 20062007 cấu trúc SGK Ngữ văn 10 (chương trình chuẩn), phần VHDG đưa vào 11
tác phẩm (cả VHDG Việt Nam và VHDG nước ngoài), các tác phẩm được sắp
xếp theo thể loại, từ tự sự dân gian hay còn gọi là truyện dân gian (sử thi, truyền
thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơ) và trữ tình dân gian (ca dao).
Cách sắp xếp này làm nổi bật vai trò của thể loại, đồng thời phù hợp với
việc dạy và học văn theo đặc trung thể loại, thuận lợi cho HS làm văn, nhất
là văn nghị luận.
II/ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN DÂN GIAN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10:
1/ Thuận lợi :
Chương trình VHDG được sắp xếp theo thể loại, có sự so sánh, đối chiếu
với các văn bản VHDG nước ngoài.
Kiến thức VHDG được sắp xếp từ khái quát đến các văn bản cụ thể.
3


Nội dung được tiếp nối với chương trình THCS và phong phú hơn về thể
loại.
Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp quá trình đưa tài liệu vào việc
soạn, giảng VHDG thêm sinh động.
Có thể tổ chức ngoại khóa để tăng tính hấp dẫn của VHGD đối với HS.
2/ Khó khăn:
Việc giảng dạy VHDG hiện nay chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi thái độ
đối phó thi cử của HS vì hầu như VHDG thường không xuất hiện trong các kỳ
thi lớn như tốt nghiệp THPT, đại học …
HS hiện nay không mấy hứng thú với bộ phận VHDG nhất là thể loại tự
sự dân gian vì các em cảm thấy xa lạ với cuộc sống của người dân lao động,

4


- Khái niệm: Sử thi dân gian “là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn,
sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành
tráng hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng
đồng cư dân thời cổ đại”. [2, tr17]
- Phân loại: Sử thi dân gian có hai loại: [2, tr30]
+ Sử thi thần thoại: kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài,
sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú cổ đại của họ, sự xuất hiện nền văn
minh buổi đầu, (như “Đẻ đất đẻ nước”, “Cây nêu thần”…)
+ Sử thi anh hùng: kể về cuộc đời và sự nghiệp các tù trưởng anh hùng,
đại biểu cho sức mạnh trí tuệ của cộng đồng ( như “Đăm Săn”, “Xinh Nhã”,…)
- Đặc trưng: [2]
+ Đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lớn đối với đời sống của cộng
đồng.
+ Quy mô lớn, hình tượng nghệ thuật hoành tráng, câu văn trùng điệp,
ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh,…
1.2. GV giúp HS vận dụng những đặc trưng của thể loại sử thi để tìm
hiểu Sử thi “Đăm Săn” và đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây”.
1.2.1. Trước hết GV cần giúp HS xác định được tiểu loại và giá trị của
sử thi “Đăm Săn”: thuộc tiểu loại sử thi anh hùng, nhân vật trung tâm là anh
hùng Đăm Săn. Tác phẩm tuy kể về cuộc đời của cá nhân tù trưởng Đăm Săn trẻ
tuổi nhưng qua đó người nghe kể sử thi nhận ra hình ảnh của cả cộng đồng thị
tộc Êđê trong một giai đoạn lịch sử biến động. Mà ở đó, số phận cá nhân, anh
hùng thống nhất cao độ với số phận của cả thị tộc.
Chiến tranh là đề tài nổi bật trong các tác phẩm sử thi anh hùng. “Đăm
Săn” kể về sáu cuộc chiến tranh do tù trưởng Đăm Săn lãnh đạo thị tộc tiến hành
nhằm xây dựng một cộng đồng thị tộc giàu mạnh.
Văn bản “Chiến thắng Mtao Mxây” tiêu biểu trong sáu cuộc chiến tranh

của nhân dân. Quá trình chiến đấu của Đăm Săn cũng là quá trình người Ê Đê
chế ngự thiên nhiên, phát triển và bảo vệ cộng đồng.
1.2.4. Khi dạy tác phẩm sử thi theo đặc trưng thể loại GV cần chú ý đến
những sự kiện lịch sử xã hội trọng đại có ý nghĩa quan trọng với cộng đồng:
Trong cuộc chiến đấu với Mtao Mxây để giành lại vợ mình, đồng thời cũng bảo
vệ cuộc sống bình yên cho buôn làng mình. Vì vậy cuộc chiến đòi lại vợ chỉ là
cái cớ để Đăm Săn chiến đấu tăng thêm sức mạnh, uy tín cho cộng đồng mình.
1.2.5. GV hướng dẫn HS khai thác văn bản từ phương diện nghệ
thuật: Đoạn trích thể hiện rõ nét đặc trưng thể loại của sử thi anh hùng từ việc
xây dựng nhân vật anh hùng, tổ chức ngôn ngữ đến cách sử dụng hiệu quả lối
miêu tả, song hành, đòn bẩy, thủ pháp so sánh, phóng đại, đối lập, tăng tiến,…
Đó là : Hành động múa khiên của Đăm Săn được miêu tả bằng cách so
sánh và phóng đại “múa trên cao, gió như bão”, “múa dưới thấp, gió như lốc”,
“khi chàng múa chạy nước kiệu quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay
tung”. Rõ ràng, trí tưởng tượng và cách nói phóng đại là nghệ thuật tiêu biểu
của sử thi. Nhiều nhất trong đoạn trích là những câu sử dụng biện pháp so sánh.
Khi thì lối so sánh tương đồng, có sử dụng từ so sánh (như đầu cú, như cái cầu
vồng, như một vị thần, như lốc, như bão, như bầy cà tong, như kiến như mối,…).
Khi là lối so sánh được tăng cấp bằng hàng loạt từ ngữ so sánh liên tiếp (đoạn tả
tài múa khiên của Đăm Săn, đoạn tả cảnh đoàn người đông đảo, gồm cả người
thắng lẫn kẻ thua kéo theo Đăm Săn trở về buôn của chàng, đoạn cuối văn bản
mô tả thân hình lực lưỡng của Đăm Săn). Có khi là lối so sánh tương phản (tả
cảnh múa khiên của Đăm Săn và của Mtao Mxây).
Điều đáng lưu ý, bao giờ sử thi cũng dành miêu tả cái “tài” của địch thủ
trước, tài của anh hùng sau, bằng cách đó đề cao hơn nhân vật anh hùng, đó gọi
là lối so sánh miêu tả đòn bẩy. Đoạn trích thể hiện rõ đặc trưng này qua cách
miêu tả Mtao Mxây rung khiên múa trước “Khiên hắn kêu lạch xạch như quả
mướp khô”, hắn “bước cao bước thấp chạy hết bãi tây sang bãi đông” còn
Đăm Săn rung khiên múa thì “Một lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh.
Một lần xốc tới nữa, chàng vượt một đồi lồ ô. Chàng chạy vun vút qua phía

HS phải nắm được: Văn bản kể về quá trình xây thành, chế nỏ giữ nước
của An Dương Vương. Quá trình ấy trải qua vô vàn khó khăn: Thành đắp tới đâu
lại lở tới đấy – vua lập đàn trai giới cầu đảo bách thần - cụ già mách bảo, sứ
Thanh Giang giúp đỡ thành xây xong trong vòng nửa tháng - vua băn khoăn có
thành rồi nhưng cần có vũ khí mới bảo vệ được đất nước nếu “có giặc ngoài thì
lấy gì mà chống?” – Rùa Vàng tháo vuốt của mình cho vua, vua sai Cao Lỗ chế
nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy nỏ, chính vì thế vua đã thắng được cuộc xâm lược lần
thứ nhất của Triệu Đà buộc hắn phải cầu hòa. Qua những chi tiết kì ảo ấy nhân
dân ta đã phản ánh sự gian nan trong cộng việc dựng nước, ngợi ca nhà vua
không chỉ có công lao đối với đất nước mà còn là người có ý thức trách nhiệm
cao của một người đứng đầu đất nước, đồng thời tự hào về chiến công xây thành
chế nỏ, chiến thắng ngoại xâm, qua đó đề cao tư tưởng phòng chống giặc ngoại
xâm của dân tộc ta.
2.2.2. GV tiếp tục hướng dẫn HS nắm bắt tác phẩm theo đặc trưng
thể loại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở:
Truyền thuyết phản ánh bi kịch nước mất nhà tan và bi kịch tình
yêu tan vỡ. Bi kịch ấy bắt đầu khi nào? Nguyên nhân do đâu?
7


Để trả lời cho những câu hỏi trên GV hướng dẫn HS tìm hiểu các chi
tiết, sự việc có tính chất thiêng liêng, kì ảo liên quan đến các nhân vật như:
tên truyện - “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, việc xây
thành, chế nỏ, rùa vàng…”. Trở lại với cốt truyện, mặc dù Triệu Đà đã bị thua
trong cuộc xâm lược Âu Lạc lần thứ nhất buộc hắn phải cầu hòa nhưng dã tâm
hắn không bao giờ mất đi. Vì thế, không bao lâu, Đà cầu hôn, Vua vô tình gả
con gái là Mị Châu cho con trai hắn là Trọng Thủy. Cả cha con An Dương
Vương đều chủ quan để Trọng Thủy tráo lẫy nỏ và đem về nước. Khi giặc kéo
đến mà vua vẫn ỷ vào vũ khí, vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, mãi đến khi quân
Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ thì mới thấy lẫy thần đã mất, lúc đó đã muộn. Thành

tôn giáo biến thành nhân vật bất tử, mà An Dương Vương trong truyền thuyết
này là một điển hình.
8


Còn nhân vật Mị Châu, trước bi kịch của nàng thái độ của nhân dân
là phê phán hay cảm thông, bao dung?
Về vấn đề này GV hướng dẫn Hs tìm hiểu qua những sự việc trong
truyện và những chi tiết nghệ thuật “máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải
biến thành hạt châu” và chi tiết “ngọc trai – giếng nước”. Việc Mị Châu lén
đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần là đã vi phạm nguyên tắc bí mật quốc gia, là
có tội với non sông đất nước nên gặp kết cục hiển nhiên thể hiện thái độ nghiêm
khắc của nhân dân. Nhưng nhân dân đã cảm thông, bao dung cho nàng bởi tội
của Mị Châu là không chủ ý, vì ngây thơ mà đã vô tình đắc tội với non sông.
Chính vì vậy việc sáng tạo chi tiết “máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải biến
thành hạt châu”, ngọc ấy đem rửa với nước giếng nơi Trọng Thủy chết thì “thấy
trong sáng thêm” như để minh oan cho nàng. Đặc biệt chi tiết “ngọc trai –
giếng nước” không phải là hình ảnh khẳng định mối tình thủy chung mà là oan
tình của Mị Châu đã được hóa giải như lời nguyện cầu của nàng trước lúc chết.
Việc sáng tạo chi tiết này thể hiện thái độ vừa nghiêm khắc, vừa nhân ái của
người Âu Lạc, cách ứng xử vừa thấu tình vừa đạt lí trong truyền thống của dân
tộc ta.
Như vậy đặc trưng của truyền thuyết là thường kể về những sự kiện
và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của
nhân dân; có dung lượng vừa phải, có sự tham gia của các chi tiết, sự việc có
tính chất thiêng liêng, kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ,…),
2.2.3. Sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm theo những đặc
trưng ấy, GV yêu cầu các em cho biết đâu là cốt lõi lịch sử? Cốt lõi lịch sử
ấy đã được dân gian thần kì hóa như thế nào? Qua việc làm rõ vấn đề này,
HS sẽ hiểu sâu sắc thêm thể loại truyền thuyết cũng như giá trị của tác

mẫu thuẫn xung đột giữa hai tuyến nhân vật đại diện cho cái thiện – cái ác rất
quyết liệt, nhưng bao giờ cái thiện cũng thắng, nghĩa là kết thúc có hậu.
VD: Cô Tấm mò cua bắt tép cuối cùng được lấy hoàng tử. Chàng Thạch
Sanh kiếm củi được lấy công chúa. Chàng Sọ Dừa xấu xí cuối cùng lấy được vợ
đẹp, con gái phú ông. Những kẻ tàn ác, bất công nhất thời có thể vinh hoa phú
quý nhưng cuối cùng cũng bị tiêu diệt. Trong truyện cổ tích thần kì, thần tiên có
xuất hiện nhưng không phải thuyết minh cho tư tưởng tôn giáo mà chính là để
trợ giúp cho cái thiện thắng cái ác.
3.2 GV giúp HS vận dụng những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích
thần kì để tìm hiểu truyện “Tấm Cám”:
3.2.1. Xác định tiểu loại:
Đây là tác phẩm thuộc tiểu loại truyện cổ tích thần kì – tiểu loại tiêu biểu
hơn cả cho thể loại truyện cổ tích.
3.2.2. Dựa vào đặc trưng của truyện cổ tích thần kì, GV hướng dẫn
HS hiểu được giá trị của tác phẩm qua những mâu thuẫn, xung đột và sự
tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câu chuyện.
- Mâu thuẫn chủ yếu trong tác phẩm là mâu thuẫn giữa cô Tấm mồ côi,
xinh đẹp, hiền lành với dì ghẻ và Cám độc ác, tàn nhẫn. Mâu thuẫn này phát
triển từ thấp đến cao: ban đầu chỉ là những hơn thua về vật chất, tinh thần, sự
ganh ghét mẹ ghẻ con chồng. Càng về sau, mẫu thuẫn chuyển thành sự đố kị,
một mất một còn, tiêu diệt lẫn nhau. GV hướng dẫn Hs làm rõ các mâu thuẫn
đó qua những sự việc, chi tiết biểu:
+ Trước tiên mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám xoay quanh quyền lợi
vật chất và tinh thần trong cuộc sống gia đình. Mẫu thuẫn bắt đầu bằng sự việc
“chiếc yếm đỏ” khi mụ dì ghẻ đưa cho hai chị em hai cái giỏ với lời hứa hẹn:
“Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ”. Tấm chăm
chỉ nên chỉ một buổi là đầy được giỏ nhưng vì thật thà nên đã bị Cám lừa trút hết
giỏ tép và cướp mất chiếc yếm. Con cá bống, người bạn tinh thần, là bầu bạn
của Tấm nhưng cũng vì ganh ghét mà mẹ con Cám đã lừa và giết bống để ăn
thịt. Ít lâu sau nhà vua mở hội trong mấy ngày đêm, già trẻ, gái trai đều nô nức

hóa thành chim Vàng Anh. Vàng Anh bị giết mọc lên cây xoan đào. Xoan đào bị
chặt làm thành khung cửi. Khung cửi bị đốt mọc lên cây thị. Từ quả thị Tấm
bước ra trở lại kiếp người về lại hoàng cung và trả thù mẹ con Cám.
Như vậy, một cô Tấm hiền lành lương thiện vừa ngã xuống, một cô Tấm
mạnh mẽ quyết liệt sống dậy trở về với cuộc đời đòi lại hạnh phúc của mình.
Tấm hóa thành Vàng Anh để báo hiệu sự có mặt của mình. Vàng Anh bị giết,
Tấm hóa thành cây xoan đào, khung cửi tuyên chiến với kẻ thù “cót ca, cót két,
lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”. Khung cửi, quả thị là những vật Tấm
hóa thân cũng là những vật bình dị, thân thương trong cuộc sống dân dã. Đó là
những hình ảnh đẹp tạo ấn tượng thẩm mĩ cho truyện.
Nếu như ở mâu thuẫn thứ nhất phản ánh những mâu thuẫn trong gia đình
phụ quyền thời cổ thì mâu thuẫn thứ hai phản ánh mâu thuẫn giữa thiện và ác
trong xã hội. Cái chết của mẹ con Cám ở phần kết thể hiện quan niệm của dân
gian “ác giả ác báo”. Một kết thúc thường gặp trong truyện cổ tích thần kì ở
Việt Nam.
3.2.3. Sau khi đã tìm hiểu các mâu thuẫn trong truyện, GV hướng
dẫn HS tiếp tục phân tích ý nghĩa của những lần biến hóa của Tấm:
Qua việc tìm hiểu HS sẽ trả lời được: Những vật hóa thân của Tấm đều
là những yếu tố kì ảo. Song nó khác hẳn yếu tố kì ảo như ông Bụt ở phần đầu
11


của truyện. Ở phần đầu, Bụt hiện lên và giúp Tấm mỗi lần Tấm khóc, nhưng ở
phần hai Tấm không hề khóc, không thấy có sự xuất hiện của Bụt. Dù bị mẹ con
Cám tìm mọi cách tận diệt, Tấm vẫn tái sinh dưới các dạng thức khác nhau
(chim Vàng Anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Càng về sau, Tấm càng
đấu tranh quyết liệt để giành lại sự sống. Qua đó, dân gian muốn khẳng định: cái
thiện không bao giờ chịu khuất phục, chính nghĩa không bao giờ đầu hàng,
cái thiện sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ lẽ phải và công lí. Đó là nguyên
nhân quan trọng nhất làm nên chiến thắng.

người nào biết thì xấu hổ, mới bảo trò đọc khe khẽ”. Người đọc bật cười vì sự
giấu dốt và sĩ diện hão của thầy.
- Nhóm 3: Sự việc gây cười thứ ba: thầy khấn Thổ công “xin ba đài âm
dương” thì được cả ba. Thầy đắc ý, tự tin cho trò đọc to “cái sự dốt”. Người
đọc bật cười vì cái dốt vô tình được khuếch đại.
12


- Nhóm 4: Sự việc gây cười thứ tư: thầy chạm trán với chủ nhà. Thầy tự
thấy cái dốt của mình (và cả cái dốt của “Thổ công nhà nó”) nên tìm cách
chống chế, che giấu bằng “lí sự cùn” nhưng cái dốt càng lộ rõ. Người đọc bật
cười vì thói giấu dốt bị lật tẩy, thầy đồ tự phô ra cái dốt của mình.
Cuối cùng GV yêu cầu HS rút ra bài học ( ý nghĩa của câu chuyện):
Như vậy, qua bốn sự việc gây cười trên mâu thuẫn giữa cái dốt và thói giấu dốt
mỗi lúc càng tăng và cuối cùng bị bóc trần, càng che giấu thì bản chất dốt nát
càng lộ ra. Không chỉ nhằm vào một con người cụ thể, truyện “Tam đại con gà”
còn phê phán thói dốt hay nói chữ, dốt học làm sang, dốt lại bảo thủ - một tật
xấu có thật trong một bộ phận nhân dân. Đồng thời, truyện muốn nhắn nhủ đến
mọi người phải luôn học hỏi, không nên che giấu cái dốt của mình.
4.2.2. Truyện cười “Nhưng nó phải bằng hai mày”:
GV yêu cầu HS xác định tiểu loại và khái quát nội dung: Đây cũng là
một truyện cười thuộc loại trào phúng, đối tượng phê phán là quan lại tham
nhũng trong xã hội Việt Nam xưa. Truyện miêu tả thói tham nhũng của lí trưởng
trong việc xử kiện, qua đó thấy được tình cảnh bi hài của người lao động xưa khi
lâm vào cảnh kiện tụng.
GV tổ chức HS thành các nhóm yêu cầu HS phân tích những tình
huống gây cười để làm rõ ý nghĩa của tiếng cười trong câu chuyện.
Sự việc trong câu chuyện khá đợn giản và được giới thiệu một cách ngắn
gọn. Viên lí trưởng “nổi tiếng xử kiện giỏi”. Cải và Ngô đánh nhau rồi mang
nhau đi kiện. Cải sợ kém thế nên lót trước thầy lí năm đồng. Ngô biện chè lá

Cuối cùng GV yêu cầu HS rút ra bài học ( ý nghĩa của câu chuyện):
Qua tiếng cười trào phúng, truyện “Nhưng nó phải bằng hai mày” phê phán cách
xử kiện của thầy lí và vạch trần bản chất tham nhũng của quan lại địa phương
trong xã hôi Việt Nam ngày xưa. Với thầy lí, lẽ phải được đo bằng tiền, thuộc về
kẻ nhiều tiền, đồng tiền là thước đo công lí, là “tiêu chuẩn” xử kiện. Việc “nổi
tiếng xử kiện giỏi” chỉ là hình thức để che giấu bản chất tham lam của lí trưởng
nói riêng và quan lại địa phương nói chung.
IV. GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM [2],[3],[4] VÀ KẾT QUẢ THỂ NGHIỆM
1.Giáo án thể nghiệm:
Ngày soạn: …. / … /….
Ngày dạy : …. / … / ….
TIẾT: 12 - 13
TÊN BÀI:
TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG
VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Bi kịch nước mất nhà tan và bi kịch tình yêu tan vỡ được phản ánh
trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy.
- Bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng
đắn mối quan hệ riêng với chung, nhà với nước, cá nhân với cộng đồng
- Sự kết hợp giữa “cốt lõi lịch sử” với tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật
của dân gian.
2. Kĩ năng:
- Đọc (kể) diễn cảm truyền thuyết dân gian.
3. Thái độ:
- Biết cách xử lí lí đúng đắn mối quan hệ riêng với chung, nhà với nước,
cá nhân với cộng đồng thông qua bài học.
4. Năng lực:
- Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng


I. Đọc hiểu tiểu dẫn:
1. Thể loại:
- KN: ( SGK,tr17).
- Đặc trưng:
+ Truyền thuyết không phải là
LS mà chỉ liên quan đến LS,
phản ánh LS nhuốm màu sắc
thần kì và thấm đẫm cảm xúc
đời thường.
+ Phản ánh theo quan điểm, tư
* GV giới thiệu cụm di tích LS Cổ Loa tưởng tình cảm của nhân dân.
cho HS biết sơ về môi trường của
+ Có dung lượng vừa phải, có sự
truyền thuyết gắn với cuộc sống.
tham gia của các chi tiết, sự việc
có tính chất thiêng liêng, kì ảo
(các nhân vật thần, các đồ vật kì
ảo có phép lạ,…).
- Thao tác 2: Hướng dẫn hs tìm hiểu về 2. Về “Truyện An Dương
“Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Vương và Mỵ Châu – Trọng
– Trọng Thủy”:?
Thủy”:
a. Xuất xứ: trích từ truyện “
? Xuất xứ của “Truyện An Dương Vương Rùa Vàng” trong “ Lĩnh Nam
và Mỵ Châu – Trọng Thủy”?
trích quái”( TK XV ).
? Bố cục của truyền thuyết?
b. Bố cục:( 3 đoạn )
- Đoạn 1: “Từ đầu…bèn xin

- Nhà vua hỏi: “ Nếu có giặc 16
ngoài thì lấy gì mà chống”
 Có ý thức trách nhiệm, đề cao
cảnh giác kẻ thù của người


1. Củng cố: (3 phút)
Đặc trưng của truyền thuyết; Ý nghĩa văn bản.
2. Dặn dò: (2 phút)
- Chỉ ra những hư cấu NT và phân tích ý nghĩa của chúng.
- Quan điểm của anh/chị về ý kiến cho rằng truyền thuyết này là tiếng
nói ca ngợi tình yêu chung thủy và phản kháng chiến tranh.
- Soạn bài Uy - lít - xơ trở về.
IV. RÚT KINH NGHIỆM:
…………………………………………………………………………………...
……………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………...
........
2./ Hiệu quả thể nghiệm:
Hiệu quả của việc vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại vào đọc hiểu
truyện dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 được thể hiện qua thực tế giảng
dạy thể nghiệm ở hai năm học: 2015- 2016; và 2016 - 2017. Kết quả thu được
nhìn chung tốt. So với việc giảng dạy truyện dân gian không gắn với đặc trưng
thể loại thì phương pháp này tỏ ra có hiệu quả rõ rệt.
Năm học 2015 - 2016, tôi thử nghiệm với học sinh lớp 10B4 và so sánh
kết quả với lớp 10B2 là lớp không áp dụng phương pháp này bằng hình thức:
+ Thứ nhất: Sau khi dạy xong, tôi kiểm tra kết quả của việc giảng dạy ở
cả 2 lớp bằng cách phát phiếu thăm dò hứng thú của HS. Kết quả thật bất ngờ:
lớp 10B4 có 40/45 học sinh nói rằng hứng thú với việc học VHDG đạt 88,8 %.
Còn lớp 10 B2 không áp dụng phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại thì

50% điểm khá giỏi

Năm học 2016 – 2017:
Lớp
10A1- Lớp kiểm chứng
10A5- Lớp đối chiếu

Học hứng thú
39/45 HS đạt 86,6%
24/45 HS đạt 53,3%

Kiểm tra 15 phút
80% điểm khá giỏi
50% điểm khá giỏi

Tóm lại, qua hai năm thử nghiệm, sáng kiến cho kết quả khả quan, làm
tăng hứng thú của HS khi học tác phẩm VHDG, tăng lượng kiến thức mà HS thu
được đồng thời góp phần bồi dưỡng cho HS về vốn văn hóa dân tộc, nâng cao
lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn và xây dựng văn hóa Việt Nam trong HS.
Cũng nhờ việc nắm chắc đặc trưng của từng thể loại truyện giúp cho các em tiếp
thu bài và hiểu bài một cách sâu sắc hơn.
C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Cùng với sự thay đổi chương trình và SGK thì việc đổi mới phương pháp
dạy học môn Ngữ văn đã tạo cơ hội cho mỗi GV tự nghiên cứu, học hỏi, trao đổi
kinh nghiệm và vận dụng vào việc dạy học của mình có hiệu quả hơn, phù hợp
với xu thế, yêu cầu của thời đại. Việc giảng dạy tác phẩm tự sự dân gian theo
đặc trưng thể loại đã được người viêt sáng kiến kinh nghiệm ấp ủ từ lâu và đã
được thử nghiệm qua hai năm học. Với kết quả ban đầu đáng khích lệ, người
viết dự định tiếp tục áp dụng nó cho những năm học sau. Mong rằng đề tài này

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển văn học (bộ mới) NXB thế giới – Hà Nội 2004.
2. SGK Ngữ văn 10 tập 1- NXBGD, 1/2013.
3. SGV Ngữ văn 10 tập 1- NXBGD, 7/2011.
4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10 –
NXBGD, 5/2010.
5. 101 câu hỏi vui và thông minh về văn học dân gian trong nhà trường – Nhà
xuất bản trẻ 2005.
6. Hỏi đáp về văn học 10 – Biên soạn theo chương trình SGK Ngữ văn 10 mới
của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo NXB Trẻ 2006.
7. Nguyên Hà : Truyện kể dân gian với việc giáo dục học sinh phổ thông – Tạp
chí Văn hóa dân gian, số 4 1994.
8. Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10 – NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh.

CÁC TỪ VIẾT TẮT
- VHDG : Văn học dân gian
- GV
: Giáo viên
- HS
: Học sinh
- SGK : Sách giáo khoa
- SGV : Sách giáo viên
- THPT : Trung học phổ thông
- THCS : Trung học cơ sở




Năm học
đánh giá
xếp loại
2008 - 2009




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status