Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
VŨ THỊ THU HÀ
DẠY HỌC “VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC ”
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Ở SGK NGỮ VĂN 11
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Ở SGK NGỮ VĂN 11
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn - Tiếng việt
Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HUY QUÁT THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục ký hiệu, các chữ viết tắt iii
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
B. PHẦN NỘI DUNG 9
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Thể loại văn tế trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Việt Nam 9
1.1.2 Đặc trưng của văn tế về mặt nội dung 15
1.1.3. Đặc trưng của văn tế về mặt hình thức 21
1.2. Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1. Giáo viên với việc dạy bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” 29
1.2.2. Học sinh với việc học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” 47
CHƢƠNG 2. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY
HỌC BÀI “VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC” THEO ĐẶC
TRƢNG THỂ LOẠI 53
2.1. Những vấn đề liên quan đến nội dung và nghệ thuật bài văn tế
của Nguyễn Đình Chiểu. 53
2.1.1 Bối cảnh thời đại 53
2.1.2. Về tác gia Nguyễn Đình Chiểu 56
2.2. Xác định nội dung dạy học “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” từ đặc
trưng thể loại của tác phẩm 59
2.2.1 Giá trị nội dung 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Về phương diện lí luận
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể đã được đặt
ra từ những năm 70 của thế kỉ XX, được nhiều nhà nghiên cứu về phương
pháp dạy học văn và GV văn học coi là một hướng tiếp cận có căn cứ để đạt
hiệu quả trong dạy học văn. Nếu không nắm vững được đặc trưng thi pháp
của các thể loại văn học và lấy nó làm điểm tựa soi sáng cho việc tiếp cận các
tác phẩm thì khó đạt được hiệu quả trong dạy học TPVC. GS.Phan Trọng
Luận đã chỉ ra một thực tế là “Do chưa phân biệt đầy đủ đặc trưng thi pháp
của loại thể nên việc cắt nghĩa tác phẩm văn chương ở nhà trường đã có
những hạn chế kéo dài nhiều năm qua chưa được khắc phục. Truyện cổ tích bị
biến thành một truyện ngắn hiện đại, ca dao chuyển thành văn bản thơ ngày
nay. Tác phẩm văn chương trung đại và hiện đại đồng nhất về thi pháp Có
không ít giờ giảng thơ mà giáo viên lại đi quá sâu vào nhân vật, cốt truyện;
giảng tự sự lại coi nhẹ, bỏ quên cốt truyện, nhân vật, lời kể. Đó là kiểu giải
thích dung tục về sáng tạo nghệ thuật, …”[20].
Thi pháp của một số thể loại văn học, đặc biệt là các thể loại văn học
trung đại như: hát nói, phú, văn tế, cáo, chiếu,…còn gây nhiều khó khăn, lúng
túng trong giảng dạy và học tập; mặc dù những năm gần đây, việc hình thành
và rèn luyện năng lực đọc hiểu tác phẩm theo đúng đặc trưng thể loại đã được
chú ý. Song đi vào tìm hiểu các tác phẩm cụ thể lại đòi hỏi có sự vận dụng
sáng tạo để đạt hiệu quả mong muốn. Riêng thể loại văn tế thì việc tiếp cận nó
theo đặc trưng thể loại như thế nào vẫn chưa được bàn đến đầy đủ về mặt lý
thuyết. Do vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học “Văn tế nghĩa sĩ
dạy chưa hay, chưa đạt hiệu quả, khiến phần lớn HS không có hứng thú tiếp
nhận tác phẩm. Về phía HS, đa số các em không thích học văn, lại càng
không thích một tác phẩm cổ có nhiều từ ngữ khó hiểu, nhiều điển tích, điển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
cố. Đã từng xuất hiện “bài văn lạ” nói về bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là
“cứng nhắc, khó hiểu”, khó có thể làm rung động học sinh vì “em đọc xong
mà không hề có một chút xúc động hay thương xót” (Nguyễn Phi Thanh-
THPT Việt Đức- Hà Nội, năm học 2005- 2006). Thực trạng ấy càng thôi thúc
chúng tôi lựa chọn đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu thể loại văn tế
Cuốn sách đầu tiên viết về văn tế phải kể đến “Văn tế cổ và kim”
( 1960). Đây là một cuốn sách có giá trị, nhưng rất tiếc là trong quá trình thu
thập tài liệu, chúng tôi không có được văn bản gốc.
