XU HƯỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

TRẦN ĐÌNH CHIẾN

XU HƢỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
(KHẢO SÁT TẠI TỈNH PHÚ THỌ)
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

Thái Nguyên, năm 2008

Footer Page 1 of 166.


Header Page 2 of 166.

1

LỜI CẢM ƠN!
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sau Đại học,
khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo

Mở đầu ................................................................................................
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.................................
1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................
1.1.1. Trên thế giới ................................................................................
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam..........................................................
1.2. Các khái niệm công cụ...................................................................
1.2.1. Xu hướng.....................................................................................
1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp ......................................
1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp ...........................
1.2.4. Sự phù hợp nghề ..........................................................................
1.2.5. Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó..........................
1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường.......................................
1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nước ta ..........
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của HS THPT ......................................................................................
1.4. 1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT .....
1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của
HS THPT ..............................................................................................
1.4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc lựa chọn nghề
nghiệp của HS THPT.............................................................................
Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp
12 trƣờng THPT dƣới ảnh hƣởng của nền KTTT ..............................
2.1. Vài nét về khách thể điều tra..........................................................
2.2. Thực trạng xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
trường THPT dưới ảnh hưởng của nền KTTT (khảo sát tại tỉnh
PhúThọ)...............................................................................................
2.2.1. Thực trạng về nhận thức và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12..............................................................................
2.2.2. ý kiến của giáo viên làm công tác hướng nghiệp về xu hướng lựa
chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 hiện nay ..............................................

45
49
49
50
50
76
84
89
91




Header Page 4 of 166.

3

cho HS lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay ............
3.1. Những cơ sở có tính nguyên tắc để xây dựng các biện pháp...........
3.1.1. Nghiên cứu, xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính mục đích
của giáo dục hướng nghiệp....................................................................
3.1.2. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phù hợp với
những đặc điểm tâm lý và nhân cách của HS THPT................................
3.1.3. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phân hoá,
cá biệt hoá HS trong hoạt động hướng nghiệp........................................
3.1.4. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính hệ thống
trong hoạt động GDHN .........................................................................
1.3.5. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp theo quan điểm tiếp cận hoạt
động và nhân cách ................................................................................
3.1.6. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi .....


91
91
91
92
93
93
94
94
94
96
97
98
100
101
102
102
102
102
106
107
107
108
110
111
116





Học sinh trung học phổ thông

HS THPT

Kinh tế thị trƣờng

KTTT

Nhà xuất bản

Nxb

Phổ thông cơ sở

PTCS

Số lƣợng

SL

Trung bình

TB

Trung học phổ thông

THPT

Xã hội


nghiệp THPT
Bảng 2.5: Những vấn đề HS lớp 12 có nhu cầu hoặc hứng thú
Bảng 2.6 : Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề (nhóm nghề) của
HS lớp 12
Bảng 2.7 : Lí do lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
Bảng 2.8 : Yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12
Bảng 2.9 : Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
Bảng 2.10: Thái độ của HS lớp 12 đối với việc lựa chọn nghề nghiệp sau
khi tốt nghiệp THPT
Bảng 2.11: Những khó khăn HS lớp 12 gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp
Bảng 2.12: Thực tế và hiệu quả của việc tổ chức GDHN trong trƣờng
THPT theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.13: Những yếu tố tác động đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp
của HS lớp 12 theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.14: Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
theo ý kiến của giáo viên
Bảng 2.15: Xu hƣớng nghề nghiệp của HS lớp 12 sau khi tốt nghiệp THPT
theo ý kiến của giáo viên
Bảng 2.16: Những nghề (hay nhóm nghề) đƣợc HS lớp 12 ƣu tiên lựa
chọn theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.17: Sự ảnh hƣởng của phát triển KTTT hiện nay đối với HS lớp 12
theo ý kiến đánh giá của giáo viên
Bảng 4.1 : Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của những cơ sở có
tính nguyên tắc trong việc nghiên cứu xây dựng các biện pháp
Bảng 4.2 : Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp
Bảng 4.3 : Đánh giá của chuyên gia về mức độ hợp lý của các bƣớc

tiến hành những biện pháp
Bảng 4.4 : Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các biện pháp

104
104
105


Header Page 7 of 166.

