Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ THỊ TÂM
PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN LÀM CÁC BÀI
THỰC HÀNH PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP 10
THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ
MÔN ĐỊA LÝ
MÃ SỐ: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HỒNG
THÁI NGUYÊN, 2008
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ THỊ TÂM
trưng nổi bật của công nghệ dạy học là sự định lượng hoá mục tiêu dạy học để
việc dạy học trở thành đối tượng có thể quan sát, hệ thống hoá được, trong đó
nội dung dạy học bắt đầu được tổ chức theo xu hướng vận dụng các phương
pháp mới. Theo đó, ngành giáo dục Việt Nam đang từng bước nghiên cứu và áp
dụng công nghệ dạy học cũng như đổi mới PP dạy học, đồng thời chương trình
và sách giáo khoa (CT & SGK) cũng thay đổi phù hợp với nhu cầu học tập đáp
ứng yêu cầu trong quá trình phát triển của đất nước. Hệ thống CT & SGK trong
nhà trường phổ thông các cấp đã có thêm nhiều nội dung mới theo hướng tăng
mạnh kênh hình, giảm dần kênh chữ, tỷ trọng BTH tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, thực trạng giảng dạy trong nhà trường cho thấy thực hành
hiện vẫn là khâu yếu, chưa được quan tâm đầy đủ dẫn tới kết quả học tập của
học sinh chưa tương xứng với yêu cầu. Đây chính là tình hình chung của các
trường phổ thông ở thành phố cũng như vùng nông thôn và đặc biệt là ở vùng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 3 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 4 of 166.
2
khó khăn. Nhìn chung CT & SGK Địa lý trước đây nặng về lý thuyết, các
BTH còn ít nên kỹ năng thực hành của học sinh còn yếu và khả năng vận
dụng kiến thức đã học vào thực tế còn hạn chế, tính năng động, sáng tạo, làm
việc khoa học của người học chưa được phát huy.
Từ năm 2006-2007, CT & SGK Địa lý lớp 10 được triển khai đại trà trên
phạm vi toàn quốc. Đòi hỏi phải ứng dụng các phương pháp dạy học mới theo
hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Theo tinh thần
Header Page 5 of 166.
3
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả bước đầu tìm hiểu một số
phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn làm BTH phần Địa lý tự nhiên
lớp 10 THPT đạt hiệu quả cao.
- Phạm vi ứng dụng của luận văn là một số trường THPT trong địa bàn
tỉnh Thái Nguyên.
5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu và tìm ra các phương pháp tối ưu để giảng dạy các BTH
đã được đề cập tới cả trong và ngoài nước. Song do CT & SGK Địa lý luôn
thay đổi và đây lại là vấn đề tương đối khó, việc nghiên cứu tiến hành phức
tạp, đòi hỏi phải có một quá trình chuẩn bị công phu, vì vậy nó cũng có những
hạn chế nhất định. Các BTH trong SGK thường ít được chú trọng, tâm lý giáo
viên thường ngại dạy vì để dạy tốt BTH thường đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và
phương tiện dạy học kèm theo nên tốn rất nhiều thời gian.
Về phía học sinh để làm tốt các BTH cũng phải có sự chuẩn bị đồ dùng
học tập, sự kiên trì, có óc sáng tạo và nắm chắc kiến thức lý thuyết.
Gần đây, các BTH rất được coi trọng và chú ý. Đã có một số tài liệu đề
cập đến phương pháp để tiến hành giảng dạy các BTH Địa lý nhưng vẫn còn
rất ít ỏi và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu còn hạn chế, chưa
đúng với tầm quan trọng của nó.
Chúng tôi điểm qua một số tác phẩm của Việt Nam và Thế giới đề cập
đến vấn đề này:
* Ở Việt Nam :
- Mai Xuân Cương, Đào Trọng Năng (dịch). Các phương pháp giảng dạy
Địa lý, Nxb GD (1976).
6.1. Phƣơng pháp điều tra thực tế, thu thập tài liệu
- Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách báo chuyên
ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan.
- Tìm hiểu thực tế dạy học Địa lý nói chung và các PP hướng dẫn làm
BTH phần Địa lý tự nhiên lớp 10 nói riêng, đặc biệt là những chương trình có
sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
6.2. Phƣơng pháp phân tích hệ thống
Phương pháp phân tích hệ thống ngày càng được áp dụng rộng rãi trong
các công trình nghiên cứu Địa lý. Phương pháp này được sử dụng để nghiên
cứu tổng hợp Địa lý tự nhiên và Địa lý KT - XH, trong đó các thành phần cấu
tạo luôn có tác động và quan hệ với nhau chặt chẽ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 6 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 7 of 166.
5
Nội dung kiến thức, phương pháp truyền đạt phải được phân tích trong
một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất, sao cho nội dung và phương pháp
cùng hỗ trợ cho việc nắm vững các kỹ năng làm BTH của học sinh.
6.3. Phƣơng pháp bản đồ
Phương pháp Bản đồ được sử dụng phổ biến trong dạy học Địa lý cả Địa
lý tự nhiên và Địa lý KT - XH, vì vậy có thể nói bản đồ là ngôn ngữ đặc biệt
trong Địa lý học.
6.4. Thực nghiệm sƣ phạm
- Tiến hành thực nghiệm một số BTH phần Địa lý tự nhiên trong CT &
SGK Địa lý lớp 10 ban cơ bản và ban nâng cao.
biệt là các trường THPT vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thái Nguyên.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được trình bày làm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Các phương pháp hướng dẫn làm bài thực hành phần Địa lý
tự nhiên lớp 10 THPT.
Chương 3: Kết quả thực nghiệm sư phạm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 8 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 9 of 166.
7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY
HỌC ĐỊA LÍ
Quá trình dạy học hiện đại được nhìn nhận theo quan điểm mới là hoạt
động nhận thức tự giác của học sinh được thực hiện dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới
quan, là tiền đề quan trọng trong sự phát triển nhân cách và trí tuệ.
cần tăng cường sự hỗ trợ của các phương tiện để hình thành kiến thức mới.
1.1.2. Những yêu cầu khi giảng dạy bài thực hành Địa lý lớp 10 THPT
Bài thực hành được giảng dạy sau khi học sinh học các bài lý thuyết và
đã có một số kỹ năng ban đầu. Giờ thực hành yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo, các thao tác thành thạo và phát huy tính năng động sáng tạo,
nguồn trí lực dồi dào trong học tập. Kỹ năng thực hành Địa lí là yêu cầu
không thể thiếu của việc học môn Địa lí bởi các kỹ năng là thước đo kết quả
học tập của học sinh theo xu hướng dạy học tích cực.
Căn cứ vào CT & SGK Địa lí 10 hiện nay việc tổ chức và đổi mới
phương pháp dạy và học bài thực hành Địa lí phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tổ chức cho học sinh học các bài tập thực hành Địa lí bằng phương
pháp tự học có hướng dẫn của giáo viên.
- Xây dựng các phòng thực hành bộ môn với trang thiết bị phù hợp với
mục đích, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu
học tập của học sinh.
- Bài thực hành thường gắn với các thiết bị dạy học nên tổ chức theo kiểu
cá thể hoá hoặc chia nhóm nhằm phát huy vai trò tự học của học sinh.
- Học sinh cần chuẩn bị bài thực hành trước khi tiến hành ở trên lớp.
- Cải tiến việc kiểm tra đánh giá, nâng cao vai trò và khả năng tự đánh
giá của học sinh.
1.1.3. Các phƣơng pháp dạy học Địa lí chủ yếu ở bậc THPT
Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, trên
quan điểm hệ thống nhân tố này được đặt trong mối quan hệ với nhân tố khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 10 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Footer Page 11 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 12 of 166.
10
1.1.4. Xu hƣớng đổi mới các phƣơng pháp dạy học
Trong giáo dục học nhân tố quyết định thành bại là cách thực hiện.
Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, là cách
thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện trong quá trình dạy học
hướng tới mục đích của giáo dục. Vấn đề dạy học hiện nay là phải tổ chức
hoạt động cho người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất: đó là
người học tích cực chủ động lĩnh hội tri thức đồng thời có được kỹ năng cần
thiết để hình thành nhân cách trong ứng xử với xã hội và môi trường.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự tăng trưởng
không ngừng về kinh tế của các nước trên thế giới, những vòng xoáy biến đổi
của nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập đòi hỏi người giáo viên
phải thiết kế được hệ phương pháp dạy học mềm dẻo, linh hoạt, giúp người
học thích ứng, hoà nhập tích cực với cuộc sống hiện thực. Sau nhiều thập kỷ,
hệ thống dạy học cá thể hoá được lặp lại ở trình độ cao tương ứng với bước
phát triển nhảy vọt về chất của vòng xoáy ốc. Dạy học cá thể hoá tương ứng
với nền giáo dục có quy mô lớn và trình độ phát triển cao, đa dạng, luôn biến
động với những hình thức tổ chức đa dạng và linh hoạt đáp ứng nhu cầu học
tập của người học.
Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và đặc biệt là CNTT
đã ảnh hưởng sâu sắc tới sự nghiệp GD & ĐT. Đổi mới phương pháp dạy học
trên cơ sở ứng dụng CNTT là phương pháp làm tăng giá trị và tốc độ trao đổi
cầu thực tế xã hội và đất nước.
Để chọn lọc được kiến thức cơ bản cần căn cứ vào CT & SGK, cần thiết
phải kết hợp với các tài liệu và giáo trình khoa học có liên quan, đảm bảo tính
thống nhất của từng lớp, từng cấp. Muốn thực hiện tốt điều này người giáo
viên cần nắm vững toàn bộ nội dung chương trình, khối lượng kiến thức trong
mỗi tiết học phù hợp với đối tượng và gắn liền với bài tập thực hành kỹ năng
Địa lí. Đọc bản đồ, biểu đồ, khai thác số liệu thống kê... được gắn liền vào
phần bài học, câu hỏi bài tập với tư cách là một phần của nội dung bài giảng
nhằm phát triển tư duy trong dạy học Địa lí, tư duy mang lại kết quả mới về
chất trong quá trình nhận thức của học sinh trên cơ sở phân tích, tổng hợp, so
sánh, hệ thống hoá các hiện tượng địa lí cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 13 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 14 of 166.
12
Rèn luyện và phát triển năng lực tư duy cho học sinh trong quá trình học tập
là yêu cầu không thể thiếu với người giáo viên. Theo cách nói của nhà giáo dục
Đức Đistenxec viết: “Người giáo viên giỏi là người dạy cho học sinh đi tìm chân
lý” bởi kiến thức theo thời gian có thể quên đi những cái còn lại là phương pháp
tư duy độc lập sáng tạo để học sinh biết tự học trong cuộc sống ngoài thực tiễn.
Đây là cái đích mà mỗi giáo viên cần đạt tới trong quá trình dạy học.
Xu hướng cải tiến phương pháp dạy học hiện nay là phương pháp dạy
học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm huy động tối cao chức năng tâm lý và
nhận thức. Cần huy động học sinh tích cực tái hiện, tích cực tìm tòi phát hiện
cái mới, cái hay, cái thú vị và đặc biệt là tích cực sáng tạo. Thông qua các
gắn với người học và nhu cầu của xã hội.
Người giáo viên không đóng vai trò truyền đạt kiến thức mà là người
thiết kế và giúp học sinh thực hiện học tập một cách tích cực, phù hợp với
điều kiện cụ thể.
Từ việc chỉ chuyển giao thông tin trước đây, giáo viên phải biết tạo ra
các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của học sinh. Học sinh được
thách thức tham gia một cách tích cực và sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức
(tự suy nghĩ và tìm tòi bên cạnh việc nghe giảng, làm bài tập...).
Để thực hiện dạy học tích cực có hiệu quả phải sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy và các hoạt động học tập khác nhau, có sự kết hợp giữa các
phương pháp truyền thống và các phương pháp dạy học mới cũng như các
phương tiện dạy học hiện đại phù hợp với từng nội dung và điều kiện dạy học.
Bản chất cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là dạy học thông qua
việc tổ chức các hoạt động cho người học. Người học - chủ thể và hoạt động
học - được cuốn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ
đạo, qua đó được tự lực khám phá cái mình chưa biết chứ không tiếp nhận tri
thức đã sắp đặt sẵn.
Dạy theo cách này không những cung cấp tri thức mà còn hướng dẫn
hành động. Người học phải biết hành động và tích cực tham gia các hoạt động
của cộng đồng. Ở đây học chữ và học làm gắn quyện với nhau. “Tự học làm
đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và phát triển như nhân
cách một con người lao động, tự chủ, năng động và sáng tạo”.
Đối với dạy học tích cực việc rèn luyện phương pháp tự học là rất quan
trọng. Đây không chỉ để nâng cao hiệu quả dạy học mà là mục tiêu của dạy
học. Bởi lẽ sự phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện đại với sự bùng nổ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 15 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức,
hướng dẫn hoạt động học tập độc lập của học sinh có hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 16 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 17 of 166.
15
Để có thể đạt được những yêu cầu nói trên trong việc dạy học tích cực
người giáo viên phải có khâu chuẩn bị chu đáo và công phu trước giờ lên lớp. Từ
nội dung, phương pháp đến cách thức tổ chức dạy học, cũng như việc sử dụng
các phương tiện dạy học như thế nào, đối tượng học sinh ra sao… đều phải được
dự kiến, chuẩn bị trước thì bài học mới có thể thành công, đem lại hiệu quả như
mong muốn. Do đó dạy học tích cực không chỉ tích cực hoá người học mà còn
tích cực hoá người dạy, góp phần đổi mới toàn diện mọi khâu của quá trình dạy
học, trong đó khâu thiết kế bài giảng đóng vai trò quan trọng.
1.2.2. Các phƣơng pháp tích cực trong dạy BTH Địa lí tự nhiên lớp 10
THPT
PP hướng dẫn HS làm các BTH không chỉ nhằm mục đích rèn luyện cho
HS những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng vẽ biểu đồ, lược đồ, kỹ năng phân
tích, so sánh, nhận xét, tổng hợp...các sự vật, hiện tượng Địa lí, mà cao hơn
nữa là giúp cho HS biết vận dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tế. Để
làm tốt các BTH đòi hỏi người học phải vận dụng các kiến thức lý thuyết, từ
đó khắc sâu các kiến thức cũ, hình thành kiến thức mới, đồng thời phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong việc nhận thức các vấn đề Địa
lí tự nhiên, KT - XH.
Trong thực tế khi tìm hiểu các PP dạy học Địa lí ở các trường phổ thông
Gần đây, xu hướng tăng cường phát huy trí lực của HS, PP giảng giải
thường kết hợp với PP đàm thoại để trở thành một biện pháp yêu cầu HS tìm và
phát biểu về mối quan hệ nhân quả. Việc giải thích trước đây thường do GV chủ
động thực hiện, nay được chuyển thành những câu hỏi để cho HS trả lời.
* Phương pháp đàm thoại:
Là PP mà GV là người chủ động khéo léo đặt câu hỏi hoặc hệ thống câu
hỏi để HS trả lời. Trong PP đàm thoại sự tham gia của HS có ở nhiều mức độ.
Điều đó phụ thuộc vào yêu cầu của GV về mục đích của cuộc đàm thoại. PP
này có thể dùng để cung cấp tri thức mới cho HS. Cũng có thể PP này dùng
để phát huy trí lực, gợi mở cho HS làm sáng tỏ những vấn đề mới, giúp cho
HS tự khám phá những tri thức bằng sự tái hiện những tài liệu đã học từ
những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong cuộc sống.
Nếu căn cứ vào mục đích sư phạm của PP đàm thoại, có thể phân ra: đàm
thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại kiểm tra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 18 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 19 of 166.
17
Trong dạy học Địa lí, PP đàm thoại thường được vận dụng trong hầu hết
tất cả các loại bài và cũng thường được kết hợp các PP dạy học Địa lí khác
như: sử dụng bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu...
PP này phụ thuộc vào kĩ thuật đặt câu hỏi của GV và cách tổ chức hoạt
động cho HS.
* Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
18
nó trên bản đồ, chỉ nhờ vào bản đồ mà các đối tượng đó có được tính chất địa
lý của nó. Cũng vì điều này mà các tác giả viết về phương pháp giảng dạy Địa
lý trong cũng như ngoài nước đều giành quan tâm chú ý đến bản đồ giáo khoa
ở nhiều mức khác nhau. Có thể nói, bản đồ về nguyên tắc rất cần thiết cho
việc nghiên cứu, dạy, học Địa lý. Các kiến thức Địa lý, qua trừu tượng hoá
đều được thể hiện trên bản đồ. Ngôn ngữ bản đồ là phương tiện cơ bản để mô
tả các đối tượng Địa lý”.
Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những
mối quan hệ của đối tượng Địa lí trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể mà
không một phương tiện nào có thể làm được, những kí hiệu, màu sắc, cách
biểu hiện trên bản đồ là những nội dung Địa lí được mã hoá, trở thành một
thứ ngôn ngữ đặc biệt “ngôn ngữ bản đồ”.
Về mặt PP, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp HS khai thác,
củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình giảng dạy Địa lí. Để khai
thác được tri thức trên bản đồ, GV cần phải hướng dẫn cho HS hiểu bản đồ,
đọc được bản đồ, nắm được kiến thức lí thuyết về bản đồ, trên cơ sở đó có
được kĩ năng làm việc với bản đồ. Điều đó hoàn toàn đúng với nhận định
“Địa lí bắt đầu bằng bản đồ, kết thúc cũng bằng bản đồ”.
* Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức Địa lí qua các số
liệu thống kê và biểu đồ:
Các số liệu thống kê có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri
thức về Địa lí tự nhiên cũng như Địa lí KT - XH.
Trong Địa lí tự nhiên nhờ số liệu thống kê biết được sự phát triển, mối
quan hệ của các hiện tượng tự nhiên, KT - XH, qua những số liệu, HS có thể
xác định được cơ cấu của các ngành kinh tế, giải thích được tốc độ tăng
trưởng, trình độ phát triển của một nước, hay biết được độ dài của một con
sông, lượng mưa trung bình của một vùng/ năm... Là một trong những biện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần phải học hỏi thêm
những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là
trực tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Vì vậy PP này còn gọi là “Phương pháp
huy động mọi người cùng tham gia”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 21 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 22 of 166.
20
* Phương pháp tìm tòi khám phá:
Đây là PP có giá trị cao trong việc dạy học, nhằm giáo dục cho HS năng
lực sáng tạo, các kỹ năng trí tuệ quan trọng như: phân tích, tổng hợp, so sánh,
khái quát, xử lí các số liệu khác nhau…để rút ra những nhận xét, những kết
luận. Đòi hỏi HS phải nắm tri thức một cách vững chắc, phong phú cả về lí
thuyết lẫn thực tế.
Tìm tòi khám phá là cả một quá trình, một dãy những hoạt động được
tiến hành theo trật tự nhằm khám phá câu trả lời cho một vấn đề định ra trước
đó và được thực hiện theo quy trình sau:
- Nhận biết vấn đề
- Định nghĩa vấn đề
- Thu thập số liệu và dữ kiện thích hợp
- Sắp xếp và phân tích số liệu dữ kiện
- Xây dựng giải pháp
- Thử nghiệm
- Đưa ra kết luận
* Phương pháp ứng dụng CNTT:
cho dạy học.
Với khả năng lưu trữ thông tin với khối lượng lớn cho phép giáo viên có
thể tự thành lập cho mình ngân hàng thông tin để sử dụng khi thiết kế bài
giảng. Ví dụ: các loại bản đồ tranh ảnh, các số liệu thống kê, các video... trong
quá trình dạy học của mình giáo viên có thể tích luỹ, các phương tiện công
nghệ thông tin là nơi lưu giữ được nhiều nhất, tốt nhất, đó là kho tư liệu quý
giá phục vụ tốt cho việc thiết kế bài giảng điện tử.
Nếu máy vi tính được nối mạng thì việc thiết kế bài giảng rất thuận lợi,
nhất là trong điều kiện học sinh được học trên máy vi tính (1-2 HS/máy). Ở
đó giáo viên có thể cập nhật một khối lượng thông tin vô cùng phong phú phù
hợp với nội dung bài dạy, cũng như hướng dẫn cho học sinh có thể khai thác
trực tiếp tri thức (thiết kế bài giảng điện tử dạng mở).
Các chương trình ứng dụng của CNTT cho phép giáo viên có thể xử lý
số liệu một cách đơn giản, hướng dẫn học sinh làm các bài thực hành về biểu
đồ nhanh chóng, tiện lợi như phần mềm Excel. Đồng thời các phần mềm tin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 23 of 166.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 24 of 166.
22
học có nội dung Địa lí giúp cho việc khai thác xây dựng bản đồ Địa lí phù
hợp với từng nội dung dạy học (Mapinfo), đây chính là tiện ích quan trọng đối
với dạy học Địa lí nói chung, thiết kế bài giảng Địa lí nói riêng.
CNTT còn cho phép giáo viên thể hiện bài giảng trên lớp một cách đơn
giản, dễ hiểu, có sức hấp dẫn lớn đối với người học. Cho phép thay đổi, sửa chữa
bản thiết kế một cách dễ dàng, cũng như có thể sử dụng nhiều tình huống học tập
23
1.3.1. Khái quát về tình tình KTXH tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh với diện tích tự nhiên 3546.6 km2 có nhiều dân tộc
anh em cùng sinh sống với dân số 1137.7 nghìn người (2007), là cửa ngõ giao
lưu kinh tế - xã hội của vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các tỉnh
Đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên có thế mạnh về
tài nguyên khoáng sản và một số cơ sở công nghiệp đang trên đà phát triển;
nông nghiệp với tốc độ tăng trưởng hàng năm trên 6%. Cây chè là một trong
những cây công nghiệp mũi nhọn, đồng thời là thương hiệu nổi tiếng trên thị
trường trong và ngoài nước. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm công
nghiệp nặng của vùng Đông Bắc, với các ngành công nghiệp sản xuất sắt
thép, kim loại màu, công nghiệp khai khoáng và cơ khí chế tạo. Thành phố
Thái Nguyên đồng thời là một trong những trung tâm đào tạo với nhiều
trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề tạo động lực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội. Hàng năm, Đại học Thái Nguyên, các trường Cao
đẳng, đào tạo nguồn nhân lực với số lượng lớn cho đất nước. Thái Nguyên là
một trong những trung tâm giáo dục và dạy nghề quan trọng sau Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Tuy nhiên Thái Nguyên cũng còn nhiều vùng khó khăn và đặc biệt khó
khăn có địa hình phức tạp, nhiều dân tộc thiểu số, nền kinh tế chậm phát triển
chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, cơ cấu vật nuôi, cây trồng độc canh, ít ngành
nghề, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH. Đời sống người
dân còn khó khăn, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, giao thông đi lại chưa thuận lợi
nên học tập gặp nhiều trở ngại, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Chất lượng
cuộc sống của người dân tỉnh Thái Nguyên so với cả nước thấp, nguồn thu nhập
chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng năng suất không ổn định, tốc độ gia tăng
dân số còn cao, chỉ tiêu GDP hiện tại còn thấp so với trung bình cả nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên