luận văn thạc sĩ cho vay tiêu dùng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh huyện mỹ đức, hà nội - Pdf 41

1
1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành
Mã số

: Kinh doanh thương mại

: 60 34 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS AN THỊ THANH NHÀN

HÀ NỘI, NĂM 2016


2
2


3


QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành
Mã số

: Kinh doanh thương mại
: 60 34 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS AN THỊ THANH NHÀN

HÀ NỘI, NĂM 2016


4

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý chi ngân sách chi ngân sách nhà nước
trên địa bàn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” của tôi được thực hiện một cách
nghiêm túc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS-TS. Nguyễn Văn Minh, cùng với
tham khảo qua các sách báo, tạp chí, internet… và các quy định nghiệp vụ, các văn
bản pháp lý và tài liệu liên quan đến việc thực hiện luận văn.
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày.......tháng.......năm 2016


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN:
NS
NSTƯ
NSĐP
KBNN:
HĐND:
UBND:
XDCB:
KT-XH
ANQP
SNGD
SNKT
QLNN

Ngân sách Nhà nước
Ngân sách
Ngân sách trung ương
Ngân sách địa phương
Kho bạc Nhà nước
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Xây dựng cơ bản
Kinh tế xã hội
An ninh quốc phòng
Sự nghiệp giáo dục
Sự nghiệp kinh tế
Quản lý nhà nước


của thành phố Hà Nội, trung tâm chính trị - hành chính của Thủ đô nói riêng và cả
nước nói chúng, là nơi tập trung nhiều cơ quan TW Đảng và nhà nước với việc thực
hiện theo chỉ đạo, kế hoạch của thành phố Hà Nội đặt ra thì quận trong 5 năm vừa
qua đã đạt được thành tích đáng kể như:
Trong 5 năm vừa qua, tình hình tăng trưởng kinh tế của quận có tốc độ ổn
định và ở mức cao. Giá trị sản xuất chung tăng bình quânlà 14,33%/năm, trong đó:
Giá trị sản xuất chung ngành dịch vụ tăng bình quân 16,68%/năm,giá trị sản xuất


10

ngành thương mại tăng bình quân 17,62%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng
bình quân 11,43%/năm, giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng 10,9%/năm.
Trong công tác quản lý, điều hành chi ngân sách của Quận đã hoàn thành tốt
các nhiệm vụ trọng tâm của năm ngân sách. Tổng chi ngân sách cho các ngành, lĩnh
vực được đáp ứng kịp thời đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ các nhiệm vụ chính
trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn quận. Chi cho đầu tư phát
triển chiếm 25%, chi thường xuyên chiếm 75% trong tổng chi ngân sách. Các nhiệm
vụ chi đầu tư xây dựng, chi thường xuyên đều tuân thủ theo Luật ngân sách, các
quy định của Bộ tài chính và quyết định của UBND Thành phố Hà Nội
Tuy nhiên thực trang quản lý chi ngân sách nhà nước quận Ba Đình còn nhiều
hạn chế như: vốn chi cho lĩnh vực đầu tư xây dựng còn dàn trải, tiến độ giải ngân
còn chậm, một số công trình đầu tư còn bất hợp lý, tình trạng quản lý thu, chi
NSNN vẫn còn thất thoát do chưa bao quát hết các nguồn thu và khoản chi, gặp
nhiều khó khăn trong quá trình điều hành và quyết toán ngân sách do trong công tác
xây dựng dự toán chi ngân sách còn chưa dự báo hết và xác định được đầy đủ các
nhiệm vụ chi, đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách còn hạn chế về chuyên môn,
Nhận thấy tính cấp thiết của công tác này, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Quản lý
chi ngân sách chi ngân sách nhà nước trên địa bàn Quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế. Đây là một đề tài mang tính thực tiễn

Việt Nam”, bài viết chỉ ra nguyên tắc ngân sách thường niên là một trong 4 nguyên
tắc cơ bản về ngân sách theo quan niệm cổđiển. Sự xuất hiện và phát triển của
nguyên tắc ngân sách thường niên đồng hành với sự phát triển của dân chủ, đáp ứng
yêu cầu minh bạch, hiệu quả trong chi tiêu ngân sách của Chính phủ từ phía người
dân vàđược thừa nhận tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, nguyên tắc
ngân sách thường niên đãđược thể chế hóa trong Luật NSNN, song chưa được tuân
thủđầy đủ, thể hiện thông qua các quy định vềứng trước dự toán ngân sách và
chuyển nguồn ngân sách. Bởi vậy, nghiên cứu này được thực hiện để làm rõ hơn
các nội dung của nguyên tắc, phân tích việc thực hiện nguyên tắc tại Việt Nam gắn
với quy định vềứng trước dự toán ngân sách, chuyển nguồn ngân sách vàđề ra giải
pháp để hoàn thiện các quy định này trong thời gian tới.
- Luận án Tiến sỹ“Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn
2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020” của tác giả Tô Thiện Hiền, Trường Đại học
Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012. Luận án đã làm sáng tỏ về mặt lý
luận về hiệu quả quản lý NSNN và quản lý NSNN tỉnh An Giang. Phân tích thực
trạng các hình thưc thu, chi NSNN tỉnh trong giai đoạn 2006 -2010. Sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích số liệu thu, chi ngân sách nhà nước


12

để minh họa về những thành tích cũng như hạn chế của công tác quản lý thu,chi
ngân sách nhà nước tỉnh An Giảng. Để từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát
triển kinh tế bền vững của địa phương với tầm nhìn đến năm 2020.
- Đề tài “Tăng cường quản lý và sử dụng NSNN có hiệu quả trên địa bàn thị
xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Hoa (năm 2011), cũng xây dựng
được mô hình khung lý thuyết về quản lý thu, chi NSNN cấp huyện gồm các nội
dung chủ yếu: lập dự toán thu, chi ngân sách; chấp hành dự toán thu, chi ngân sách;
kiểm soát thu, chi ngân sách. Nêu sơ bộ về tình hình KTXH thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc

cơ chế đó.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đãđề cập đến nhiều khía cạnh còn
hạn chế trong công tác quản lý NSNN tại các địa phương như: các hạn chế công tác
lập dự toán thu, chi ngân sách, chấp hành dự doán , kiểm soát thu, chi ngân sách.
Đây là những vấn đề trọng tâm ảnh hưởng tới kết quả công tác quản lý ngân sách.
Từ thực tiến các công trình này thì nghiên cứu của tôi tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu cụ
thể hơn các hạn chế trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn
quận Ba Đình. Để từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả
hơn trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại địa bàn quận Ba Đình, TP.
Hà Nội.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất những định hướng, quan điểm phát triển và hoàn thiện công tác quản
lý chi ngân sách quận Ba Đình
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài cần hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước cấp quận.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cấp quận tại
quận Ba Đình, giai đoạn 2012 - 2015.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
chi thường xuyên ngân sách cho quận Ba Đình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là lý thuyết và thực tiễn của quản lý chi ngân sách
nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu:


14

+ Về nội dung: Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa

“- Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
- Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài
chính cơ bản của nhà nước.
- Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà
nước huy động và sử dụng nguồn tài chính khác nhau.”
(Nguồn:Bách khoa toàn thư mở wikipedia)
Xét về các khía cạnh thì các quan niệm trên đều có điểm đúng về ngân
sách nước, tuy rằng mỗi quan niệm lại có các thiếu sót riêng. Từ đó, ta có thể rút ra
khái niệm ngân sách nhà nước như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản
thu và chi của Nhà nước có trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
Bên cạnh đó theo Luật NSNN đã được Quốc hội thông qua và ban hành ngày
25/6/2015 cho rằng “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhát định do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước”.
Bản chất ngân sách nhà nước:


16

Từ khái niệm trên, ta có thể thấy ngân sách Nhà nước biểu hiện ra bên ngoài
là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước với các khoản thu và chi của nó.
Khi Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình sẽ phát sinh các quan hệ
kinh tế trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội. Điều này cho ta
thấy được phần nào bản chất của ngân sách nhà nước. Để từ đó, ta có thể rút ra về
bản chất sâu xa của ngân sách nhà nước: Ngân sách Nhà nước phản ánh các mối
quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước phân

thoái người ta thường khuyến cáo dùng chính sách tài khoá kích cầu bằng cách
giảm thuế hoặc tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lượng sản xuất xã hội. Khi
nền kinh tế phát triển bình thường, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khoá
kích thích sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền: chính sách tài khoá kích thích nới lỏng
với mục đích tăng tổng cầu, mức lãi suất trong nước tăng, giá đồng nội tệ tăng,
thuần xuất khẩu giảm, tổng cầu giảm. Như vậy, trước mắt chính sách tài khoá có thể
kích thích tổng cầu có tác động đến tăng trưởng kinh tế, nhưng về lâu dài lại kìm
hãm chính quá trình tăng trưởng. Đòi hỏi các nhà hoạch địch chính sách tài chính
nói chung và chính sách tài khoá nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ ngân
sách nhà nước một cách thích hợp trong quá trình điều chỉnh nền kinh tế.
Các chức năng nói trên có mối quan hệ mật thiết, phản ảnh được bản chất hoạt
động của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác, động viên, phân bổ,
tổ chức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia điều tiết kinh tế vĩ mô.
● Vai trò của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại của đất nước. Vai trò của NSNN luôn gắn
liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định. Do đó ta có thể thấy
được ngân sách nhà nước có các vai trò như sau:
- Vai trò huy động các nguồn tài chính của ngân sách nhà nước để đảm bảo
nhu cầu chi tiêu của nhà nước: Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN
là việc đảm bảo nguồn tài chính để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của
mình trong linh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại. Mà nguồn tài
chính này được hình thành từ các khản thu thuế và thu khác. Đây là vai trò mà bất
kỳ chế độ xã hội, cơ chế kinh tế nào NSNN đều phải thực hiện.
- Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Ngân sách nhà nước là công cụ
định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,kích thích phát triển sản xuất kinh và
chống độc quyền. Thông qua hoạt động chi ngân sách thì Nhà nước sẽ cung cấp
kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, điều này tạo ra một điều kiện thuận lợi
cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên



đó:
- Ngân sách trung ương là ngân sách các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. NSTƯ giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm


19

thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và hỗ trợ: những địa phương chưa cân đối ngân
sách và các địa phương thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành
chưa được bố trí trong dự toán ngân sách của năm thời kỳ ổn định ngân sách; các
địa phương thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự
án khác của cấp trên, phần giao cho cấp dưới thực hiện; các địa phương được hỗ trợ
chi khắc phục thiên tai, thảm họa, dịch bệnh trên diện rộng vượt quá khả năng cân
đối của ngân sách cấp dưới; các địa phương được hỗ trợ thực hiện một số chương
trình, dự án lớn, đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương. Mức hỗ trợ được xác định cụ thể cho từng chương trình,dự án.
- Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa
phương. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực
hiện những nhiệm vụ chi được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc
phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với
phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và trình độ quản lý của mỗi
cấp trên địa bàn.
1.1.3. Khái niệm & đặc điểm thu và chi NSNN
1.1.3.1. Khái niệm & đặc điểm thu NSNN
 Khái niệm thu ngân sách nhà nước: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các
khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các
khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác
theo quy định của pháp luật. (Theo khoản 1 điều 2 Luật ngân sách nhà nước năm
2002)
 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước:

thời kỳ; Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp
lí cao; Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ
mô; Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
là chủ yếu; Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các
phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.v...
(các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ).
c. Phân loại chi ngân sách nhà nước:
Chi ngân sách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất
lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tùy vào là ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương sẽ có các nhiệm vụ chi khác nhau. Sau đây tôi sẽ giới thiệu sơ qua
về chi ngân sách trung ương, tiếp đó là đi cụ thể hơn về chi ngân sách địa phương.
Cụ thể là:


21

● Chi ngân sách trung ương gồm có: Chi đầu tư phát triển; chi dự trữ quốc gia;
chi thường xuyên các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương được phân cấp trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, sự nghiệp
giáo dục, sự nghiệp y tế, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp bảo vệ môi trường,
các hoạt động kinh tế, …; chi trả nợ lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; chi viện
trợ; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính trung ương; chi chuyển nguồn ngân sách sang
năm sau; chi bổ sung cân đối ngân sách.
● Chi ngân sách địa phương gồm có: chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên
của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trong các lĩnh vực sự nghiệp
giáo dục, sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp quốc phòng - an ninh phần được
giao quận quản lý, sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục
thể thao, sự nghiệp bảo vệ môi trường, chi trả nợ lãi các khoản do địa phương vay,
chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương, chi chuyển nguồn sang năm sau, chi
bổ sung cân đối ngân sách; chi khắc phục hậu quả do thiên tai, thảm họa nghiêm

trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt
động của nền kinh tế và trong những trường hợp nhất định cho phép ngăn chặn, bù
đắp các tổn thất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế, xã hội. Trong nền kinh tế thị
trường, hoạt động của các quy luật kinh tế có thể dẫn đến những biến động phức tạp
không có lợi cho nền kinh tế hoặc xảy ra thiên tai đòi hỏi phải có một khoản dự trữ
giúp nhà nước điều tiết thị trường, khắc phục hậu quả. Khoản dự trữ này được hình
thành bằng nguồn tài chính được cấp phát từ ngân sách nhà nước hàng năm. Dự trữ
quốc được sử dụng cho hai mục đích:
- Giải quyết hậu quả các trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm ảnh hưởng đến
sản xuất và đời sống .
- Chi tiêu dùng thường xuyên:Việc chi tiêu thường xuyên tại địa phương gồm
có:
+ Các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản lý xã hội
của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: một bộ phận vốn được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối
quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận
phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước.
+ Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính): Chi quản lý nhà nước bắt
nguồn từ sự tồn tại và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nưóc. Đây là
khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nưóc
từ trung ương đến địa phương, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạt
động của các tổ chức chính trị xã hội. Về nội dung khoản chi này bao gồm: Chi


23

lương và phụ cấp lương, chi về nghiệp vụ,chi về văn phòng phí, các khoản chi khác
về quản trị nội bộ.
+ Chi sự nghiệp quốc phòng - an ninh quốc phòng: Công tác quốc phòng - an
ninh luôn được quận Ba Đình xác đình là nhiệm vụ trong tâm và cần thiết phải cấp

+ Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công nghệ: Xuất phát từ yêu cầu và
sự cần thiết phải nhanh chóng tiếp cận với nền khoa học và công nghệ tiên tiến của
thế giới để khoa học và công nghệ trở thành một trong những động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế xã hội. Về nội dung khỏan chi này bao gồm: chi cho mạng lưới
các cơ quan nghiên cứu và phát triển công nghệ bao gồm các viện, phân viện, các
trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ; chi về lương và phụ cấp lương cho
cán bộ khoa học, chi cho các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước (4
chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước hiện nay: chương trình công
nghệ thông tin, chương trình công nghệ sinh học, chương trình vật liệu mới và
chương trình tự động hóa); chi đầu tư xây dựng cơ bản cho những công trình nghiên
cứu, thực nghiệm về khoa học, công nghệ; các khoản chi khác về khoa học, công
nghệ.
+ Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Đây là khoản chi mà tầm quan trọng của nó
là nhằm nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn kỷ thuật của mọi người dân trong xã
hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về nội dung khoản chi này bao gồm: chi
về giáo dục phổ thông; chi về đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác; chi cho các
chương trình quốc gia về giáo dục và đào tạo; các khoản chi sự nghiệp giáo dục và
đào tạo khác.
+ Chi sự nghiệp y tế: chi sự nghiệp y tế là khoản chi phục vụ công tác phòng
bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân trong xã hội. Về
nội dung khoản chi này bao gồm: chi cho công tác phòng bệnh; chi cho công tác
chữa bệnh: là khoản chi quan trọng nhất nhằm duy trì sự hoạt động của hệ thống các
bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng. chi cho các chương trình quốc gia về y tế:
chương trình phòng chống bướu cổ, phòng chóng sốt rét, dân số và kế hoạch hóa
gia đình; các khoản chi sự nghiệp y tế khác.
+ Chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao: Mục tiêu của các hoạt động văn
hóa, nghệ thuật, thể thao là nhằm nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng lớp
dân cư nhằm xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân
đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Các mục

quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều
kiện biến động của môi trường. Trong đó, chủ thể quản lý là tác nhân (con người,
hoặc bộ máy quản lý) tạo ra các tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý đi
đến mục tiêu. Đối tượng quản lý (giới vô sinh, hữu sinh, con người) tiếp nhận các
tác động của quản lý. Từ đó ta có thể hiểu: Quản lý chi NSNN cấp quận là quá trình
lập Kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát mọi hoạt động chi tiêu từ NSNN theo
đúng quy định pháp luật và phân cấp NSNN, nhằm sử dụng ngân sách đúng mục



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status