Các công trình nghiên cứu như:“Việt Nam văn học sử yếu”(Dương
Quảng Hàm), “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX (
Nguyễn Lộc), “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” (Trần Đình
Sử ) tuy mới chỉ nghiên cứu ở mức độ khái quát nhưng đã đưa ra những nhận
xét, đánh giá có tính định hướng quan trọng trong việc tìm hiểu một cách toàn
diện và hệ thống thể loại văn tế. Đặc biệt, Dương Quảng Hàm trong cuốn
“Việt Nam văn học sử yếu” đã tìm hiểu hình thức của thể loại văn tế ở cách
đặt câu, gieo vần, bố cục, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghệ
thuật của văn tế. Cuốn “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam” của
Trần Đình Sử cũng tìm hiểu hình thức thể loại của văn tế ở các mặt như: bố
cục, ngôn ngữ nhưng chưa đi sâu vào những chi tiết, cụ thể tiêu biểu. Đây là
những tài liệu tham khảo vô cùng quý giá đối với đề tài của chúng tôi.
2.2. Vấn đề giảng dạy TPVC theo loại thể đã có một số công trình
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, vấn đề dạy học TPVC theo thể loại đã
- SGV ngữ văn 11, tập I (bộ chuẩn) do GS Phan Trọng Luận tổng chủ
biên[19] trong đó có bài đề cập đến việc dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”,
đồng thời hướng dẫn GV cách thức tổ chức HS chiếm lĩnh văn bản tác phẩm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
- SGV ngữ văn 11 , tập I (bộ nâng cao) do GS Trần Đình Sử tổng chủ
biên [30] cũng có phần hướng dẫn GV tổ chức HS chiếm lĩnh văn bản “Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu.
- Thiết kế dạy học ngữ văn lớp 11 ( Nâng cao ) của tác giả Hoàng Hữu
Bội [2] có viết khá chi tiết về dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” theo
đặc trưng thể loại.
- Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Mai Hương [12] với đề tài “Con
đường hướng dẫn học sinh khám phá, chiếm lĩnh chiều sâu nghệ thuật của tác
phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(Nguyễn Đình Chiểu) để nâng cao hiệu
quả dạy và học” đã đưa ra một số phương pháp, biện pháp giúp HS chiếm
lĩnh chiều sâu nghệ thuật của tác phẩm như: phương pháp đọc, phương pháp
đặt câu hỏi, phương pháp giảng bình, phương pháp so sánh,…
Ngoài ra, còn có:
- Thiết kế bài giảng ngữ văn 11 do Nguyễn Văn Đường chủ biên [5]
- Kỹ năng đọc hiểu văn bản ngữ văn 11 do Nguyễn Kim Phong chủ
biên [25]
- Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 11 tập I do Nguyễn Hải Châu chủ biên [3]
- Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 (nâng cao) do GS Nguyễn
Đăng Mạnh chủ biên [24 ]
- Phân tích tác phẩm ngữ văn 11 do Trần Nho Thìn chủ biên [33]
Các cuốn sách nêu trên đã có những đóng góp đáng kể về mặt lí thuyết
và cách thức tiến hành dạy học bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ở SGK Ngữ
Văn 11 theo đặc trưng thể loại. Đó cũng là những căn cứ khoa học để chúng
tôi tham khảo khi tiến hành luận văn này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Dùng phương pháp tổng hợp những vấn đề lí luận để làm cơ sở lí
thuyết cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê :
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thu thập được
trong quá trình điều tra khảo sát và quá trình thực nghiệm.
- Phương pháp điều tra khảo sát:
Khảo sát thực trạng dạy học bằng phiếu điều tra thăm dò ý kiến, phỏng
vấn GV và HS, nghiên cứu giáo án của một số GV để có căn cứ thực tế cho
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Thiết kế giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm, thực nghiệm đối
chứng để đánh giá kết quả của những phương pháp, biện pháp dạy học do tác
giả luận văn đề xuất.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1.Thể loại văn tế trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Việt Nam
1.1.2 Đặc trưng của văn tế về mặt nội dung
1.1.3 Đặc trưng của văn tế về mặt hình thức
1.2 Cơ sở thực tiễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Văn tế vốn có nguồn gốc lâu đời ở Trung Quốc, nhưng nó không phát triển
thành một thể văn quan trọng trong văn học Trung Quốc. Chỉ đến khi sang
Việt Nam, nó đã phát triển thành một thể tài đặc sắc với nhiều bài văn tế có
giá trị cao của các tác giả có tên tuổi.
Ở Trung Quốc từng có sự phân biệt Điếu văn, Tế văn, Ai từ, Lỗi. Trước
hết, Lỗi là bài văn chuyên kể công đức người chết, qua đó bày tỏ lòng xót
thương đối với họ. Trịnh Huyền chú thích: “Lỗi nguyên là lũy, chồng chất các
hành vi, mỹ đức của người chết lúc còn sống, đọc để làm thụy, nhưng chỉ có lời
mà không có thụy (tức danh hiệu sau khi chết)…Lũy là thể văn người trên
thương xót người dưới. Người tiện không được lũy người quý, người ấu không
được lũy người trưởng. Đó là những quy định nghiêm ngặt, khắt khe” [31]
Ai từ là loại văn ai điếu người chết. Đời Hán ở Trung Quốc có “ Lương
Thị ai từ” của Ban Cố. Sau này, Hàn Dũ có “ Âu Dương sinh ai từ”.
Điếu văn là văn viếng người đã chết, gọi là “điếu từ”, “điếu thư”, nếu
làm theo thể thơ thì gọi là “điếu thi”. Điếu là “vấn chung”, tức là thăm hỏi
người chết. Điếu là đến, khách đến an ủi chủ (là người đã mất). Theo Ngô Gia
Nghị, điếu còn có ý tự gửi lời xót thương cho nên nặng về hoài cổ. “Điếu
Khuất Nguyên” của Giả Nghị là bài điếu đầu tiên còn giữ lại được.
Thể văn tế dùng để “tế trời đất, núi sông, còn gọi là kỳ văn hay chúc
văn. Theo Ngô Tăng Kỳ đời Thanh, có văn tế sông núi của Vũ Thành Vân;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
văn tế cá sấu của Hàn Dũ. Về sau, văn tế là bài văn dùng để tế người chết. Từ
Sư Tăng đời Minh cho rằng: văn tế là lời văn để tế thân hữu. Thời xưa, khi tế
người chết chỉ mời về hưởng cỗ lộc, sau mới có thêm lời ca tụng đức hạnh để
ngụ ý tiếc thương”[31].
Ở Việt Nam, khác với các thể loại cũng du nhập từ Trung Quốc như:
thơ, phú, hịch,…thì văn tế ngay từ buổi đầu đã mang đậm bản sắc riêng so với
thể loại văn tế ở cái nôi sinh thành. Nếu ở Trung Quốc, văn tế có sự phân chia
mừng như chúc thọ, chúc việc thăng quan tiến chức,…Về sau, văn tế dùng
theo nghĩa hẹp, chỉ với nghĩa là văn tế ma, gắn với phong tục tang lễ. Khi
chôn cất người thân, người ta thường dùng văn tế để tưởng nhớ người đã mất.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”:“Văn tế là một loại văn gắn với
phong tục tang lễ, chủ yếu nhằm bày tỏ sự thương tiếc của tác giả và của
những người thân đối với những người đã mất. Nội dung văn tế thường xoay
quanh hai ý chính: một là kể về cuộc đời của người quá cố, hai là bộc lộ tình
cảm, thái độ của người sống trong giờ phút vĩnh biệt. Mặc dù trong văn tế có
những đoạn tự sự, kể lại cuộc đời của người quá cố, nhưng căn bản nó thuộc
loại trữ tình. Âm điệu chung của văn tế là bi thương.”[16]
Như vậy, văn tế là một thể loại trữ tình bày tỏ niềm thương tiếc đối với
người đã mất mà không phân biệt trên dưới, xa gần, thân hữu. Những bài văn
tế thể hiện những tình cảm lớn của những trái tim lớn, trái tim mang tình cảm
của nhân dân, tình cảm tiên tiến của thời đại; thường là những tiếng khóc đời,
khóc nước, khóc đồng chí, đồng bào của tác giả. Những bài văn tế như thế
thường gây xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc và trở thành những tác
phẩm văn học có giá trị.
Âm hưởng chung của văn tế là bi thương, nhưng sắc thái biểu cảm ở
mỗi bài có thể khác nhau, mỗi bài một vẻ. Có bài chỉ thuần túy là một tiếng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
khóc (“Văn tế Trương Quỳnh Như” của Phạm Thái) nhưng cũng có bài mang
tính sử thi bi tráng (“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu,
“Văn tế Phan Châu Trinh” của Phan Bội Châu). Ngoài văn tế trang nghiêm
còn có văn tế mang tính chất trào phúng nhẹ nhàng. Đặc biệt, có khi văn tế
còn được viết trong những hoàn cảnh khác, nhằm mục đích khác như dùng tế
người sống. Chẳng hạn “Văn tế sống vợ” của Tú Xương có giọng hài hước dí
dỏm để khen vợ và làm lành khéo với vợ vì sự chơi bời phóng túng của bản
thân mình:
Để yên con đỏ.
Ai ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đâu?
Cái đít ông đó.
Khốn khổ thân ông,
Đ…mẹ cha nó.
Nay tôi có:
Chuối một buồng,
Xôi một chõ,
Rượu một be,
Trứng một ổ.
Vâng lời quan trên
Cúng ông một cỗ
…
Để ông khỏi hổ,
Ô hô! Thượng hưởng”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Hiện nay, thể văn tế vẫn còn tồn tại trong sinh hoạt tinh thần của nhân
dân ta. Trong những giờ phút vĩnh biệt giữa người còn và người đã mất,
người ta thường đọc những bài văn tế (hay điếu văn) viết bằng văn xuôi chữ
quốc ngữ. Nội dung của các bài điếu văn ấy cũng giống như những bài văn tế
cổ, vẫn thấm đẫm tinh thần nhân văn, giàu sắc thái trữ tình. Ngoài ra, các bài
văn tế trào phúng vẫn được nhân dân sáng tác khá phổ biến để đả kích, châm
biếm những thói xấu, mặt trái trong xã hội. Chẳng hạn, nếu như ngày trước,
cụ Đồ Chiểu khóc thương những người nghĩa sĩ hy sinh vì nước, thì ngày nay
các nhà đầu tư chứng khoán cũng tự khóc thương cho mình bằng “Văn tế tử
Loại trừ những bài văn tế thương vay khóc mướn (làm hộ cho người
khác) hoặc là viếng thăm theo nghi lễ thường nghèo nàn về cảm xúc nên sáo
rỗng công thức, còn lại những bài văn tế xuất phát từ những quan hệ thực,
những tình cảm thực bao giờ cũng gây xúc động mạnh mẽ. Giọt nước mắt
chân tình xuất phát từ tình cảm đằm thắm, thủy chung luôn có sức truyền cảm
rất lớn. Điều cốt lõi trong một bài văn tế là biểu lộ được tình cảm chân thành.
Bởi vậy, những bài văn tế xuất phát từ tình cảm sâu sắc bao giờ cũng làm
rung động lòng người. Và khi tình cảm đó vượt ra ngoài khuôn khổ tình cảm
cá nhân thì thường gây nên những xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc,
người nghe. Chính vì vậy, bài văn tế thường rất giàu sắc thái trữ tình và có
tính nhân văn sâu sắc.
Từ cuối thế kỉ XVIII về trước, văn tế chủ yếu hướng vào sự bộc lộ
những tình cảm riêng tư (tình cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn,…).Từ thế kỉ
XIX, đặc biệt từ khi Pháp xâm lược nước ta, văn tế được dùng rộng rãi, trở
thành một công cụ tuyên truyền, một loại vũ khí sắc bén của người yêu nước
và cách mạng, phản ánh được những tình cảm tư tưởng của dân tộc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Chẳng hạn,“Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du là tiếng khóc của một tâm
hồn vĩ đại trước cái chết oan khuất của những số phận bất hạnh dưới thời
phong kiến. Qua đó, chúng ta thấy được cả một bản án đối với chế độ phong
kiến độc ác đã đầy đọa, vùi dập con người:
“Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên”
Trong “Văn tế Phan Châu Trinh”, chúng ta nhận thấy tấm lòng thương cảm
sâu sắc của Phan Bội Châu đối với người bạn chiến đấu tuy khác chủ trương
nhưng cùng chí hướng. Trong “Văn tế Trương Định”, chúng ta tưởng như giọt
quên thân của những con người trung nghĩa thì tác giả cũng đã thể hiện được
quan điểm tư tưởng chân chính của mình.
Văn tế ở Việt Nam hướng vào nhiều đối tượng: có văn tế vua, tế trung
thần, tế nghĩa sĩ trận vong, tế chị, tế vợ, tế con, tế người yêu, tế thập loại
chúng sinh, thậm chí có văn tế đồ vật, tế búi tóc hay tế chế độ,…Đó là một
thể văn rất độc đáo, đặc biệt là thế giới hình tượng được phản ánh rất rộng.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã khẳng định: “Trong các thể loại văn học
Việt Nam, không có thể loại nào thuần túy viết về người chết như là văn tế.
Tuy vẫn tin người chết có linh hồn, song thực tế chết là hết, đối diện với cái
chết là đối diện với sự hư vô”[31]. Chính vì thế, trước sự ra đi của những
người thân, tác giả các bài văn tế đã hết sức đau buồn, thương tiếc vì sự chia
ly vĩnh biệt .“Văn tế chị” của Nguyễn Hữu Chỉnh mở đầu viết:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
“Than ôi!
Dòng nước chảy về đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?
Hồn phách chị ở đâu, biết có về Đông Hải vậy chăng?
Nhưng cuối cùng chỉ còn lại một cảm giác hư vô trong lòng người em
trai trước một quy luật khắc nghiệt của thời gian, của đời người:
“Bui còn một chút hình hài đưa về đất cố hương, muôn nước nghìn non
xa khơi cách trở.
Ôi! Kiếp nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như lửa đá, như
chiêm bao, giây phút nên không, dù nhẫn trăm năm cũng chẳng mấy…”
“Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du đầy những tan vỡ vô
thường nơi trần thế và số phận thê thảm nơi cõi âm:
- “Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỷ không đầu đón khóc đêm mưa”
- “Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh”