Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kiến thức học phần các phương pháp phân tích hoá lý trong hoá phân tích đối với sinh viên hệ cử nhân trường đại học sư - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
..............................

ĐÀO VIỆT HÙNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC HỌC PHẦN CÁC
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOÁ LÝ TRONG HOÁ PHÂN TÍCH
ĐỐI VỚI

SINH VIÊN HỆ CỬ NHÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HOÁ HỌC

THÁI NGUYÊN - 2008

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
..............................

ĐÀO VIỆT HÙNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

trương, đường lối nhằm đầu tư phát triển cho giáo dục - xác định giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Muốn vậy, chúng ta cần phải tiến hành đổi mới cho giáo
dục: đổi mới về nội dung chương trình, về phương thức thực hiện, về kiểm tra
đánh giá, về công tác quản lí...ở tất cả các cấp học bậc học. Trong các công
tác cần phải đổi mới đó, việc đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng
học sinh là rất quan trọng. Từ trước tới nay chúng ta chỉ sử dụng chủ yếu hình
thức kiểm tra tự luận, vấn đáp để đánh giá xếp loại học sinh vì vậy thường
hay mắc phải một số khuyết điểm như: nội dung kiểm tra không bao trùm
khối lượng kiến thức được học, kết qủa đánh giá phụ thuộc vào chủ quan của
người chấm, mất một quỹ thời gian lớn cho việc chấm thi....Để khắc phục
những nhược điểm trên đây đã có nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thực
hiện một hình thức kiểm tra đánh giá mới - đó là phương pháp trắc nghiệm
khách quan (TNKQ).
Là một học viên chuyên ngành Hoá phân tích, tôi nhận thấy: Đối với các
môn học chuyên ngành vẫn chưa thực hiện được hình thức kiểm tra TNKQ.
Vì vậy, chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống các câu hỏi TNKQ dùng cho
sinh viên hệ cử nhân sư phạm và có thể dùng cho sinh viên chất lượng cao

Footer Page
166.
Số hóa3
bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-1-





bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-2-




Header Page 5 of 166.
Chƣơng I
TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG PHÁP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
I.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng phƣơng pháp trắc nghiệm trên
thế giới và ở Việt Nam vào quá trình dạy học
Từ thế kỷ 19 người ta đã sử dụng trắc nghiệm để đo các khả năng của con
người. Đến thế kỷ 20, E. Toocdaica là người đầu tiên dùng trắc nghiệm để đo
trình độ kiến thức của học sinh đối với một số môn học [7; 9].
Năm 1940 đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học
tập của học sinh, tuy nhiên việc áp dụng phương pháp này còn ít và phạm vi
áp dụng còn nhiều hạn chế. Cùng với việc ứng dụng của công nghệ thông tin
vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống thì trắc nghiệm cũng có điều kiện
phát triển mạnh.
Năm 1961, ở Mỹ đã xây dựng một bộ gồm 2000 câu hỏi trắc nghiệm
chuẩn để đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên và sử dụng cho các
kỳ thi tuyển sinh.
Năm 1963, với sự trợ giúp của máy tính điện tử để xử lý kết quả thực
nghiệm trên diện rộng đã tạo điều kiện phát triển cho phương pháp trắc
nghiệm trong nhiều lĩnh vực.
Những năm gần đây, hầu hết các nước trên thế giới đều đã sử dụng

về chất lượng giáo dục và các phương pháp trắc nghiệm.
Tháng 4 - 1998, trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội có
cuộc hội thảo Khoa học về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học
và tiến hành xây dựng bộ trắc nghiệm để kiểm tra - đánh giá một số học phần
của các khoa trong trường.
Đặc biệt là việc áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ở phổ thông và sử dụng
đại trà hình thức thi trắc nghiệm cho kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và
tuyển sinh vào Đại học năm 2007 - 2008 các môn Toán, Lý, Hoá, Ngoại ngữ của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cho đến nay, đã có rất nhiều các khoá luận tốt nghiệp,
luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ, các nghiên cứu của sinh viên, học viên của
giảng viên ở các trường Đại học nghiên cứu và áp dụng hình thức này.
I.2. Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
I.2.1. Trắc nghiệm là gì?
Theo chữ hán “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” có nghĩa là “suy xét,
chứng thực” [9; 16]. Cả trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận đều là
những phương tiện để kiểm tra khả năng học tập của học sinh - sinh viên, cả hai
đều là trắc nghiệm (test).

Footer Page
166.
Số hóa6
bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-4-





Footer Page
166.
Số hóa7
bởiof
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-5-




Header Page 8 of 166.
nghiệm khách quan. Đa số các nhà tâm lý học, dạy học hiện nay đều có xu
hướng xem trắc nghiệm là một phương pháp dạy học dùng những bài tập
ngắn để kiểm tra, đánh giá khả năng hoạt động nhận thức, năng lực trí tuệ và
kỹ năng của học sinh.
Điều này được coi là dấu hiệu bản chất của phương pháp trắc nghiệm vì
nó cho thấy chức năng cơ bản của trắc nghiệm trong quá trình dạy học mà cụ
thể là trong kiểm tra và đánh giá kết quả của học sinh - sinh viên.
I.2.3. Khái niệm về trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm tự luận (luận đề) là hình thức tự trình bày câu trả lời bằng
ngôn ngữ của mình. Loại trắc nghiệm này ngược với trắc nghiệm khách quan,
cho phép có một sự tự do tương đối để trả lời vấn đề đặt ra, đòi hỏi người được
kiểm tra biết sắp xếp câu trả lời cho đúng và sáng sủa. Bài trắc nghiệm luận đề
được chấm điểm một cách chủ quan, điểm số cho bởi những người chấm khác
nhau có thể không thống nhất nên loại trắc nghiệm này gọi là trắc nghiệm chủ
quan [7].
I.2.4. Khái niệm về trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là hình thức học sinh chỉ sử dụng các ký hiệu


Bảng I-1: So sánh ưu điểm phương pháp trắc nghiệm khách quan và
trắc nghiệm tự luận [4; 17]
Ƣu thế thuộc về

Vấn đề so sánh

TNKQ

Ít tốn công ra đề

TNTL
+

Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn đạt

+

tư duy hình tượng
Đề thi bao quát được phần lớn nội dung bài học

+

Ít may rủi do trúng tủ, lệch tủ

+

Ít tốn công chấm thi và khách quan trong chấm thi

+

Header Page 10 of 166.
Bảng I-2: So sánh dạng câu hỏi TNKQ và TNTL [4]
Tiêu chuẩn đánh giá
Kết quả đánh giá

TNKQ

TNTL

- Tốt ở mức độ hiểu, biết ứng - Không thích hợp ở mức
dụng, phân tích

độ nhận biết.

- Không thích hợp ở mức độ - Tốt ở mức độ hiểu, áp
tổng hợp, đánh giá, so sánh.

dụng, phân tích.
- Tốt ở mức độ tổng hợp,
phê phán, suy luận.

Tính đại diện của nội - Nội dung có thể bao quát - Phạm vi kiểm tra chỉ
dung

toàn diện với nhiều câu hỏi.

tập trung vào một số khía
cạnh cụ thể.

Chuẩn bị câu hỏi.

của bản thân.

Qua bảng so sánh trên ta thấy, sự khác nhau rõ rệt nhất giữa hai phương
pháp là ở tính khách quan, công bằng, chính xác. Đặc biệt là ở tính khách
quan. Do đó cần nắm vững bản thân, ưu nhược điểm của từng phương pháp
để có thể sử dụng mỗi phương pháp hữu hiệu, đúng lúc, đúng chỗ.
I.3. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan thông dụng
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chủ yếu đi sâu nghiên cứu
các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

Footer Page
of 166.
Số hóa10
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-8-




Header Page 11 of 166.
I.3.1. Loại câu điền khuyết [1; 2; 4; 8; 10; 17]
Đây là loại câu hỏi đòi hỏi phải điền hay liệt kê một hay nhiều từ để hoàn
thành một câu hỏi trực tiếp hay một nhận định chưa đầy đủ. Với loại câu này
học sinh phải tìm hiểu câu trả lời đúng hơn là nhận ra câu trả lời đúng.
* Ưu điểm: Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường,
phát huy óc sáng kiến. Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra,
nghĩ ra, tìm cây trả lời. Từ đó giúp học sinh luyện trí nhớ khi học. Loại này
cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi lựa chọn.



Header Page 12 of 166.
không thoả mãn khi buộc phải chọn đúng hay sai, hoặc có thể có những
trường hợp ngoại lệ chứ không phải chỉ có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai.
Ví dụ 2: Khoanh tròn Đ nếu phát biểu đúng, S nếu câu phát biểu sai
1

Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử không thể xác định
được các kim loại kiềm, kiềm thổ

Đ

S

2

Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử cho phép xác định độ
cứng của nước

Đ

S

3

Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử có thể xác định hàm
lượng nhỏ hầu hết các ion kim loại trong nước thải

Đ

Footer Page
of 166.
Số hóa12
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-10-




Header Page 13 of 166.
câu trả lời không có liên quan nhất; hoặc có nhiều hơn một câu trả lời thích
hợp.
Một câu hỏi nhiều lựa chọn gồm 2 bộ phận: câu dẫn và câu chọn. Trong
câu chọn chia thành 2 loại: câu đúng (hoặc câu sai phải lựa chọn) và câu nhiễu.
- Câu dẫn: Ở đầu câu kiểm tra có thể viết dưới dạng một câu trực tiếp
hay một cách phát biểu không đầy đủ. Điều này có tác dụng như cách phát
biểu để tạo ra một kích thích gợi ý câu trả lời cho học sinh.
- Câu chọn: Thường gồm từ 3 đến 5 câu là phù hợp, câu lựa chọn không
nên quá ít (2 câu) hoặc quá nhiều (10 câu) dựa vào quy luật tâm lý và các quy
luật xác suất thống kê.
+ Câu đúng: Là câu đúng nhất trong các câu lựa chọn
+ Câu sai: Là câu kém chính xác nhất
+ Câu nhiễu: Là câu trả lời có vẻ hợp lý, chúng có tác động nhiều đối với
học sinh có năng lực tốt và tác dụng thu hút đối với học sinh có năng lực kém.
* Ưu điểm:
- Giáo viên có thể dùng loại câu này để kiểm tra - đánh giá những mục
tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như:
+ Xác định mối tương quan nhân quả

* Nhược điểm:
- Loại câu này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn
lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Hơn nữa, các câu hỏi phải đo được các
mục tiêu ở mức năng lực nhận thức cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu
trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn.
- Các câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng
phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách
hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ.
- Tốn kém giấy mực khi in loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác và
cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi.
- Câu hỏi loại này có thể dùng để thẩm định trí năng ở mức biết, khả năng
vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn.
Ví dụ 3: Năng lượng photon của phần phổ có bước sóng ngắn so với phần phổ
có bước sóng dài hơn sẽ:
A. Bằng nhau

B. Nhỏ hơn

C. Lớn hơn

D. Không xác định được

Footer Page
of 166.
Số hóa14
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-12-


Footer Page
of 166.
Số hóa15
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-13-




Header Page 16 of 166.
- Giữ cho việc đọc hiểu không quá khó khăn- Khi lên kế hoạch cho một
câu hỏi của một câu trắc nghiệm cần chú ý sao cho một câu hỏi không cung
cấp đầu mối cho việc trả lời một hay nhiều câu hỏi khác.
- Trong một bộ câu hỏi, sắp xếp các câu trả lời đúng theo cách ngẫu nhiên.
- Tránh các câu hỏi mang tính chất đánh lừa, gài bẫy.
- Cố gắng tránh sự mơ hồ về mặt ý nghĩa trong câu nhận định.
- Đề phòng các câu hỏi thừa giả thiết.
Để soạn tốt các câu hỏi trắc nghiệm cần phải nắm vững các nguyên tắc dạy
học, nhiệm vụ môn học, nội dung chương trình và đối tượng người học để soạn
thảo hệ thống câu hỏi vừa đảm bảo nội dung kiến thức vừa phù hợp với học sinh.
I.4.2. Những chỉ dẫn riêng cho từng loại câu hỏi
I.4.2.1. Câu hỏi điền khuyết [7; 9; 10]
- Nên sử dụng câu hỏi này khi rõ ràng duy nhất một câu trả lời đúng.
- Nên nói rõ ràng, trong điều kiện thích hợp nên nói rõ những con số có ý
nghĩa hay phần thập phân khi cần thiết. Nếu cần các đơn vị đo lường trong
câu trả lời có con số cũng phải nói rõ.
- Trong những câu buộc phải điền thêm chỗ trống, không nên để quá

I.4.2.4. Câu hỏi nhiều lựa chọn [7; 9; 10]
- Dùng một câu hỏi hay một câu nhận định chưa đầy đủ làm câu dẫn,
chọn loại câu sao cho trong tình huống rõ ràng hơn và trực tiếp hơn.
- Nói chung tránh các câu dẫn mang tính phủ định. Tuy nhiên, nếu cần
câu dẫn phủ định phải chú ý gạch chân hoặc in nghiêng chữ “không”.
- Phải đảm bảo câu trả lời đúng rõ ràng là câu tốt nhất.
- Phải đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau đúng ngữ pháp.
- Với một câu hỏi đã nêu, phải giữ cho một câu trả lời theo cùng một
dạng hành văn.
- Soạn càng nhiều câu nhiễu có vẻ hợp lý và có sức hút càng tốt. Tạo ra
câu nhiễu dựa vào những chỗ sai học sinh hay mắc phải.
- Tránh các câu nhiễu ở trình độ cao hơn so với câu trả lời đúng.
- Sắp xếp các câu trả lời theo thứ tự ngẫu nhiên, không ưu tiên vị trí nào.
- Cố gắng kiểm tra các câu hỏi và thử xem sự kiểm tra đó có vạch ra
được những chỗ yếu tiềm ẩn trong câu đó không.
- Dùng một câu hỏi hay câu nhận định chưa đầy đủ làm câu dẫn, tuỳ hình
thức nào hợp lý hơn.
- Không nên đưa quá nhiều ý vào một câu hỏi. Tập trung vào một ý cho
mỗi câu hỏi.

Footer Page
of 166.
Số hóa17
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-15-




of 166.
Số hóa18
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-16-




Header Page 19 of 166.
- Những thông tin, kỹ năng cần ứng dụng hoặc là được chuyển sang tình
huống khác.
Các bước phân tích nội dung môn học:
- Tìm ra ý tưởng chính của môn học.
- Lựa chọn các khái niệm, các ký hiệu mà học sinh phải giải nghĩa được,
đòi hỏi người soạn phải nêu ra các khái niệm trọng tâm của nội dung môn học.
- Phân loại thông tin được trình bày trong các môn học.
- Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải vận dụng
những điều đã học để xử lý các tình huống mới.
I.5.3. Thiết lập dàn bài trắc nghiệm [ 9]
Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung
dung môn học người soạn thảo thiết lập một dàn bài cho bài trắc nghiệm.
Một trong những cách thông dụng là lập ma trận hai chiều, một chiều biểu
thị nội dung hay mạch kiến thức cần đánh giá và chiều kia biểu thị cho các mức
độ nhận thức của học sinh (mục tiêu) mà bài trắc nghiệm muốn khảo sát.
Ví dụ: Ta có thể áp dụng bảng quy định hai chiều đơn giản cho một bài
trắc nghiệm ở lớp học nhằm khảo sát một phần nào đó của môn học:
Dàn bài trắc nghiệm
Đề mục:........................

Header Page 20 of 166.
(1) Các ý tưởng, các nguyên tắc, các mối liên hệ, các quy luật, khái quát
mà học sinh phải giải thích hoặc ghi nhớ.
(2) Các khái niệm, ký hiệu, công thức mà học sinh phải hiểu, giải thích
(3) Các loại thông tin, kiến thức mà học sinh phải nhớ và nhận ra.
Tuỳ theo môn học, cấp học và mục đích của bài trắc nghiệm mà người
soạn thảo có thể thiết lập dàn bài cho phù hợp.
I.5.4. Số câu hỏi trong một bài trắc nghiệm
Tuỳ thuộc vào thời gian mà số câu hỏi được đưa ra trong một bài trắc
nghiệm là bao nhiêu. Thông thường mỗi câu hỏi được giới hạn trả lời từ 1 đến
1,5 phút, những câu hỏi khó hơn có thể từ 2 đến 5 phút. Đa số một bài trắc
nghiệm thường làm trong 15 - 45 phút đối với kiểm tra lên lớp, còn trong các kỳ
thi có thể lên tới 120 phút hoặc nhiều hơn. Nói chung thời gian càng dài, bài
càng có nhiều câu hỏi thì điểm số có được từ bài trắc nghiệm đó càng đáng tin
cậy.
Vấn đề quan trọng hơn là các câu hỏi trong bài trắc nghiệm tiêu biểu cho
toàn bộ kiến thức mà học sinh cần phải đạt được qua mỗi bài học, môn học
hay học phần.
I.6. Đánh giá câu hỏi trắc nghiệm khách quan
I.6.1. Cơ sở chung [7; 17]
Đánh giá câu trắc nghiệm khách quan là việc làm cần thiết cho người
soạn thảo. Khi xây dựng bài trắc nghiệm khách quan phải gồm các câu hỏi đạt
được hai yếu tố là độ khó thích hợp và độ phân biệt cao.
Độ khó và độ phân biệt được xác định thống kê như sau:
Chia mẫu học sinh thành 3 nhóm làm bài kiểm tra:
- Nhóm điểm cao (H): 25% - 27% số học sinh đạt điểm cao nhất.
- Nhóm điểm thấp (L): 25% - 27% số học sinh đạt điểm thấp nhất.
- Nhóm điểm trung bình (M): 46% - 50% (học sinh còn lại)
I.6.2. Độ khó của một hỏi trắc nghiệm (K)



Với: NG là số thí sinh thuộc nhóm giỏi trả lời đúng câu hỏi
NK là số thí sinh thuộc nhóm kém trả lời đúng câu hỏi
n là tổng số thí sinh thuộc nhóm giỏi (hoặc nhóm kém)
* Nhận xét: K càng lớn thì câu hỏi càng dễ, cụ thể:
+ 0  K  0,2
+ 0,21  K  0,4
+ 0,41  K  0,6
+ 0,61  K  0,8
+ 0,81  K  1
Nên dùng các câu

Là câu hỏi rất khó
Là câu hỏi khó
Là câu hỏi trung bình
Là câu hỏi dễ
Là câu hỏi rất dễ
trắc nghiệm có độ khó K nằm trong khoảng 25% đến

75%; trong khoảng từ 10% - 25% và 75% - 90%: cẩn trọng khi dùng; Nếu K
< 10% hoặc K > 90% thì không nên dùng.
Tuy nhiên, nếu để tuyển sinh, nên thêm một số câu có K < 25% hay nếu
chỉ đánh giá đạt hay không đạt có thể dùng một số câu K > 75%.

Footer Page
of 166.
Số hóa21
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


+ 0,81  P  1
+ P = -1

Độ phân biệt rất thấp hay không có sự phân biệt
Câu hỏi có sự phân biệt thấp.
Câu hỏi có sự phân biệt trung bình
Câu hỏi có sự phân biệt cao.
Câu hỏi có sự phân biệt rất cao
Câu hỏi có độ phân biệt rất cao nhưng mang tính
tiêu cực, chứng tỏ câu hỏi này có vấn đề.
* Tiêu chuẩn chọn câu hay: Các câu thoả mãn các tiêu chuẩn sau đây
được xếp vào các câu hỏi hay.
- Độ khó nằm trong khoảng 0,4  K  0,6
- Độ phân biệt 0,5  P  0,7
- Câu mồi nhử có tính chất hiệu nghiệm tức là có độ phân biệt âm.

Footer Page
of 166.
Số hóa22
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-20-




Header Page 23 of 166.
Bảng I-3: Minh họa về độ phân biệt, không phân biệt, phân biệt âm
Câu hỏi


S

Đ

S

S

Đ

Đ

Đ

Đ

6

B

S

S

Đ

Đ

Đ


S

Đ

2

D

S

Đ

Đ

Đ

Đ

S

Đ

Đ

Đ

Đ

8

17

20

3

4

6

Nhóm thấp

14

12

6

5

13

(Nhóm cao bằng 27% học sinh đạt điểm cao nhất, nhóm thấp bằng 27%
học sinh đạt điểm thấp nhất, mỗi nhóm có 50 thí sinh: câu đúng là câu B).
Độ khó: K = 0,32 độ phân biệt: P = 0,16

Footer Page
of 166.
Số hóa23
bởi Trung

N

2

2

Với: X là trung bình cộng số câu đúng, Xi là số câu trả lời đúng của học
sinh thứ i và N là số học sinh tham gia kiểm tra.
- Độ lệch chuẩn có công thức: S = S 2
Độ lệch chuẩn cho ta biết mức độ khác nhau trong điểm số của một
nhóm học sinh.
* Độ tin cậy: Độ tin cậy của bài trắc nghiệm khách quan được xem như
là một số đo về sự sai khác giữa điểm số quan sát được và điểm số thực.
Điểm số quan sát được là điểm số trên thực tế học sinh có được. Điểm số thực
là điểm số lý thuyết mà học sinh sẽ phải có nếu phép đo lường không có sai số.

Footer Page
of 166.
Số hóa24
bởi Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

-22-




Header Page 25 of 166.
Tính chất tin cậy của bài trắc nghiệm khách quan cho chúng ta biết mức
độ chính xác khi thực hiện phép đo. Có hai nguồn sai số phép đo là sai số bên


-23-





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status