A. MỞ ĐẦU
Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan
tâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh
vực khoa học và công nghệ. Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (Khoá VI) đã nêu
rõ: "Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới, coi khoa học và
công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình
và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làm
khoa học và công nghệ là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta". Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW (Khoá VII)
trong phần về chủ trương phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000
đã nêu rõ quan điểm: "Khoa học, công nghệ là nền tảng của CNH - HĐH. Kết
hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vào
hiện đại ở những khâu quyết định". Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII
vừa qua Đảng lại nhấn mạnh: "Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý trí
quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra
khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng KHCN". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã chỉ ra: "Con đường CNH - HĐH ở nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt phát huy
những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ
tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng
dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu
mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy
nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển
GD và ĐT, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp
CNH - HĐH".
Để tìm hiểu thêm về quan điểm đó nên tôi đã chọn nghiên cứu “Cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại và việc áp dụng nó vào công cuộc
CNH-HĐH ở Việt Nam liên hệ với sự định hướng phát triển của TP. Hồ
Chí Minh” làm đề tài tiểu luận môn học của mình. Vì hạm chế về thời gian
và trình độ hiểu biết nên tiểu luận chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong nhận
được sự góp ý của thầy, cô và bạn học. Tôi xin chân thành cảm ơn.
động to lớn trong đời sống chính trị – xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ trong các
lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội .. dẫn đến sự thay đổi về chất của xã hội cũ,
hình thành nền văn minh mới với những đặc trưng hoàn toàn khác. Đặc biệt,
2
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động đến tất cả các
lĩnh vực khoa học, đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho bộ mặt
thế giới đổi thay kỳ diệu.
2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của khoa
học và công nghệ.
Là một Đảng vô sản, mác-xít, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành
lập đến nay, đều lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chi Minh làm
kim chỉ nam cho mọi cương lĩnh hành động của mình. Đảng luôn quán triệt
những tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít, của Hồ Chí Minh trong mọi
lĩnh vực, thẩm nhuần trong những chủ trương, chính sách thực tiễn phù hợp
với điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể. Trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ cũng vậy, cơ sở lý luận để hình thành quan điểm của
Đảng chính là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về khoa học và
công nghệ.
C. Mác nói: “Khoa học là động lực của sự phát triển xã hội, khoa học
đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn công nghệ được đổi mới hết
sức nhanh chóng”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa xã hội cộng với
khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”(2). Trình độ dân
trí, tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và
vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ, tác động
sâu sắc đến sự phát triển của tất cả các nước, đến mọi lĩnh vực của xã hội loài
người. Khoa học và công nghệ càng có vai trò quan trọng đối với các nước
và Nhà nước có chính sách đầu tư khuyến khích, hỗ trợ phát triển khoa học và
công nghệ.
- Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động
của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và củng cố quốc phòng – an ninh.
Khoa học và công nghệ gắn với giáo dục và đào tạo, khoa học tự nhiên
và kỹ thuật gắn với khoa học xã hội và nhân văn.
4
- Phát triển khoa học và công nghệ là sự nghiệp cách mạng của toàn
dân. Phát huy cao độ khả năng sáng tạo của quần chúng, của các tập thể khoa
học và công nghệ, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức
chính trị – xã hội và của mỗi công dân trong hoạt động khoa học, công nghệ.
- Phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với tiếp
thu thành tựu khoa học, công nghệ thế giới.
- Phát triển khoa học, công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững.
3. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ.
Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ được Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá
VIII) và được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh:
“Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ
thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”(1).
Để đạt mục tiêu đó, nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và
công nghệ trong thời gian tới cần tập trung vào các vấn đề sau:
Một là, Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển
khoa học và công nghệ gắn với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước:
Củng cố và tăng cường hoạt động của các hội khoa học và công nghệ,
khuyến khích thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài khu vực nhà
nước. Tăng cường hoạt động của các hội khoa học trong việc phổ biến, triển
khai và ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, nâng cao
vai trò chính trị – xã hội của các tổ chức đó và tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động có hiệu quả cao.
Ba là, Đảng lãnh đạo việc đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên
truyền, phổ cập kiến thức khoa học và công nghệ, trong đó cần tập trung:
Đẩy mạnh các dịch vụ tư vấn, thông tin khoa học và công nghệ về lãnh
đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học; đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp,
đặc biệt là công nghệ thông tin.
6
Phát triển và quản lý tốt mạng lưới thu thập, xử lý thông tin và khoa
học và công nghệ nước ngoài.
Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, ứng dụng các tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống.
Bốn là, Đảng lãnh đạo tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa
học và công nghệ.
Tạo lập thị trường và đổi mới chính sách khoa học và công nghệ sẽ tạo
động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ. Vì
vậy, sự lãnh đạo của Đảng cần tập trung các nội dung sau:
+ Sử dụng các công cụ thích hợp trên cơ sở pháp luật để cho các doanh
nghiệp có điều kiện ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh,
trong đó đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước và các lĩnh vực yêu
cầu ứng dụng công nghệ cao.
+ Tạo điều kiện cho các cơ quan nghiên cứu, triển khai khoa học và
cơ chế quản lý hợp lý trên tinh thần từng bước xoá bỏ sự hành chính hoá
trong khoa học và công nghệ và tạo môi trường thuận lợi để phát huy cao
nhất tính chủ động sáng tạo trong lĩnh vực này. Các cơ quan quản lý điều
tiết, kiểm tra, giám sát sự đầu tư của Nhà nước vào lĩnh vực này một cách
chặt chẽ, hợp lý, có hiệu quả.
Ba là, Đảng kiểm tra việc quán triệt và thực hiện các quan điểm,
nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt
động trong các cơ quan khoa học và công nghệ; đồng thời kiểm tra qua các tổ
chức quần chúng, sự giám sát của nhân dân trên lĩnh vực đó. Các tổ chức
đảng phải tăng cường củng cố tổ chức để thật sự trở thành hạt nhân lãnh đạo
trong các cơ quan khoa học và công nghệ; tích cực phát triển đảng viên trong
lĩnh vực hoạt động này. Mỗi đảng viên của Đảng phải thật sự có năng lực trí
tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tiên phong gương mẫu, thực sự
có uy tín trong tập thể, được quần chúng tin tưởng.
Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra các quan điểm về cán bộ, công
tác cán bộ và chính sách cán bộ. Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý nhà nước
và các tổ chức trong lĩnh vực khoa học và công nghệ lập chương trình, kế
hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ theo yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức mình.
8
Đảng không can thiệp trực tiếp vào công việc của các cơ quan đó, nhưng
Đảng cử những cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất, đạo đức tốt nắm giữ
các cương vị lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong các cơ quan đó, trên cơ sở uy
tín cán bộ và bầu cử dân chủ.
Nói cách khác, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và
công nghệ là bằng đường lối, chính sách; bằng vai trò tiên phong gương mẫu
của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan đó; băng công tác tư
tưởng, công tác tổ chức và cán bộ; bằng phát huy tinh thần trách nhiệm, tính
khoảng 300 bài/ năm. Trong giai đoạn 1998 – 2002, tỷ lệ số bài báo khoa học
của Việt Nam trên tổng só của thế giới chỉ đạt 0,02%. Trong lúc đó ở Hàn
Quốc và Đài Loan: 0,77%; Xin-ga-po: 0.25%; Thái Lan: 0,11%; Ma-lai-xi-a:
0,08%; Phi-líp-pin: 0,05%; In-đô-nê-xi-a: 0,04%.
10
Số lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích chủ yếu là do các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đăng ký thông qua nhập khẩu công nghệ. Số
lượng đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của người Việt Nam mới đạt
khoảng 10% trong một số năm gần đây. Số đăng ký sáng chế quốc tế của Việt
Nam trong 5 năm (2001 – 2005) chỉ có 11 đơn, trong khi đó của một số nước
trong khu vực và trên thế giới là: Ma-lai-xi-a: 147; Phi-líp-pin: 85; Thái Lan:
39; In-đô-nê-xi-a: 36; Hàn Quốc: 15.000; Nhật Bản: 87.620; Mỹ: 206.710.
Những con số trên cho thấy trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam
vẫn còn một khoảng cách lớn so với ngay cả các nước trong khu vực.
Năm 2006, tổng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công
nghệ đã tăng lên gần 5.890 tỉ đồng, đạt 2% chi ngân sách nhà nước. Nguồn
đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm đến 60% tổng đầu tư của xã hội cho khoa
học và công nghệ, trong đó 2/3 dành cho sự nghiệp khoa học và 1/3 dành cho
xây dựng cơ bản. Ở các nước, số đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học và
công nghệ chiếm trên 60%, còn đầu tư của nhà nước chỉ chiếm 30%.
Tình hình phát triển công nghệ ở Việt Nam có thể đánh giá thông qua
giá trị nhập khẩu máy móc, trang thiết bị công nghệ trong thời gian gần đây.
Trong 5 năm giai đoạn 2001 – 2005, Việt Nam đã nhập khẩu 35.997 triệu
USD máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, chiếm khoảng 30% tổng kim
ngạch nhập khẩu. Năm 2006, con số này là 9.597 triệu USD, chiếm 21,8%
tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.
Đến nay, Việt Nam sử dụng công nghệ trung bình là phổ biến, tỷ lệ
độ khoa học, công nghệ trong nước đã có bước phát triển; hoạt động khoa học
và công nghệ được mở rộng và nâng cao hiệu quả.
Công tác bảo vệ môi trường đạt được những kết quả bước đầu. Hoạt
động điều tra cơ bản về môi trường được duy trì; việc ngăn ngừa và khắc
phục ô nhiễm môi trường có tiến bộ; đã ban hành một số chính sách về bảo vệ
môi trường.
3. Hạn chế:
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, kể cả khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội chậm đổi mới; chưa có chính sách và biện pháp tốt để huy
12
động các nguồn lực và để sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước đầu tư cho
khoa học và công nghệ; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học và công
nghệ với đào tạo nhân lực, nhất là ở bậc đại học và với hoạt động sản xuất,
kinh doanh; chưa phát huy tác dụng tích cực đối với phát triển kinh tế – xã
hội.
Thị trường khoa học và công nghệ chậm được hình thành, hiệu quả ứng
dụng các công trình nghiên cứu khoa học thấp; thiếu chính sách và biện pháp
thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ
để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh.
Trình độ công nghệ trong nhiều ngành còn lạc hậu; việc chuyển giao công
nghệ còn rất chậm. Cơ sở vật chất kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu khoa học
và công nghệ còn thiếu, lạc hậu, chưa đồng bộ và sử dụng kém hiệu quả.
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học còn hạn chế về trình độ, bất hợp
lý về cơ cấu; thiếu cán bộ đầu ngành và các tập thể khoa học và công nghệ
mạnh. Quyền sở hữu trí tuệ chưa được coi trọng đúng mức và còn bị xâm
phạm.
4. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế:
khu vực thứ hai, cần có tiềm lực khoa học tương xứng để tổ chức nghiên cứu triển
khai và đạt các kết quả cho phép phổ biến, mở rộng qui mô áp dụng.
2. Quan điểm phát triển
- Phát triển Khoa học Công nghệ TP.HCM thời kỳ 1996 - 2010 gắn hữu
cơ và là nhân tố động lực trong phát triển kinh tế - xã hội TP
14
- Phát triển Khoa học Công nghệ TP.HCM gắn chặt chẽ với các chương
trình và kế hoạch phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia, các chương trình
và kế hoạch phát triển của TP.HCM từng thời kỳ.
- Phát triển Khoa học Công nghệ TP.HCM dựa trên cơ sở lựa chọn, áp
dụng có hiệu quả các công nghệ tiên tiến, phù hợp của thế giới và trong nước
trong sản xuất và đời sống, cũng như xây dựng và phát huy tiềm lực khoa học
và công nghệ trên địa bàn TP nhằm nghiên cứu triển khai giải quyết các vấn
đề Khoa học Công nghệ kịp thời đáp ứng các nhu cầu phát triển nhanh, ổn
định của TP trong suốt thời kỳ quy hoạch, tương xứng với vị trí một trung tâm
Khoa học Công nghệ của khu vực Nam bộ và của đất nước.
3. Mục tiêu phát triển
- Tập trung đổi mới công nghệ ở những ngành sản xuất chủ yếu với mức
đổi mới ít nhất 15%/năm, tạo nhiều sản phẩm, hàng hóa có chất lượng, khả
năng cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước, tạo bước ngoặt về
năng suất, chất lượng và hiệu quả để tới năm 2010 trình độ công nghệ của
những ngành này đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới và các nước
trong khu vực, đồng thời hình thành và phát triển một số ngành công nghệ
cao, hiện đại, như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh
học...
- Phổ cập các thành tựu mới của công nghệ sinh học và các kỹ thuật tiến
bộ trong nông, lâm, ngư nghiệp để nâng cao năng suất chất lượng các sản
pháp thanh trùng bằng các tia gamma, tia tử ngoại... và đồng bộ hóa các quá
trình sản xuất khác nhau trên cùng một hệ thống thiết bị chế biến (cơ học,
nhiệt, lạnh, hóa học...); áp dụng các thành tựu của công nghệ sinh học (enzim,
vi sinh, công nghệ sản xuất các loại chất màu và hương vị nguồn gốc sinh
học...).
- Ngành điện tử từ các dây chuyền lắp ráp SKD, CKD một số mặt hàng
điện tử dân dụng, từng bước đầu tư và nắm vững công nghệ sản xuất các
mạch tổ hợp (IC), máy tính cá nhân và thiết bị ngoại vi, thiết bị thông tin viễn
thông, thiết bị quang điện tử, thiết bị tự động hóa (điều khiển bằng kỹ thuật số
và máy tính - CNC, điều khiển khí động - thủy lực...).
16
- Ngành cơ khí chế tạo nhanh chóng sử dụng các công nghệ hiện đại
trong các khâu tạo phôi, nhiệt luyện, gia công chính xác, nâng khả năng sản
xuất phụ tùng thay thế có chất lượng cho các ngành sản xuất khác và sản xuất
các sản phẩm cơ khí có lợi thế so sánh cho xuất khẩu.
- Ngành nông, lâm, ngư nghiệp áp dụng rộng rãi các thành tựu của khoa
học - kỹ thuật đã được tạo ra trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản và lâm nghiệp (rừng ngập mặn, đất trống), cơ cấu kinh tế trong
thâm canh cây trồng - vật nuôi, tăng vụ, trong điều kiện điện khí hóa, CNH và
đô thị hóa; phát triển CN sau thu hoạch và chế biến sản phẩm tại chỗ (những
đối tượng cần lưu ý là lương thực, cây ăn quả, rau tươi sạch, bò sữa, gia súc gia cầm nuôi CN và hộ gia đình, thủy sản nuôi và đánh bắt biển sâu...), phát
triển ngành nghề TTCN nhằm phát triển nhanh nền kinh tế hàng hóa tại các
vùng nông thôn ngoại thành, khai thác có hiệu quả nhất các điều kiện tự nhiên
đồng thời với việc nâng cao mức sống, trình độ dân trí và văn hóa - xã hội
trên từng địa bàn.
+ Đối với các lĩnh vực công nghệ mới hiện đại:
- CN sản xuất vật liệu mới, cùng với việc áp dụng công nghệ cao
công nghệ trên địa bàn TP. Trường chịu sự quản lý nhà nước của TP và Bộ
Giáo dục và Đào tạo, nhằm mở rộng phương thức du học tại chỗ để đào tạo
một số lượng lớn cán bộ Khoa học Công nghệ có trình độ quốc tế gắn với nhu
cầu phát triển TP (sản xuất CN, quản lý đô thị...).
Khuyến khích các doanh nghiệp hợp đồng với cơ sở đào tạo trong và
ngoài nước, Việt kiều để đào tạo chuyên sâu, gắn với hệ thống ngành nghề
của các doanh nghiệp (có sự quản lý của Nhà nước). Thành lập hệ thống các
trung tâm đào tạo nghề và công nhân kỹ thuật bậc cao.
Với các định hướng phát triển nguồn nhân lực được đào tạo nêu trên, sau
năm 2000 sẽ có những phát triển đột biến trong ngành giáo dục và đào tạo và
vào giai đoạn 2006 - 2010, TP.HCM đạt mức 90% công nhân kỹ thuật được
đào tạo chuyên nghề, 60.000 cán bộ đại học/1 triệu dân (mức phát triển của
các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á vào năm 2000). Do những
giảm sút nhanh chóng trong đào tạo trên đại học và tỷ lệ về hưu lớn trong đội
ngũ này vào thập niên 90, khả năng bù đắp những thiếu hụt và phát triển chỉ
18
có thể đạt mức 1 trên đại học/100 đại học (chỉ đáp ứng được 20 - 30% nhu
cầu cơ cấu tối ưu).
Tổ chức mạng lưới nghiên cứu - triển khai KH - CgN:
Để phát triển KH - CgN, cần thiết phải có một cơ cấu tổ chức tương
xứng, hợp lý, trong đó mỗi thành viên chức năng phải có đủ năng lực và cơ sở
pháp lý, hoạt động có hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển KH - CgN.
- Hình thành và sớm đưa vào hoạt động khu công nghệ kỹ thuật cao
Thủ Đức với những chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài trong
lãnh vực kỹ thuật cao, tạo ra các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao cho
nhu cầu phát triển trong nước và xuất khẩu, tổ chức tốt mối liên kết với cộng
đồng KH - CgN, các trường đại học và các doanh nghiệp ở TP để thúc đẩy
của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ
cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội
loài người. Trình độ dân trí, tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố
quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới.
Cùng với những chuyển biến và phát triển kinh tế - xã hội của TP.HCM
theo đường lối "đổi mới", đặc biệt là từ sau Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về
"Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới" và Nghị quyết VII Ban chấp
hành TW về CNH và HĐH đất nước, hoạt động khoa học và công nghệ (KH CgN) đã có những đóng góp thiết thực trong việc đạt được những thành tựu tăng
trưởng của các ngành kinh tế - xã hội thời gian qua, cũng như tạo được một số
tiền đề khoa học và công nghệ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
tới. Tuy nhiên, những kết quả đạt được mới chỉ là những chuyển biến bước đầu.
Nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội trong các giai đoạn kế tiếp
đã và đang đặt ra hàng loạt các nhu cầu cấp bách và ngày càng gay gắt đối với sự
phát triển của KH và CgN. Vì thế, những đánh giá tổng quát dưới đây xuất phát
từ hai giác độ: một là, những nhu cầu của CNH và HĐH trong giai đoạn quy
hoạch và hai là, các khả năng và nỗ lực có thể huy động được trong điều kiện
của nền kinh tế mở, nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Dương Xuân Ngọc (chủ biên): Lịch sử tư tưởng chỉnh trị Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
2.