1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của bản thân, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Hồng Mai.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trình bày trong luận văn được thu
thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác trước đây.
Hà Nội, ngày….Tháng…. năm 2015
Học viên
Nguyễn Thanh Loan
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm đề tài tôi đã nhận được sự quan tâm, hướng
dẫn giúp đỡ của nhiều tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Thương
Mại, xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, Phòng kế toán, các anh (chị) trong
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc đã nhiệt
tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài một cách tốt nhất.
Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS. Trần Thị
Hồng Mai - Người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn và giúp đỡ tôi tận
tình trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh (chị), bạn bè đã tạo điều kiện và
khích lệ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …. tháng …. năm 2015
Học viên
Nguyễn Thanh Loan
KPCĐ
KTTKTC
NCTT
NVLTT
QĐ
SP
SPSX
SXC
SXKD
TK
TNHH MTV
TSCĐ
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bộ tài chính
Doanh nghiệp
Đơn đặt hàng
Hạch toán vật tư
Hạch toán tổng hợp
Kinh phí công đoàn
Kế toán thống kê tài chính
Nguyên vật liệu trực tiếp
Nhân công trực tiếp
Quyết định
Sản phẩm
Sản phẩm sản xuất
Sản xuất chung
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản
cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung về kế toán quản trị chi phí, thấy
được tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin về
chi phí cho quản trị doanh nghiệp. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về kế
toán quản trị chi phí đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về kế toán quản trị
chi phí áp dụng cho từng Công ty cụ thể trong từng ngành, phù hợp với đặc điểm
kinh doanh của từng Công ty.
Từ năm 2010 đến nay, các tác giả đã đi vào nghiên cứu kế toán quản trị chi
phí áp dụng cho từng Công ty.
-Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần
phân bón và dịch vụ tổng hợp Bình Định ” của Nguyễn Văn Công (2012)- Trường
Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý
thuyết kế toán quản trị chi phí đối với đơn vị sản xuất. Luận văn nghiên cứu và
đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty kết hợp với cơ sở lý luận, tác
8
giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại
Công ty cổ phần phân bón và dịch vụ tổng hợp Bình Định: Hoàn thiện cách phân
loại chi phí; Hoàn thiện xây dựng định mức và công tác lập dự toán chi phí; Hoàn
thiện báo cáo phân tích phục vụ kiểm soát biến động chi phí; Tổ chức mô hình kế
toán phục vụ kế toán quản trị chi phí.
- Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công tyTNHH
MTV cao su Chư- Sê” của Tạ Thị Ngọc Thạch (2013)- Trường Đại học Đà Nẵng.
Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận của kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp
sản xuất, khái quát được tổng quát về đặc điểm hoạt động kinh doanh, về cơ cấu tổ
chức quản lý, thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty. Luận văn đã
nêu ra một số tồn tại mà các nhà quản lý cần quan tâm, đã chỉ ra sự cần thiết phải
hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại công ty.Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV cao su Chư-Sê: Phân loại chi
trị chi phí tại Công ty.
2. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn trải nghiệm những thách
thức quan trọng nhất của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa. Sau khi gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006, độ mở của nền kinh tế đã
tăng vọt, luồng vốn gián tiếp và trực tiếp chảy vào mạnh chưa từng có. Cơ chế thị
trường được đòi hỏi phải áp dụng toàn diện hơn và sâu sắc hơn trong đời sống kinh
tế và sản xuất nhằm tuân thủ các điều kiện của WTO. Việc hội nhập sâu rộng là lợi
thế nhưng cũng tiềm tàng những khó khăn với nền kinh tế Việt Nam nói chung và
các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Hiện nay, Việt Nam đang thiếu những doanh
nghiệp đầu đàn, đóng vai trò dẫn dắt, dẫn đến để cho các doanh nghiệp FDI ngày
càng lấn át. Các tập đoàn của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thường kéo theo các
doanh nghiệp vệ tinh, nên doanh nghiệp Việt khó khăn hơn trong việc cạnh tranh.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn, vì vậy
các quyết định về sản xuất cần được cân nhắc cẩn trọng và thông tin về chi phí trở
nên cần thiết. Do đó, hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị ngày càng có
chức năng quan trọng trong cung cấp thông tin cho nhà quản trị nhằm mục đích
điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, kế toán quản trị có một số khác biệt so với kế
toán tài chính, nó là công cụ tài chính đắc lực cho các nhà quản trị, cung cấp thông
tin hỗ trợ nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch từ đó đưa ra những quyết định sản xuất kinh
10
doanh. Nhưng một thực tế đang tồn tại đó là kế toán quản trị không bắt buộc phải
thực hiện trong doanh nghiệp, báo cáo của kế toán quản trị chỉ sử dụng trong phạm
vi doanh nghiệp, không công bố ra ngoài. Chính vì những yêu cầu như trên mà công
tác tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vẫn chưa được tổ chức một cách
+ Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Đề tài nghiên cứu kế toán quản trị chi phí trong công ty bao gồm chi phí
-
sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa
chất Hà Bắc.
Thời gian: Thời gian nghiên cứu là các năm 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
11
Đề tài sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để có được
những dữ liệu phản ánh một cách tổng hợp, khách quan và đa chiều về vấn đề
nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa
chất Hà Bắc” cụ thể là:
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu:
a, Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Đọc, tìm hiểu các tài liệu và quy định về kế toán quản trị chi phí. Các tài liệu
nghiên cứu tại Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc: Tài liệu về cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty, bộ máy kế toán. Các quy định về tổ chức công
tác kế toán, quy trình hạch toán, các tài liệu của các doanh nghiệp trong các năm
chủ yếu là các tài liệu liên quan đến kế toán chi phí.
Ngoài ra, tác giả còn tham khảo 1 số bài nghiên cứu về vấn đề kế toán quản trị
chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất để hỗ trợ cho nghiên cứu của mình.
b, Phương pháp quan sát:
Tác giả tiến hành thực hiện phương pháp quan sát trực tiếp công tác kế toán
chất Hà Bắc được thực hiện như thế nào?
- Những hạn chế trong kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV phân
đạm và hóa chất Hà Bắc? Những giải pháp cần thực hiện để hoàn thiện kế toán
quản trị chi phí tại Công ty TNHH MTV phân đạm và hóa chất Hà Bắc hiện nay?
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất.
- Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc.
- Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí
tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phân đạm và hóa chất Hà Bắc.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.
1.1.1.
1.1.1.1.
Khái quát chung về kế toán quản trị chi phí
Các khái niệm cơ bản
Kế toán
13
Kế toán xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội và sự phát
triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Kế toán- một môn khoa học đã có những
sự thay đổi về nội dung, phương pháp... Trong các tài liệu, sách kinh tế có thể gặp
14
sản trong doanh nghiệp, đảm bảo cho các hoạt động trong doanh nghiệp có hiệu quả
thiết thực, đúng hướng và đúng pháp luật.
Đối với doanh nghiệp, có hai hệ thống kế toán được sử dụng là: kế toán tài
chính và kế toán quản trị. Hai hệ thống này được thiết lập để đáp ứng những nhu
cầu thông tin cho các đối tượng khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau trong hoạt
động quản trị doanh nghiệp. Cả hai hệ thống kế toán này đều là nguồn thông tin
phục vụ cho quản trị tài chính và thực hiện các thủ tục theo chế độ quy định. Trong
mỗi thời kỳ xem xét, chi phí phát sinh tương ứng với hoạt động của doanh nghiệp
là một giá trị cụ thể. Song có những quan điểm tiếp cận khác nhau trong việc nhận
dạng các chi phí phát sinh. Các quan điểm tiếp cận này hoàn toàn phụ thuộc vào
mục tiêu của đối tượng tiếp cận mà dẫn tới cách nhìn nhận chi phí không hoàn toàn
1.1.1.2.
giống nhau.
Kế toán quản trị:
Xuất phát điểm của kế toán quản trị là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về
quá trình tính toán giá phí sản xuất sản phẩm như giá phí nguyên vật liệu, giá phí
sản xuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị tồn kho và kết quả
kinh doanh theo từng hoạt động. Cho đến nay , khi bàn về kế toán quản trị có nhiều
quan điểm khác nhau như:
Theo Ronald W.Hilton, trường Đai học Cornell – Mỹ thì: “ Kế toán quản trị là
một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong tổ chức mà nhà quản trị dựa vào
để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức” (Giáo trình Kế toán quản trị,
Đại học Thương Mại, 2006).
Ray H.Garrison viết trong cuốn Managerial Accounting của nhà xuất bản
McGraw-Hill năm 2008: “Kế toán quản trị cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là
những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và
kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó” (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại học
chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm
vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”
Theo quan điểm của các trường đại học khối kinh tế: Chi phí doanh nghiệp
được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí
cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh,
biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kỳ nhất định (Giáo trình Kế toán quản trị, Đại
học Thương Mại, 2006).
Từ những khái niệm trên rút ra: “Chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ các giá
trị của nguồn lực mà doanh nghiệp đã tiêu hao trong một thời kỳ nhất định cho các
hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ đó. tuỳ theo mục đích quản trị mà thời kỳ
xem xét sẽ thay đổi”.
Vậy chi phí được xem như một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả
quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với những người quản lý thì chi phí là
mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực
16
tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó vấn đề được đặt ra là làm sao kiểm soát
được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là điều
mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b, Khái niệm kế toán quản trị chi phí:
Kế toán quản trị chi phí chính là một bộ phận của kế toán quản trị.Theo tác giả
Đào Thị Minh Tâm trong bài Kế toán quản trị chi phí và ứng dụng của kế toán
quản trị chi phí vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam (Tạp chí Nghiên
cứu tài chính- kế toán số 03/2009) thì: “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của
kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin về chi phí nhằm
phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức
thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.
thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm,
từng loại công trình dịch vụ. Xây dựng các dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt
động. Kiểm soát thực hiện và giải trình nguyên nhân các chênh lệch giữa chi phí dự
toán và thực tế hay giữa giá thành kế hoạch và giá thành thực tế. Và sử dụng các
1.1.2.2.
thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý.
Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí
Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí không bắt buộc phải
tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy
định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp
theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Do đó nhiệm vụ của kế toán
quản trị chi phí trong doanh nghiệp bao gồm:
Lập các bảng dự toán chi phí sản xuất của sản phẩm để doanh nghiệp tiến
hành sản xuất sản phẩm theo đúng kế hoạch sản xuất và dựa theo các bảng dự toán.
Ghi chép các thông tin về các chi phí sản xuất phát sinh một cách kịp thời
chính xác, phân loại và tập hợp chi phí sản xuất theo từng chỉ tiêu như chi phí
nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung,…
Lập các báo cáo về chi phí sản xuất, báo cáo ttnh ht nh thực hiện các định
mức,..để các nhà quản lý có kế hoạch sản xuất phù hợp.
Các nhà quản lý đặc biệt quan tâm tới kiểm soát chi phí sản xuất vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến giá thành và lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy kế toán quản
trị chi phí phải tiến hành công việc lập dự toán, báo cáo chính xác, kịp thời.
1.1.3. Vai trò của kế toán quản trị chi phí đối với công tác quản trị doanh nghiệp
Kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng có vai trò rất
quan trọng đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Kế toán quản trị chi phí là công
cụ quản lý, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạch định và kiểm soát chi
phí, thu thập, tính toán hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đưa ra các
quyết định quản trị đúng đắn. Có thể khẳng định vai trò quan trọng của kế toán
thiết để các doanh nghiệp có thể phát triển ổn định ở hiện tại và trong tương lai.
Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Phân loại chi phí trong doanh nghiệp
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo tiêu thức phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại là chi phí
sản xuất và chi phí ngoài sản xuất:
19
•
Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí liên quan đến sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trong một thời kỳ nhất định và tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của
từng hoạt động, chi phí sản xuất được sắp xếp thành những khoản mục có nội dung
kinh tế khác nhau. Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản xuất được chia thành
-
3 khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật liệu chủ
yếu tạo thành thực thể vật chất của sản phẩm và nguyên liệu có tác dụng phụ thuộc,
nó kết hợp với nguyên vật liệu chính để sản xuất ra sản phẩm, hoặc rút ngắn chu kỳ
sản xuất sản phẩm…Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào
-
đối tượng chịu chi phí.
Chi phí nhân công trực tiếp là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích theo
tiền khác (tiếp khách, hội nghị…)
Chi phí khác là những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp vụ
riêng biệt với hoạt động thông thường của các doanh nghiệp như: chi phí thanh lý,
20
nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, tiền phạt do vi phạm hợp
đồng kinh tế, bị phạt thuế, truy nộp thuế…
CPSX
CP NVLTT
Chi phí hoạt động SXKD của DN
CP NCTT
CP ban đầu
CPSXC
CP chuyển đổi
CP ngoài SX
CP bán hàng
CP QLDN
Chi phí khác
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản phẩm được xem là gắn liền với từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa
khi chúng được sản xuất ra hoặc được mua vào, chúng gắn liền với sản phẩm, hàng
hóa tồn kho chờ bán và khi sản phầm, hàng hóa được tiêu thụ thì mới trở thành phí
tổn để xác định kết quả kinh doanh. Vì vậy, chi phí sản phẩm có đặc điểm là thời kỳ
phát sinh chi phí sản phẩm và thời kỳ ghi nhận chi phí sản phẩm trên báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh thường khác nhau tùy thuộc vào mối quan hệ giữa sản
-
lượng sản xuất với sản lượng tiêu thụ trong từng thời kỳ.
Chi phí thời kỳ là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và được tính hết vào
phí tổn trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh; bao gồm chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất
kinh doanh dài và trong kỳ không có hoặc có ít doanh thu thì chúng được tính vào
phí tổn của kỳ sau để xác định kết quả kinh doanh.
1.2.1.5.Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng
-
chịu chi phí để phân loại:
Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi
phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan. Thông thường chi phí trực tiếp là
những chi phí đơn nhất cấu tạo bởi một yếu tố như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền
lương…Chi phí trực tiếp thường được đo lường, ghi nhận chính xác cho từng đối
-
tượng nên không tạo nên sự sai lệch về chi phí này khi tính giá thành sản phẩm.
•
đổi đến một phạm vi giới hạn nào đó.
Định phí là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi hoặc ít thay đổi khi
mức độ hoạt động thay đổi trong một phạm vi phù hợp. Định phí nói chung là
những khoản chi phí đầu tư cho cấu trúc cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp như tiền
lương cho đội ngũ cán bộ khung, khấu hao nhà xưởng, văn phòng, thiết bị máy
-
móc, các khoản bảo hiểm…
Định phí có thể biểu diễn dưới dạng phương trình sau:
y=a
Trong đó y: định phí
a: hằng số
Định phí gồm:
Định phí bắt buộc là những chi phí có liên quan đến máy móc thiết bị, nhà xưởng,
cơ sở hạ tầng, quản lý…Những định phí này có đặc điểm là: có bản chất lâu dài (giả
sử khi một quyết định mua sắm hoặc xây dựng các loại tài sản cố định được thực
hiện thì nó sẽ liên quan đến việc kinh doanh của đơn vị trong nhiều năm); và không
23
thể cắt giảm đến bằng không (=0) cho dù mức độ hoạt động giảm xuống hoặc khi
hoạt động sản xuất bị gián đoạn.
Thuộc loại định phí này thường có chi phí khấu hao tài sản cố định, tiền lương
nhân viên quản lý, chi phí thuê máy móc thiết bị hay nhà xưởng theo hợp đồng dài
-
mà lãnh đạo cấp đó có thể ra quyết định ảnh hưởng đến chi phí đó.
Chi phí không kiểm soát được: Chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý nào
đó là chi phí mà lãnh đạo ở cấp đó không có thẩm quyền chi phối và ra quyết định.
1.2.1.8. Nhận diện các chi phí khác nhằm phục vụ cho mục đích ra quyết định
- Chi phí chênh lệch: là những chi phí có ởphương án này nhưng không có
hoặc chỉ có một phần ở phương án khác. Xác định chi phí chênh lệch giữa các
24
phương án là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn phương án đầu tư hay
phương án sản xuất kinh doanh.
-Chi phí chìm: là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ vẫn phải chịu
cho dù doanh nghiệp chọn phương án hay hành động nào. Chi phí chìm không bao
giờ thích hợp cho việc ra quyết định vì chúng không có tính chênh lệnh.
-Chi phí cơ hội: có thể được hiểu là một lợi ích tiềm tàng bị mất hoặc phải hy
sinh khi lựa chọn một hành động này để thay thế một hành động khác. Chi phí cơ
hội không được phản ánh trên sổ kế toán nhưng lại rất quan trọng cần phải được
1.2.2.
xem xét cân nhắc mỗi khi lựa chọn quyết định kinh doanh.
Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp
Dự toán ngân sách là quá trình tính toán chi tiết nhằm chỉ rõ cách huy động và
sử dụng vốn và các nguồn lực khác theo từng kỳ và được biểu diễn một cách có hệ
thống dưới dạng số lượng và giá trị. Dự toán có thể tính toán cho toàn bộ tổ chức
hay từng bộ phận riêng lẻ.
Dự toán chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ chiếm khối lượng công
việc không nhỏ trong dự toán tổng thể doanh nghiệp, nó giúp doanh nghiệp sử dụng
chi phí một cách hiệu quả, chủ thể huy động các nguồn lực để bù đắp chi phí, kiểm
mức của nguyên vật
liệu trực tiếp
25
- Định mức chi phí nhân công trực tiếp
+ Định mức số lượng thời gian lao động trực tiếp xác định số lượng thời gian
lao động trực tiếp để sản xuất một sản phẩm dựa trên công suất máy móc, tiêu
chuẩn kỹ thuật, tình trạng của máy móc, trình độ và kinh nghiệm của công nhân…
+Định mức đơn giá lao động trực tiếp ước tính một giờ lao động trực tiếp, tùy
theo chính sách tiền lương của doanh nghiệp, căn cứ theo hợp đồng lao động với
người lao động, loại công việc, trình độ tay nghề…
Chi phí nhân công
trực tiếp định mức
Số lượng thời gian lao động
=
trực tiếp định mức để sản
x
Đơn giá định mức của
lao động trực tiếp
một sản phẩm
xuất một sản phẩm
- Định mức chi phí sản xuất chung gồm
Chi phí sản xuất chung là loại chi phí hỗn hợp gồm nhiều yếu tố chi phí khác
Đơn giá phân bổ biến
Đơn vị tiêu chuẩn phân bổ
=
x
sản xuất chung
phí SXC
cho 1 đơn vị hoạt động
+ Định mức định phí sản xuất chung
Định mức định phí sản xuất chung là định phí sản xuất chung để sản xuất một
sản phẩm. Định mức định phí sản xuất chung thường không thay đổi khi khối lượng
hoạt động thay đổi.
Tỷ lệ phân bổ định phí SXC
=
Tổng định phí SXC