6

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
(CNH - HĐH) với nền kinh tế mở, năng động bao gồm nhiều thành phần kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc. Sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với
khu vực và thế giới đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Đồng thời vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đã và
đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và xã hội quan tâm
hàng đầu. Trong nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng
khoá VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển
mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự
phát triển nhanh và bền vững”. [59]. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con ngƣời là
trọng tâm của sự phát triển - yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH HĐH đất nƣớc. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đƣợc những phẩm chất và
năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang
tính chiến lƣợc. Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã
chỉ rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học,
chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.[12]
1.2. Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trong nhà
trƣờng phổ thông giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng. Đây là một trong

trò của nó, việc thực hiện và kiểm tra, đánh giá còn mang nặng tính hình thức.
Điều này đã khiến cả giáo viên và học sinh đều coi GDHN không thực sự là một
hoạt động chính yếu của quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trƣờng, có nghĩa
là chƣa nhận thức đƣợc vai trò của GDHN dẫn đến hiệu quả của GDHN thấp. Bên
cạnh đó, nhƣ trên đã nói, nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta cùng với các quy luật của
nó đang phát triển rất mạnh và đang trên đà hoàn thiện, dẫn đến sự phát triển biến
đổi quá nhanh và “nóng” của khoa học công nghệ và nhiều lĩnh vực khác của đời
sống xã hội. Cùng với sự ảnh hƣởng từ mặt trái của kinh tế thị trƣờng (KTTT) đã
làm cho định hƣớng giá trị của giới trẻ có nhiều thay đổi. Điều này đã tác động
trực tiếp đến động cơ, xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của họ. Tất cả những điều
đó đã khiến phần lớn học sinh học xong trung học phổ thông (kể cả số học sinh đã
làm hồ sơ và thi Đại học, Cao đẳng) không tự đánh giá đƣợc năng lực, hứng thú, sở
trƣờng của mình để lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hoặc không biết
chọn nghề gì. Rất nhiều học sinh khi đã đƣợc vào học các trƣờng chuyên nghiệp
mới nhận ra rằng mình không phù hợp với nghề đã chọn, dẫn đến tình trạng chán
nản, học tập không tiến bộ, bỏ học để tiếp tục thi vào các trƣờng khác. Điều này đã
gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội nhƣ: chất lƣợng học tập kém, rèn luyện
kém dẫn đến chất lƣợng nguồn nhân lực yếu, làm lãng phí của cải thời gian, công
sức cho cả cá nhân học sinh, gia đình học sinh và cho xã hội.

Footer
Page
8 of
Số hóa
bởi Trung
tâm 166.
Học liệu – Đại học Thái Nguyên




trong nhà trƣờng THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh
lớp 12 dưới sự ảnh hưởng của nền KTTT.

Footer
Page
9 of
Số hóa
bởi Trung
tâm 166.
Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 10 of 166.

9

5.2. Điều tra, nghiên cứu, đánh giá thực trạng về xu hướng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 (tại tỉnh Phú Thọ) dưới sự ảnh hưởng của nền KTTT.
5.3. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ cho công tác GDHN trong nhà trường THPT
nhằm giúp HS lớp 12 lựa chọn đúng nghề nghiệp trong điều kiện KTTT hiện nay.
5.4. Khảo nghiệm các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Sử dụng các phƣơng pháp: Phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống
hoá và khái quát hoá lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lý thuyết từ đó rút
ra các kết luận khoa học làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng và đề

Header Page 11 of 166.

10

6.3. Các phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh
giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 12 là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp. Căn cứ vào điều kiện và
khả năng thực hiện đề tài, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu xu hƣớng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền KTTT tại các trƣờng THPT
tiêu biểu cho 3 vùng địa lý (Miền núi, trung du và đồng bằng) của tỉnh Phú Thọ.
8. Cấu trúc của luận văn
Nội dung cơ bản của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣói
sự ảnh hƣởng của nền KTTT.
- Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho HS
lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay.

Footer
Page
11tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên



mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Vào những năm 1940, nhà tâm lý
học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách
và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề
nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có đƣợc kết quả

Footer
Page
12tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 13 of 166.

12

làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã đƣợc sử dụng rộng rãi nhất
trong thực tiễn hƣớng nghiệp trên thế giới.[69]
ở Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề hƣớng nghiệp
cho HS cũng đƣợc các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô viết đặc biệt
quan tâm. V.I Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải cho HS làm quen với khoa học kỹ
thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại. N.K Crupxkaia - nhà giáo dục
học lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên.
Theo bà, thông qua hƣớng nghiệp, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc hƣớng phát
triển kinh tế của đất nƣớc, những nhu cầu của nền sản xuất cần đƣợc yêu cầu mà xã
hội đề ra trƣớc các em trong lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hƣớng

Header Page 14 of 166.

13

về nghệ thuật và nghề nghiệp ) của Pháp. Chƣơng trình đào tạo chuyên gia hƣớng
nghiệp của họ bắt đầu có mặt tại Việt Nam. [61], [63]
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam:
ở Việt Nam giáo dục hƣớng nghiệp tuy đƣợc xếp ngang tầm quan trọng với các
mặt giáo dục khác nhƣ đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhƣng bản thân nó lại rất
non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lƣợng, không
mang tính chuyên nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả.
Vấn đề hƣớng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và đƣợc xã hội quan tâm khi nền kinh tế
đất nƣớc bƣớc sang cơ chế thị trƣờng với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu
rất lớn về chất lƣợng nguồn nhân lực. Nếu so với sự ra đời của nền giáo dục XHCN
sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thì những tƣ tƣởng về hƣớng nghiệp cho học
sinh cũng xuất hiện khá sớm. Cho đến trƣớc những năm 1970 thì những tƣ tƣởng
này chủ yếu dừng lại ở các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết mang tính chỉ đạo lãnh
đạo của Đảng, Nhà nƣớc và Bác Hồ chứ chƣa phải là luận điểm mang tính khoa học
hay những nghiên cứu khoa học thực sự.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là ngƣời đầu tiên quan tâm đến công tác hƣớng
nghiệp cho HS. Trong bài viết “Học sinh và lao động” (bài viết tay năm 1957 hiện
lƣu giữ ở bảo tàng Hồ Chí Minh). Bác viết “Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn lên trung
học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học. Riêng về mỗi cá nhân của người học
sinh thì ý muốn ấy không có gì lạ. Nhưng chung đối với nhà nước thì ý muốn ấy
thành vô lý. Vì ở bất kỳ nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học,
trường đại học lại càng ít hơn trường trung học. Thế thì những học trò tiểu học và
trung học không được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở
thành một vấn đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay. Bác đã gạch
chân câu trả lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con
đƣờng lao động là con đƣờng đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vƣơn lên

lƣợc phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình
phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một
chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi HS,
giúp HS có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học
tiếp sau khi tốt nghiệp”[4].
Về mặt nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia
thì ngành hƣớng nghiệp Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ vào
những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm Tất
Dong, PGS. Đặng Danh ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ.
GS. Phạm Tất Dong là ngƣời có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hƣớng
nghiệp Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho
giáo dục hƣớng nghiệp nhƣ xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hƣớng nghiệp;
hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc
hƣớng nghiệp, các nội dung, phƣơng pháp, biện pháp giáo dục hƣớng nghiệp...
Điều này đƣợc thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông
nhƣ bài: “hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm
1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho HS lớn”; các

Footer
Page
15tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên





giả Phạm Thị Đức đăng trên tạp chí giáo dục (2002). Bài: “Giáo dục hướng nghiệp
cho HS phổ thông với việc phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Sinh
Huy, Nguyễn Văn Lê đăng trên tạp chí phát triển GD (2004). Bài: “Để nâng cao

Footer
Page
16tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 17 of 166.

16

chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong tình hình mới” của các tác giả Nguyễn
Văn Lê, Hà Thế Truyền đăng trên tạp chí giáo dục (2004) v.v. Các tác giả trên đã
có những nghiên cứu mang tính thực tiễn tập trung vào các vấn đề nóng bỏng của
công tác hƣớng nghiệp hiện nay đó là xu hƣớng, động cơ lựa chọn nghề của lớp
trẻ, những định hƣớng giá trị của thanh niên, những nguyên nhân dẫn đến xu
hƣớng, động cơ chọn nghề và định hƣớng giá trị đồng thời nghiên cứu mối quan hệ
giữa giáo dục hƣớng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nƣớc
trong thời kì CNH - HĐH. Từ đó có những biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm
nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Đặng
Danh ánh, Nguyễn Thế Trƣờng, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Minh An, Lê Đức Phúc...

Header Page 18 of 166.

17

Theo lý thuyết hoạt động trong trong tâm lý học, nhân cách của con ngƣời có
bốn nhóm thuộc tính tâm lý điển hình: Xu hƣớng, tính cách, khí chất, năng lực. Xu
hƣớng nói lên chiều hƣớng phát triển của nhân cách con ngƣời, bởi vì hoạt động
của cá nhân trong xã hội bao giờ cũng hƣớng về một mục tiêu nào đó. Không thể
có hoạt động không có phƣơng hƣớng (Tức là không có mục tiêu, không có đối
tƣợng). Sự hƣớng tới này đƣợc phản ánh trong tâm lý mỗi ngƣời nhƣ là xu hƣớng
của nhân cách. Cá nhân có thể hƣớng hoạt động của mình vào một sự vật cụ thể,
một tri thức khoa học hoặc một tƣ tƣởng chính trị đồng thời thúc đẩy hoạt động
nhằm từng bƣớc chiếm lĩnh chúng. Chính vì vậy nhà tâm lý học Liên Xô
X.L.Rubinstein đã khẳng định: “Vấn đề xu hướng trước hết là câu hỏi về khuynh
hướng thúc đẩy như là động cơ quy định hoạt động của con người”. Mỗi ngƣời
hƣớng hoạt động của mình vào cái gì, điều đó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát
triển của nhận thức và tình cảm đối với cái đó. [53]
Nói tóm lại, xu hƣớng là sự xác định mục đích mà cá nhân hƣớng tới đồng
thời xác định hệ thống động cơ tƣơng ứng với hoạt động của con ngƣời nhằm đạt
mục đích. Xu hƣớng của con ngƣời đƣợc biểu hiện ở các mặt sau:
* Nhu cầu: Là sự đòi hỏi tất yếu mà con ngƣời thấy cần đƣợc thoả mãn để tồn
tại và phát triển. Nhu cầu của con ngƣời cũng rất đa dạng: Nhu cầu vật chất gắn
liền với sự tồn tại của cơ thể nhƣ nhu cầu ăn, ở, mặc. Còn nhu cầu tinh thần gắn
liền với sự phát triển của cá nhân nhƣ nhu cầu nhận thức, lao động, giao tiếp, thẩm
mỹ...
* Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tƣợng nào đó, vừa có ý
nghĩa đối với cuộc sống vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình ho ạt
động. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng tính tự giác và tích cực
trong hành động vì vậy hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động. Cùng với nhu
cầu, hứng thú là một thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách.

hay một nhóm động cơ chiếm địa vị thống trị chi phối các động cơ khác của hoạt
động này. Trong ý nghĩa đó, xu hƣớng giữ vị trí điểm nút trong mạng lƣới các mối
quan hệ giữa các thuộc tính trong cấu trúc nhân cách. Nói một cách khác, xu
hƣớng làm nhiệm vụ định hƣớng, điểu khiển, điều chỉnh sự hình thành và phát
triển toàn bộ các thuộc tính của nhân cách làm cho chúng kết hợp hài hoà với nhau
thành một chỉnh thể trọn vẹn. Một khái niệm thống nhất không thể chia cắt đƣợc.
Nói tóm lại, xu hƣớng (với ý nghĩa là động cơ của hoạt động) giữ vị trí trung
tâm trong cấu trúc của nhân cách. Nó quyết định sự hình thành và phát triển toàn
bộ cấu trúc nhân cách nhƣ một chỉnh thể trọn vẹn, cũng nhƣ quyết định sự hình
thành và phát triển mỗi yếu tố tổng hợp thành nhân cách ấy. Nói đến xu hƣớng là
nói đến bộ phận hợp thành quan trọng nhất trong cấu trúc nhân cách. Vì thế nhà
giáo dục nổi tiếng A.X Makarenkô đã rất có lý khi ông cho rằng “Toàn bộ công
việc giáo dục nhân cách con người được qui tụ về việc giáo dục nhu cầu (một mặt
biểu hiện của xu hướng) đúng đắn của nó”. [53]
1.2.1.3. Mối quan hệ giữa xu hướng và năng lực của cá nhân:
Xu hƣớng của cá nhân có quan hệ rất chặt chẽ với năng lực. Xu hƣớng đối với
một hoạt động nào đó thƣờng ăn khớp với năng lực trong lĩnh vực hoạt động đó.

Footer
Page
19tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 20 of 166.

để tồn tại”. [21]

Footer
Page
20tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 21 of 166.

20

Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất
và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân
công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho mỗi con ngƣời khả năng sử dụng phƣơng
tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. [28]
Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ: “Nghề nghiệp nhƣ là một dạng lao động
vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội ), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản
thân) trong đó con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn
những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”. [21]
Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách ngắn
gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo
chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm
chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng. Nhờ quá trình
hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm thoả mãn những nhu

21

để sinh sống”. Còn từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên - Nxb Khoa học xã
hội - 1994) lại định nghĩa “Việc làm: công việc đƣợc giao cho làm và trả
công”.[35]. Trong luật lao động qui định tại điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. Nhƣ
vậy hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm là rất gần nhau, có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau nhƣng không đồng nhất. Nghề nghiệp đƣợc coi là việc làm nhƣng
không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp. Những việc làm nhất thời, không ổn
định do con ngƣời bỏ sức lao động giản đơn và đƣợc trả công để sinh sống thì
không phải là nghề nghiệp. [8], [21]
1.2.2.2. Giáo dục hướng nghiệp:
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận, các tiêu chí... mà có nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm hƣớng nghiệp.
Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sƣ phạm, y học
giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản
thân. Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho
mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đƣa họ vào một
lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với việc phân bố lực lƣợng lao động xã hội.
Nhà tâm lý học K. K. Platônôp cho rằng: “Hướng nghiệp, đó là hệ thống các
biện pháp tâm lý - giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống
thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện,
vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên
sự thống nhất giữa quyền lợi của XH với quyền lợi của cá nhân”. Còn viện sĩ X. Ia.
Batƣsep xác định: “Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở
thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá
nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác” . [9], [21]
Theo GS. TS. Phạm Tất Dong, khái niệm hƣớng nghiệp đƣợc hiểu trên hai
bình diện:
* Trên bình diện xã hội: hƣớng nghiệp nhƣ là một hệ thống tác động của xã hội về

Qua những quan điểm về khái niệm hƣớng nghiệp nêu trên, có thể hiểu một
cách ngắn gọn, dƣới góc độ giáo dục phổ thông, hƣớng nghiệp là sự tác động của
một tổ hợp các lực lƣợng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sƣ phạm làm
trung tâm (nhà trƣờng) vào thế hệ trẻ, giúp các em làm quen và hiểu biết về một số
ngành nghề phổ biến trong xã hội để khi tốt nghiệp ra trƣờng, các em có thể lựa
chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tƣơng lai.
1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp
1.2.3.1. Xu hướng nghề nghiệp:
Có thể nói cho đến nay vẫn chƣa có tác giả nào đƣa ra một khái niệm cụ thể về
xu hƣớng nghề nghiệp. Khi nghiên cứu vấn đề này các nhà khoa học thƣờng tiếp cận
trực tiếp các yếu tố cấu thành của xu hƣớng nhƣ: Nhu cầu nghề nghiệp, động cơ
nghề nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, lý tƣởng nghề nghiệp, nguyện vọng nghề
nghiệp...
* Nhu cầu và động cơ nghề nghiệp:
Tất cả mọi sự lựa chọn nghề đều có xuất phát điểm từ nhu cầu của cá nhân,
khi học sinh thấy rằng trong tình trạng hiện tại của bản thân còn có một khoảng

Footer
Page
23tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 24 of 166.


vững tri thức, mở rộng học vấn, làm giàu nội dung của đời sống tâm lý con người.

Footer
Page
24tâm
ofHọc166.
Số hóa
bởi Trung
liệu – Đại học Thái Nguyên




Header Page 25 of 166.

24

Thiếu hứng thú hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống của con người sẽ trở nên ảm
đạm và nghèo nàn”. Một khi con ngƣời ý thức về giá trị nghề nghiệp đối với mình,
có đƣợc những cảm xúc và sự say mê tích cực trong lao động, học tập nhằm hoàn
thiện mình để đạt tới nghề nghiệp, khi đó ở con ngƣời đã có đƣợc hứng thú nghề
nghiệp. N.C Crupxkaia cũng cho rằng: “Chỉ đối với việc mà họ đang làm, bị cuốn
hút vào công việc - chỉ khi đó con người mới nâng cao tối đa xu hướng hoạt động
của mình không kể đến mệt mỏi”. [21]
Lựa chọn nghề nghiệp là một công việc rất hệ trọng của tuổi học trò trong quá
trình học tập và rèn luyện trong nhà trƣờng, các em dần tự phát hiện ra chính mình
và luôn tìm cách trả lời câu hỏi: “Tôi có thể làm đƣợc việc gì?”.
Đó là một câu hỏi rất nghiêm túc phản ánh tinh thần trách nhiệm của học sinh
trƣớc những đòi hỏi của cuộc sống đang đặt ra cho họ. Các hình thức giáo dục
hƣớng nghiệp của trƣờng phổ thông sẽ góp phần tích cực vào việc giúp thanh niên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status