ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HỮU
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG
TẢNG LIẾM TRONG CHĂN NUÔI TRÂU
TẠI TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN HỮU
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÀ SỬ DỤNG
TẢNG LIẾM TRONG CHĂN NUÔI TRÂU
TẠI TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
trong quá trình học tập cũng nhƣ hoàn thành bản luận văn. Tôi xin cảm ơn các
đơn vị sau đây đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
- Ban lãnh đạo Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn; Lãnh đạo Trạm Thú y
huyện Bắc Sơn nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện về thời gian cho tôi trong
quá trình học tập cũng nhƣ trong giai đoạn thực hiện đề tài.
- Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn; Ủy ban nhân dân xã Chiến Thắng là các
cơ quan quản lí nhà nƣớc trên địa bàn tôi triển khai, thực hiện đề tài đã tào điều
kiện và giúp đỡ về nhân lực, vật lực tốt nhất để tôi hoàn thành bản luận văn này.
- Tôi xin chân thành cảm ơn các hộ gia đình chăn nuôi trâu tại các thôn
Hồng Phong I, Hông Phong II và Hồng Phong III xã Chiến Thắng huyện Bắc
Sơn, xã Nam Quan huyện Lộc Bình, xã Tri Lễ huyện Văn Quan tỉnh Lạng
Sơn đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi về gia súc thí nghiệm để tôi thực hiện và
hoàn thành đề tài này.
Để hoàn thành bản luận văn này tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới TS. Lê Thị Thanh Huyền, TS. Hà Văn Doanh là những thầy, cô
hƣớng dẫn về khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi và có trách nhiệm trong quá
trình nghiên cứu cũng nhƣ hoàn thiện bản luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi
trong quá trình xây dựng đề cƣơng và thực hiện bản luận văn này. Nhân dịp
này cho phép tôi đƣợc bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp
đỡ, động viên khích lệ để tôi vƣợt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hữu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2.2.2. Thời gian nghiên cứu ........................................................................ 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
2.3. Nội dung, phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................... 37
2.3.1. Nội dung nghiên cứu ......................................................................... 37
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá ......................................................................... 37
2.3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................... 38
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 44
3.1. Kết quả đánh giá quy mô và thực trạng sử dụng thức ăn trong chăn
nuôi trâu tại tỉnh Lạng Sơn .............................................................................. 44
3.1.1. Số lƣợng trâu qua các năm ................................................................ 44
3.1.2. Quy mô đàn trâu của các hộ dân tại tỉnh lạng Sơn ........................... 46
3.1.3. Kết quả đánh giá việc sử dụng nguồn thức ăn chăn nuôi trâu .......... 49
3.1.4. Tỷ lệ nông hộ có dự trữ thức ăn trong chăn nuôi .............................. 52
3.2. Đánh giá kết quả của việc sản xuất tảng liếm .......................................... 54
3.3. Hiệu quả của việc sử dụng tảng liếm trong chăn nuôi trâu ...................... 55
3.3.1. Khả năng sinh trƣởng của đàn trâu ................................................... 55
3.3.2. Kết quả vỗ béo của đàn trâu .............................................................. 61
3.3.3. Tỷ lệ mắc bệnh của trâu .................................................................... 62
3.3.4. Hiệu quả kinh tế ................................................................................ 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 68
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
:
Gram
HCl
:
Hydroclorua
K
:
Kali
Mg
:
Magiê
N
:
nito
Na
:
Vật chất khô
VSV
:
Vi sinh vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Diễn biến của đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Lạng Sơn từ
năm 2008 đến năm 2014 ............................................................. 30
Bảng 2.1.
Thành phần và tỷ lệ các chất phối trộn ....................................... 39
Bảng 3.1.
Số lƣợng trâu của 03 huyện Lộc Bình, Văn Quan, Bắc Sơn
Sinh trƣởng tuyệt đối của trâu qua các tháng theo dõi ................ 58
Bảng 3.9.
Khối lƣợng trung bình của trâu qua các tháng theo dõi .............. 61
Bảng 3.10. Tóm tắt tình trạng sức khỏe của các đàn trâu qua sáu tháng
theo dõi ........................................................................................ 63
Bảng 3.11. So sánh chi phí tảng liếm/ kg tăng KL ........................................ 64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số lƣợng trâu của ba huyện từ năm 2011 đến năm 2014 .................44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một nƣớc đang trên đà phát triển, với 70% dân số làm nông nghiệp,
chăn nuôi bị thu hẹp, công tác chăm sóc nuôi dƣỡng chƣa đƣợc quan tâm....
Do phong tục tập quán tại các vùng miền khác nhau nên việc nuôi
dƣỡng, chăm sóc của các hộ chăn nuôi trâu, bò cũng khác nhau. Tình hình sử
dụng các loại thức ăn có nguồn gốc từ nông nghiệp sẵn có hay thức ăn bổ
sung thêm tại chuồng nuôi chƣa đƣợc quan tâm. Các hộ chăn nuôi chƣa tận
dụng đƣợc nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp để dự trữ cho trâu bò, đặc
biệt là vào mùa Đông khi lƣợng thức ăn xanh thiếu thốn.
Trong chăn nuôi nói chung thiếu khoáng, nhất là khoáng vi lƣợng do
thức ăn gia súc không đảm bảo thành phần và giá trị dinh dƣỡng... dẫn đến
tình trạng rối loạn trao đổi chất, khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dƣỡng,
làm cho sức khỏe gia súc giảm sút, trâu ốm yếu, da lông khô cứng, dễ mắc
các bệnh về chân, móng, năng xuất, chất lƣợng sữa không cao... Nhƣ vậy
năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi sẽ không cao và
không bền vững.
Mặt khác trong mấy năm gần đây ngành chăn nuôi của nƣớc ta nói
chung gặp rất nhiều rủi do, lƣợng thực phẩm đƣợc cung cấp từ thịt lợn, thịt
gia cầm trên thị trƣờng ngày càng khan hiếm, do đó thịt trâu, bò trên thị
trƣờng đƣợc tiêu thụ mạnh. Đây chính là cơ hội cho ngành chăn nuôi trâu,
bò phát triển.
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới miền núi phía Bắc về mùa đông vào
những tháng rét đậm, rét hại tỷ lệ trâu, bò bị chết rét, chết đói là rất cao
(năm 2010 là 22.570 con; năm 2011 là 23.482 con; năm 2012 là 23.689
con; năm 2013 là 437 con; năm 2014 là 81 con). Tuy nhiên, Lạng Sơn lại
có địa hình và điều kiện khí hậu thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi đại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Tình hình chung về chăn nuôi trâu ở Việt Nam
Trâu là loài gia súc đã đƣợc thuần dƣỡng từ rất lâu đời và đã đem lại
những lợi ích thiết thực cho đời sống con ngƣời, vì vậy nó đƣợc coi là con vật
gần gũi, thân thiện với con ngƣời. (Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tƣờng,
2004) [1]. Đặc điểm của trâu Việt Nam là có khả năng chịu đựng kham khổ
và chống đỡ bệnh tật cao, nhƣng khả năng cho thịt và cho sữa thấp, tầm vóc
nói chung là không lớn (Mai Văn Sánh và cs, 2006) [37].
Việt Nam vốn là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu với cây lúa nƣớc là cây
trồng chính. Trâu, bò đƣợc nuôi trong mỗi gia đình nông dân với mục đích
chính là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhƣ: cày ruộng, lấy phân bón
ruộng và sau đó mới sử dụng bò vào mục đích kéo xe... Mùa đông ở miền Bắc
và mùa khô ở miền Nam là thời gian trâu, bò bị thiếu hụt thức ăn trầm trọng
và phải sống trong môi trƣờng sống bất lợi nhƣ quá lạnh, quá nóng, bệnh dịch
và thiếu nƣớc. Có những năm trâu bò đổ ngã lên tới trên 20% tổng đàn tại một
số tỉnh vùng núi phía Bắc hay Ninh Thuận ở miền Trung. Quá trình thích nghi
và chọn lọc tự nhiên này đã hình thành nên giống trâu bò địa phƣơng của ta
nhỏ con, dễ nuôi, sinh ra để “cày ruộng”.
Từ năm 1995, đất nƣớc bƣớc vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và trâu bò cũng đang đƣợc chuyển dần từ mục đích cày kéo sang mục
đích sản xuất thịt và sữa. Mặc dù vậy, một nƣớc chủ yếu là nông nghiệp thì
con trâu, con bò vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống sản xuất nông
nghiệp vì những lợi ích nhƣ: Tăng sản phẩm thịt cho xã hội, do vậy mà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
cùng thời gian đó. Còn đàn trâu nuôi ở vùng Đông Bắc có tăng lên ở năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
1999, sau đó giảm xuống dần trong hai năm 2000 và 2001 và gần nhƣ giữ
nguyên đàn nhƣ vậy cho đến năm 2006 và từ năm 2007 đến nay mới bắt dầu
có chiều hƣớng tăng nhẹ.
Chăn nuôi trâu tuy chỉ đƣợc xếp hạng sau chăn nuôi bò về tầm quan
trọng, nhƣng ngành chăn nuôi này lại có vị thế quan trọng ở một số vùng nhất
định trong cả nƣớc, cụ thể là vùng núi phía Bắc và phía Bắc của Tây Nguyên,
do chúng tạo ra nguồn thu nhập đáng kể ở các vùng này.
Theo Cục chăn nuôi, chăn nuôi trâu hiện nay ở nƣớc ta chủ yếu là chăn
nuôi nông hộ truyền thống, sử dụng thức ăn tận dụng, chăn thả bờ đê, bờ
ruộng, chiếm tới 90% số hộ, với quy mô chăn chỉ từ 1 - 7 con/hộ. Phƣơng
thức chăn nuôi trang trại chỉ khoảng 10%. Năm 2006, cả nƣớc có 247 trang
trại chăn nuôi trâu, tập trung nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ (124 trang trại,
chiếm 42,10 %), Tây Bắc (79 trang trại, chiếm 31,98 %), Đông Bắc (38 trang
trại, chiếm 15,38 %).
Thực tế cho thấy nuôi trâu, bò sẽ tận dụng đƣợc phần lớn nguồn phụ
phẩm từ nông nghiệp nhƣ: rơm, bẹ lá, thân cây ngô mà chăn nuôi lợn và gia
cầm không thể tận dụng đƣợc. Tuy nhiên, nuôi trâu, bò cần mức đầu tƣ ban đầu
về giống và chuồng trại cao hơn và thời gian thu lợi lâu hơn vì chu kỳ sinh học
của bò dài hơn các vật nuôi khác. Mặc dù vậy, vấn đề này có thể giải quyết
đƣợc vì hiện nay ở nông thôn đang có rất nhiều kênh tín dụng khác nhau với lãi
suất khá ƣu đãi. Nông dân có thể dễ dàng tiếp cận với tất cả các nguồn vốn đó.
Vấn đề là ở chỗ họ cần đƣợc trợ giúp về kỹ thuật nuôi trâu, bò nhằm sử dụng
có hiệu quả vốn vay để phát triển kinh tế gia đình.
* Dạ múi khế: Là dạ dày tuyến gồm có thân vị và hạ vị. Các dịch
tuyến múi khế đƣợc tiết liên tục vì dƣỡng chấp từ dạ dày trƣớc thƣờng xuyên
đƣợc chuyển xuống. Dạ múi khế có chức năng tiêu hoá men tƣơng tự nhƣ dạ
dày đơn nhờ có HCl, pepsin, kimozin và lipaza.
* Tuyến nƣớc bọt: Nƣớc bọt có kiềm tính nên có tác dụng trung hoà
các sản phẩm axit sinh ra trong dạ cỏ. Nó còn có tác dụng quan trọng trong
việc thấm ƣớt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại đƣợc dễ dàng. Nƣớc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
bọt còn cung cấp cho môi trƣờng dạ cỏ các chất điện giải nhƣ Na +, K+, Ca++,
Mg++. Đặc biệt trong nƣớc bọt còn có urê và phốt-pho, có tác dụng điều hoà
dinh dƣỡng N và P cho nhu cầu của VSV dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên tố
này bị thiếu trong khẩu phần.
Quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn
ra tƣơng tự nhƣ ở gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hoá của dịch ruột, dịch
tuỵ và sự tham gia của dịch mật.
Trong ruột già có sự lên men VSV lần thứ hai. Sự tiêu hoá ở ruột già có
ý nghĩa đối với các thành phần xơ chƣa đƣợc phân giải hết ở dạ cỏ.
* Sự nhai lại: Thức ăn sau khi ăn đƣợc nuốt xuống dạ cỏ và lên men ở
đó. Phần thức ăn chƣa đƣợc nhai kỹ nằm trong dạ cỏ và dạ tổ ong thỉnh
thoảng lại đƣợc ợ lên xoang miệng với những miếng không lớn và đƣợc nhai
kỹ lại ở miệng.
* Hệ vi sinh vật dạ cỏ: Hệ vi sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc
nhiều vào khẩu phần. Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có 3 nhóm chính: Vi khuẩn
(Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi).
Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, mặc
nhai lại, tinh bột đứng vị trí thứ hai sau xenluloza. Phần lớn tinh bột theo thức
ăn vào dạ cỏ, đƣợc phân giải nhờ sự hoạt động của VSV. Tinh bột đƣợc phân
giải bởi nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ, trong đó có những vi khuẩn phân giải
xenluloza. Những loài vi khuẩn phân giải tinh bột quan trọng là Bacteroides
amylophilus, Succinimonas amylolytica, Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides
ruminantium, Selenomonas ruminantium và Steptococcus bovis.
- Vi khuẩn phân giải đƣờng. Hầu hết các vi khuẩn sử dụng đƣợc các
loại polysaccharid nói trên thì cũng sử dụng đƣợc đƣờng disaccharid và
đƣờng monosaccharid. Celobioza cũng có thể là nguồn năng lƣợng cung cấp
cho nhóm vi khuẩn này vì chúng có men bêta- glucosidaza có thể thuỷ phân
cellobioza. Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira multiparus, Selenomonas
ruminantium... đều có khả năng sử dụng tốt hydratcacbon hoà tan.
- Vi khuẩn sử dụng các axit hữu cơ. Hầu hết các vi khuẩn đều có khả
năng sử dụng axit lactic mặc dù lƣợng axit này trong dạ cỏ thƣờng không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
đáng kể trừ trong những trƣờng hợp đặc biệt. Một số có thể sử dụng axit
succinic, malic, fumaric, formic hay acetic. Những loài sử dụng axit lactic là
Veillonella gazogenes, Veillonella alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii,
Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica.
- Vi khuẩn phân giải protein. Trong số những loài vi khuẩn phân giải
protein và sinh amoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn
nhất. Sự phân giải protein và axit amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có
ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phƣơng diện tiết kiệm nitơ cũng nhƣ nguy
cơ dƣ thừa amoniac. Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp
nên sinh khối protein của bản thân chúng, đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi
- Tích luỹ polysaccarit. Protozoa có khả năng nuốt tinh bột ngay sau
khi ăn và dự trữ dƣới dạng amylopectin. Polysaccarit này có thể đƣợc phân
giải về sau hoặc không bị lên men ở dạ cỏ mà đƣợc phân giải thành đƣờng
đơn và đƣợc hấp thu ở ruột. Điều này không những quan trọng đối với
protozoa mà còn có ý nghĩa dinh dƣỡng cho gia súc nhai lại nhờ hiệu ứng
đệm chống phân giải đƣờng quá nhanh làm giảm pH đột ngột, đồng thời cung
cấp năng lƣợng từ từ hơn cho nhu cầu của bản thân VSV dạ cỏ trong những
thời gian xa bữa ăn.
- Bảo tồn mạch nối đôi của các axit béo không no. Các axit béo không
no mạch dài quan trọng đối với gia súc (linoleic, linolenic) đƣợc protozoa
nuốt và đƣa xuống phần sau của đƣờng tiêu hoá để cung cấp trực tiếp cho vật
chủ, nếu không các axit béo này sẽ bị làm no hoá bởi vi khuẩn. Tuy nhiên gần
đây nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất định:
- Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 nhƣ vi khuẩn. Nguồn nitơ
đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn. Nhiều
nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ các
amit đƣợc. Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị
protozoa thực bào. Mỗi protozoa có thể thực bào 600-700 vi khuẩn trong một
giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ. Do có hiện tƣợng này mà protozoa
đã làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung. Protozoa cũng góp phần làm
tăng nồng độ amoniac trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
- Protozoa không tổng hợp đƣợc vitamin mà sử dụng vitamin từ thức
ăn hay do vi khuẩn tạo nên nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ. Nấm
(Fungi). Nấm trong dạ cỏ thuộc loại yếm khí. Nấm là vi sinh vật đầu tiên
13
từ dịch dạ cỏ giúp đảm bảo cho điều kiện yếm khí trong dạ cỏ đƣợc tốt hơn.
Protozoa nuốt và tích trữ tinh bột, hạn chế tốc độ sinh axit lactic, hạn chế
giảm pH đột ngột, nên có lợi cho vi khuẩn phân giải xơ. Tuy nhiên giữa các
nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh điều kiện sinh tồn của nhau.
Chẳng hạn, khi gia súc ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhƣng nghèo protein thì
số lƣợng vi khuẩn phân giải xenluloza sẽ giảm và do đó mà tỷ lệ tiêu hoá xơ
thấp. Đó là vì sự có mặt của một lƣợng đáng kể tinh bột trong khẩu phần kích
thích vi khuẩn phân giải bột đƣờng phát triển nhanh nên sử dụng cạn kiệt
những yếu tố dinh dƣỡng quan trọng (nhƣ các loại khoáng, amoniac, axit
amin, isoaxit) là những yếu tố cũng cần thiết cho vi khuẩn phân giải xơ vốn
phát triển chậm hơn.
Mặt khác, tƣơng tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đƣờng và vi
khuẩn phân giải xơ còn liên quan đến pH trong dạ cỏ. Các nhà khoa học giải
thích rằng quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu
quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ >6,2, ngƣợc lại quá trình phân giải tinh bột
trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH
Khí mê tan
m4H2 + CO2
-------> CH4 + 2H2O
Nhƣ vậy, sản phẩm cuối cùng của sự lên men carbohydrat thức ăn bởi
VSV dạ cỏ gồm:
- Các axit béo bay hơi, chủ yếu là a. axetic (C2), a.propyonic (C3), a.
butyric (C4) và một lƣợng nhỏ các axit khác (izobytyric, valeric, izovaleric).
Các ABBH này đƣợc hấp thu qua vách dạ cỏ vào máu và là nguồn năng lƣợng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
chính cho vật chủ. Chúng cung cấp khoảng 70-80% tổng số năng lƣợng đƣợc
gia súc nhai lại hấp thu. Trong khi đó gia súc dạ dày đơn lấy năng lƣợng chủ
yếu từ glucoza và lipit hấp thu ở ruột. Tỷ lệ giữa các AXBBH phụ thuộc vào
bản chất của các loại gluxit có trong khẩu phần. Các AXBBH đƣợc sinh ra
trong dạ cỏ đƣợc cơ thể bò sữa sử dụng vào các mục đích khác nhau:
- Axít acetic (CH3COOH) đƣợc bò sữa sử dụng chủ yếu để cung cấp
năng lƣợng thông qua chu trình Creb sau khi đƣợc chuyển hoá thành
axetyl-CoA. Nó cũng là nguyên liệu chính để sản xuất ra các loại mỡ, đặc
biệt là mỡ sữa.
- Axít propionic (CH3CH2COOH) chủ yếu đƣợc chuyển đến gan, tại
đây nó đƣợc chuyển hoá thành đƣờng glucoza. Từ gan glucoza sẽ đƣợc
chuyển vào máu nhằm bảo đảm sự ổn định nồng độ glucoza huyết và tham
gia vào trao đổi chung của cơ thể. Đƣờng glucoza đƣợc bò sữa sử dụng chủ
có khoảng 80% là protein thật có chứa đầy đủ các axit amin không thay thế
với tỷ lệ cân bằng. Protein thật của VSV đƣợc tiêu hoá khoảng 80-85% ở ruột.
Nhờ có VSV dạ cỏ mà gia súc nhai lại ít phụ thuộc vào chất lƣợng protein thô
của thức ăn hơn là động vật dạ dày đơn bởi vì chúng có khả năng biến đổi các
hợp chất chứa N đơn giản, nhƣ urê, thành protein có giá trị sinh học cao. Bởi
vậy để thỏa mãn nhu cầu duy trì bình thƣờng và nhu cầu sản xuất ở mức vừa
phải thì không nhất thiết phải cho gia súc nhai lại ăn những nguồn protein có
chất lƣợng cao, bởi vì hầu hết những protein này sẽ bị phân giải thành
amôniac; thay vào đó amôniac có thể sinh ra từ những nguồn N đơn giản và rẻ
tiền hơn. Khả năng này của VSV dạ cỏ có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với sản
xuất vì thức ăn chứa protein thật đắt hơn nhiều so với các nguồn
NPN. Chuyển hoá lipit Trong dạ cỏ có hai quá trình trao đổi mỡ có liên quan
với nhau: phân giải lipit của thức ăn và tổng hợp mới lipit của VSV.
Triaxylglycerol và galactolipit của thức ăn đƣợc phân giải và thuỷ phân bởi
lipaza VSV. Glyexerol và galactoza đƣợc lên men ngay thành AXBBH. Các
axit béo giải phóng ra đƣợc trung hoà ở pH của dạ cỏ chủ yếu dƣới dạng muối
canxi có độ hoà tan thấp và bám vào bề mặt của vi khuẩn và các tiểu phần
thức ăn. Chính vì thế tỷ lệ mỡ quá cao trong khẩu phần thƣờng làm giảm khả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN