luận văn thạc sĩ Phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí 10 thpt tỉnh thái nguyên theo hướng tích cực - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------

ĐỖ THÚY NGA

PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG
DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN –2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 1 of 166.




Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------------------------

ĐỖ THÚY NGA

PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG
DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỜNG TÍCH CỰC

quan trong dạy học là điều rất cần thiết.
- Gần đây, các nhà phương pháp nổi tiếng của các nước khác như:
I.I.Alecne, I.D.Dvere...và các nhà phương pháp của Việt Nam nói chung, cũng
như các nhà phương pháp dạy học địa lí nói riêng, khi nghiên cứu về phương
pháp dạy học tích cực cũng cho rằng, phương pháp trực quan tích cực hơn
phương pháp dùng lời, phương pháp thực hành tích cực hơn phương pháp trực
quan trong dạy học địa lí. Như vậy phương pháp trực quan, phương pháp thực
hành trên kênh hình được các nhà phương pháp đánh giá rất cao trong giảng
dạy địa lí, vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh.
Ngoài kiến thức địa lí được tàng trữ ở kênh chữ dưới dạng các khái
niệm, thì các kiến thức địa lí còn được tàng trữ trong kênh hình rất đa dạng,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 3 of 166.

1




Header Page 4 of 166.
chúng có tính trực quan cao và tính diễn giải logic các hiện tượng trong dạy
học địa lí.
Trong chương trình sách giáo khoa địa lí lớp 10, hệ thống kiến thức địa
lí tàng trữ ở kênh hình bao gồm:
+ Các loại hình bản đồ: Qủa Địa Cầu, bản đồ treo tường, bản đồ trong
sách giáo khoa, bản đồ trong át lát, bản đồ câm
+ Các loại tranh ảnh, hình vẽ và bảng biểu
+ Các loại phim ảnh, video clip, phim hình chiếu...

- Xây dựng quy trình sử dụng bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, hình vẽ và
bảng biểu trong việc hình thành kiến thức địa lí cho học sinh lớp 10, THPT
tỉnh Thái Nguyên.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tham khảo các tài liệu khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước để
xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Điều tra và khảo sát, trao đổi và thảo luận với giáo viên và các chuyên
viên địa lí của sở giáo dục về tình hình sử dụng kênh hình Địa lí 10
- Xây dựng quy trình sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy Địa lí 10
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính đúng đắn và tính khả thi của
đề tài
- Viết báo cáo tổng kết dưới dạng luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
IV. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp phần
đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nhiều nhà khoa học giáo
dục trong và ngoài nước đã nghiên cứu việc khai thác kênh hình trong sách
giáo khoa địa lí theo hướng tích cực:
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy
học địa lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng các phương tiện
dạy học địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo Dục, năm 1998.
- Tiến sĩ Hoàng Việt Anh, Vận dụng phương pháp Graph vào giảng dạy
địa lí lớp 6 và lớp 8, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993.
- PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng số liệu thống kê
trong dạy học địa lí kinh tế- xã hội, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 1997.
- Ths. Nguyễn Hữu Huấn, Phương pháp khai thác kênh hình trong dạy
học địa lí ở lớp 7 trung học cơ sở, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, 2005.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 5 of 166.

V. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, do thời gian và kinh phí hạn hẹp,
tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu phương pháp sử dụng kênh hình trong
việc giảng dạy Địa lí 10 cơ bản nói chung và thực nghiệm ở một số trường
THPT tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 6 of 166.

4




Header Page 7 of 166.
VI. Các phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, bao gồm việc nghiên cứu hệ thống
và phương pháp phân tích hệ thống.
- Phương pháp thực địa, bao gồm việc điều tra và khảo sát tình hình sử
dụng kênh hình ở lớp 10, trao đổi với đồng nghiệp về vấn đề này.
- Phương pháp thống kê toán học, bao gồm thống kê và xử lí kết
quả điều tra thực tế, thống kê và xử lí kết quả thực nghiệm phục vụ đề tài.
- Phương pháp thực nghiệm nhằm minh chứng tính đúng đắn và tính
khả thi của đề tài.
VII. Những điểm mới của công trình nghiên cứu
Từ trước tới nay đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng kênh
hình với các khía cạnh khác nhau ở các lớp 7, lớp 9, lớp 10, 11, 12..., song
việc sử dụng kênh hình mang tính tổng hợp ở lớp 10 còn chưa có tác giả nào
quan tâm nghiên cứu, làm cho việc sử dụng kênh hình để dạy học địa lí ở lớp
10 chưa đáp ứng được các yêu cầu của giáo viên THPT.

- Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 8 of 166.

6




Header Page 9 of 166.
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận dạy học
1.1.1.Khoa học Địa lí - Môn học Địa lí - Bài học địa lí là một hệ thống
Khoa học Địa lí ngày nay đã trở thành một hệ thống gồm nhiều ngành
khoa học có đối tượng và nhiệm vụ khác nhau, trong đó có hai ngành chủ yếu
là Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội. Hai ngành này tuy có mục đích,
đối tượng và phương pháp nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau nhưng
chúng không thể tách rời nhau, vì cùng có đối tượng nghiên cứu chung về mặt
không gian là “sự tổ chức lãnh thổ các cấp”. Tương ứng với Khoa học Địa lí
là môn học Địa lí trong nhà trường phổ thông. Môn Địa lí phổ thông cũng
gồm có hai ngành khoa học: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội và được
phản ánh trong chương trình gồm cả hai phần: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế
- xã hội. Trong Địa lí tự nhiên, học sinh được học hệ thống kiến thức địa lí tự
nhiên. Trong Địa lí kinh tế - xã hội, học sinh được học hệ thống kinh tế - xã
hội. Toàn bộ hệ thống kiến thức địa lí đã được chọn lọc, sắp xếp theo một hệ
thống trong từng lớp học từ dưới lên trên: từ Địa lí tự nhiên học đến kinh tế xã hội, hệ thống kiến thức đại cương được cung cấp làm cơ sở cho địa lí khu

1.1.3.Nội dung của bài học địa lí là khái niệm
Khoa học Địa lí là một hệ thống khái niệm được xây dựng như một cơ
cấu dựa trên một nền tảng thực tế địa lí. Môn học Địa lí phổ thông phải lấy
Khoa học Địa lí làm cơ sở. Các nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa
đã tìm hiểu những thành tựu mới nhất, đáng tin cậy của Khoa học Địa lí rồi
chuyển hoá nó thành môn học trong nhà trường. Như vậy, các nhà sư phạm đã
thực hiện chức năng thứ nhất, biến khoa học lớn thành môn học, từ đó giáo
viên mới thực hiện chức năng thứ hai, biến tri thức của môn học ấy thành tài
sản riêng của mỗi học sinh. Muốn làm được điều đó thì phải xây dựng hệ
thống khái niệm, tức là xây dựng môn học. Đây là chức năng thứ nhất của nhà
sư phạm, sau đó người giáo viên phải thực hiện chức năng thứ hai thông qua
hệ thống bài học. Bài học là quá trình thầy tổ chức cho trò hoạt động để lĩnh
hội một khái niệm và kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó, trong một thời gian
xác định, ở một trình độ phát triển nhất định. Khái niệm này vốn tồn tại ở bên
ngoài trẻ em, một cách khách quan, hiện thực, chứ không phải ở trong tư duy:
chỉ sau khi đã thực hiện xong một hoạt động thông qua bài học, thì khái niệm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 10 of 166.

8




Header Page 11 of 166.
mới trở thành cái ở trong tâm lí trẻ em. Do đó quá trình nghiên cứu tổ chức
một bài học, phải bắt đầu từ khái niệm về khái niệm. Khái niệm tồn tại một
cách hoàn toàn “tự nhiên”, hiện thực, không phải do ai “bịa ra”; khái niệm
nằm trong các đối tượng và hiện tượng địa lí. Khái niệm địa lí nằm ở bên




Header Page 12 of 166.
Trong nghiên cứu khoa học địa lí, mỗi khái niệm luôn gắn liền với một
đối tượng, hiện tượng địa lí cụ thể nào đó. Để hình thành khái niệm, người ta
phải nghiên cứu phân tích đối tượng, tìm ra những dấu hiệu bản chất, đặc thù
của đối tượng để phân biệt với các đối tượng khác.
Khái niệm địa lí là sự phản ánh trong tư duy những đối tượng và hiện
tượng địa lí đã được trừu tượng hoá và khái quát hoá, dựa vào các dấu hiệu
bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng
hợp...). Khái niệm địa lí cũng giống như tất cả các khái niệm khác, là kết quả
của tư duy trừu tượng. Nó là đơn vị cơ sở của tri thức địa lí. Khái niệm địa lí
có tính chất không gian, có quan hệ với sự phân bố không gian. Đó chính là
dấu hiệu phân biệt chúng với các khái niệm khoa học khác.
Khái niệm địa lí được phân ra ba nhóm:
- Khái niệm địa lí chung là những khái niệm chỉ toàn bộ một loạt các sự
vật, hiện tượng địa lí cùng loại có những thuộc tính giống nhau
- Khái niệm địa lí riêng là những khái niệm chỉ những sự vật, hiện
tượng địa lí riêng biệt, cụ thể. Mỗi khái niệm địa lí riêng chỉ liên quan đến
một đối tượng, phản ánh tính độc đáo của nó.
- Khái niệm địa lí tập hợp là khái niệm địa lí trung gian giữa khái niệm
địa lí chung và khái niệm địa lí riêng.
Mỗi khái niệm trên đây bao gồm một hệ thống các dấu hiệu, các bộ
phận để chứng tỏ nó là nó chứ không phải cái khác. Những dấu hiệu này biểu
hiện ra ở các hình thức diễn đạt có thể bằng bản đồ, hình vẽ, tranh ảnh, video
clip... Khái niệm có nội dung hiện thực tự nhiên, nội dung đó là quy luật tồn
tại trong các đối tượng, hiện tượng địa lí, nó tồn tại ở hình thức khái niệm tinh
thần, trong đầu và ở bên ngoài, là hình thức vật chất “tàng hình” trong đối
tượng, hiện tượng địa lí và hình thức nhân tạo võ đoán “tàng hình” trong các

có đất dùng để xây dựng nhà máy thuỷ điện và có thể ngăn nước bằng đập –
sau đập tạo thành bể chứa nước – khi mùa nước đập giữ nước thừa lại, còn
khi thiếu nước sự cân bằng nước được duy trì bằng bể chứa nước.
+ Đập để điều chỉnh dòng nước: nước chảy qua đập chủ yếu dùng để
chạy tuốc bin của nhà máy thuỷ điện.
+ Kết quả của việc điều chỉnh dòng nước chảy là cải thiện điều kiện giao
thông vận tải, đường ống nước dùng để tiêu thụ cho sinh hoạt, đường ống dẫn
nước tưới đồng ruộng, đường ống dẫn nước đến các khu công nghiệp.
+ Hồ nước và cảnh quan xung quanh hình thành nơi nghỉ mát.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 13 of 166.

11




Header Page 14 of 166.
Đập là công trình thuỷ lợi quan trọng, xây dựng đập đòi hỏi đầu tư cơ
bản lớn nhưng sinh lợi cao.
Ví dụ 3: Khái niệm “phát triển tổng hợp vùng kinh tế” phản ánh toàn bộ
tính chất phức tạp của những hiện tượng địa lí, vì nó bao gồm hầu hết những
khái niệm cơ sở của địa lí kinh tế:
- Vùng kinh tế
- Vị trí địa lí
- Điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai, thực vật, động vật,
mạng lưới đường thuỷ, thuỷ chế của chúng) - mỏ khoáng sản
- Quan hệ sản xất

Hệ thống khái niệm trong chương trình được cấu trúc một cách lôgic,
chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, hình thành một cách tự nhiên hệ thống
các bản đồ và các hình ảnh đồ họa tương ứng . Điều đó xuất phát từ cấu trúc
lôgic của quá trình tiếp thu kiến thức của người học. Do đó, không phải ngẫu
nhiên mà các nhà phương pháp dạy học địa lí ở trong và ngoài nước nói đến
dạy học địa lí là phải nói ngay đến các phương tiện trực quan như là một công
cụ không thể thiếu được. Đó là một yêu cầu khách quan trong dạy học địa lí
và điều đó làm cho chúng ta dễ hiểu vì sao cấu trúc hệ thống của tài liệu địa lí
tương ứng với cấu trúc hệ thống của bản đồ và các loai hình vẽ, tranh ảnh...
dùng trong nhà trường.
1.1.5.Phương pháp hình thành khái niệm địa lí
Quá trình dạy học một bài học địa lí là quá trình hình thành khái niệm
và kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó. Đó là quy trình dạy học tích cực, quy
trình nhận thức. Đặc điểm cơ bản của quy trình nhận thức là:
- Người học, chủ thể của hoạt động nhận thức, tự mình tìm ra kiến
thức bằng chính hoạt động của mình
- Người học tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học
- Nhà giáo – chuyên gia về việc học – là người tổ chức và hướng dẫn
quá trình kết hợp cá nhân với xã hội hoá việc học tập của người học.
- Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
Từ đặc điểm nhận thức kiến thức trên đây, có thể nói hoạt động nhận
thức là một loại hoạt động tinh thần, không làm biến đổi các đồ vật thực, quan
hệ thực…Dưới sự hướng dẫn của GV, HS hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo, phát triển năng lực, hình thành nhân cách. Quá trình đó được
diễn ra theo con đường nhận thức chung của loài người, con đường biện
chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 15 of 166.


hình phục vụ bài học. Nói một cách khác, thực chất của quá trình này là thầy
tổ chức, trò thi công sử dụng kênh hình địa lí. Đó là đặc trưng của các phương
pháp dạy học tích cực.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 166.

14




Header Page 17 of 166.
Trong quá trình dạy học ở lớp 10, chúng tôi đã vận dụng một số phương
pháp sau để hình thành khái niệm cho học sinh:
1.1.5.1.Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là phương pháp dạy học
đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp giáo viên đưa ra một chuỗi “tình
huống có vấn đề”, “tình huống học tập” và hướng dẫn (điều khiển) học sinh
giải quyết một loạt các vấn đề đó để nhận thức kiến thức địa lí. Tình huống
có vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lí khi học sinh gặp phải
một vấn đề cần giải quyết dựa vào các tri thức đã có hoặc là quá trình giải
quyết vấn đề nảy sinh. Thực chất của phương pháp này là sự tập hợp nhiều
phương pháp, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ xoay quanh việc tạo ra và
giải quyết một tình huống hoặc chuỗi liên tiếp các tình huống có vấn đề. Tình
huống có vấn đề là:
- Tình huống nghịch lí, là tình huống mà vấn đề xuất hiện khi phải lựa
chọn cách giải quyết đúng nhất trong nhiều cách giải quyết đã đưa ra.
- Tình huống bác bỏ, là tình huống xuất hiện khi đã chứng minh được

giữa hình đang học với các hình khác và bản đồ. Học sinh có cơ hội vận dụng
tri thức đã học vào thực tiễn, trước nhất là thực tiễn học tập, giải quyết mâu
thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, phát huy năng lực giao tiếp xã hội...
1.1.5.2. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ
Bản đồ vừa là nguồn tri thức vừa là phương tiện trực quan. Nó giúp học
sinh khai thác kiến thức, củng cố tri thức và phát triển tư duy địa lí. Đối chiếu,
so sánh, phân tích bản đồ học sinh sẽ phát triển được tư duy lôgic, thiết lập
được các mối quan hệ nhân quả, hình thành được các biểu tượng và khái niệm
địa lí rõ ràng. Phương pháp khai thác kiến thức từ bản đồ có một ý nghĩa rất
lớn trong việc học tập địa lí. Bởi vì mỗi kiến thức địa lí đều có liên hệ với bản
đồ bằng hình thức này hay hình thức khác. Không có bản đồ thì kiến thức địa
lí chỉ tồn tại trong tưởng tượng, không có trong thực tế, không có giá trị.
Trong kênh hình bản đồ chiếm tới 70%, hơn thế nữa bản đồ còn là nơi tổng
hợp các thông tin qua biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ, phim video... Không có bản
đồ thì biểu đồ, tranh ảnh, hình vẽ, phim ảnh địa lí... đều không có vị trí địa lí.
1.1.5.3. Phương pháp đàm thoại gợi mở
Phương pháp này đòi hỏi sự khéo léo của giáo viên đặt ra các câu hỏi
cho học sinh trả lời dựa vào sự tái hiện tri thức đã có. Phương pháp đàm thoại
gợi mở giúp học sinh mở rộng. đào sâu kiến thức, củng cố và hệ thống hoá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 18 of 166.

16




Header Page 19 of 166.
kiến thức đã tiếp thu được. Đồng thời giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc


17




Header Page 20 of 166.
thể mạnh là kích thích tính tự giác, tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo học
tập của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu; cải thiện mối
quan hệ giữa thày và trò, trò và trò; phát triển năng lực diễn đạt một vấn đề
khoa học bằng lời; giúp giáo viên thu được những tín hiệu ngược từ kết quả
học tập của học sinh; tạo ra không khí học tập sôi nổi, thoải mái, hứng thú
trong học tập địa lí.
1.1.5.4. Phương pháp báo cáo trong dạy học địa lí
Phương pháp báo cáo là cách thức để học sinh trình bày những nhận
định, những suy nghĩ và hiểu biết của bản thân qua việc tự học dưới sự hướng
dẫn của giáo viên.
Các bước tiến hành phương pháp báo cáo:
- Thu thập thông tin từ sách giáo khoa, sách báo, tạp chí, tài liệu thống
kê, bản đồ, biểu đồ... chọn lọc thông tin có liên quan đến báo cáo.
- Xử lí thông tin. Đánh giá mức độ chính xác của các nguồn tư liệu. Xác
định các nội dung theo đề cương báo cáo. Tổng hợp các thông tin, rút ra
những nhận định phù hợp với bản chất của các đối tượng, hiện tượng địa lí.
Nêu đề xuất nếu có.
- Xây dựng báo cáo. Đề cương báo cáo:
+ Giới thiệu ngắn gọn chủ đề báo cáo
+ Trình bày tóm tắt phương pháp nghiên cứu
+ Trình bày kết quả nghiên cứu
+ Kết luận
- Trình bày báo cáo. Đại diện của mỗi nhóm trình bày, học sinh trong

+ Tiến hành thảo luận trong nhóm
+ Tổng kết thảo luận: đại diện các nhóm trình bày, tranh luận của các
nhóm khác, giáo viên tổng kết đưa ra kiến thức chuẩn.
Phương pháp này là phương pháp mà giáo viên là người tổ chức thảo
luận, học sinh là chủ thể nhận thức, thảo luận, trao đổi ý kiến về một vấn đề
được đặt ra dưới dạng câu hỏi hay bài tập nhận thức. Đây là phương pháp
hoạt động nhận thức tích cực, chủ động; là cơ hội để học sinh tự thể hiện
mình, phát triển kĩ năng giao tiếp và trình độ tư duy; kĩ năng giải quyết vấn
đề, kĩ năng diễn đạt, kĩ năng tập hợp và ghi chép tư liệu...
1.1.5.6. Phương pháp dạy học theo dự án
Dự án là sự dự kiến, thiết kế phác thảo. Phương pháp này thông qua
việc thực hiện dự án mà học sinh có:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 21 of 166.

19




Header Page 22 of 166.
- Các kĩ năng điều tra, bao gồm quan sát, tập hợp mẫu, tập hợp thông
tin từ các nguồn kiến thức khác nhau để rút ra kết luận
- Từ các thông tin thu thập có cơ sở để hiểu rõ, bổ sung cho kiến thức
lí thuyết
- Năng lực tham gia hoạt động cá nhân, tập thể
- Có thói quen suy nghĩ độc lập, có tính kiên nhẫn trong quá trình thực
hiện dự án
- Có trách nhiệm trong việc ra quyết định và phải chứng minh quyết

+ Thảo luận chung cả lớp
+ Giáo viên tổng kết trước lớp
Trong phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ này mọi học sinh
đều được tham gia. Thông qua thảo luận học sinh cùng được chia sẻ thông tin,
học tập kinh nghiệm lẫn nhau. Phương pháp này tạo điều kiện cho học sinh có
khả năng làm việc độc lập và hợp tác sau này. Phương pháp này có thể vận
dụng ở các lớp học có điều kiện học tập khác nhau, nhất là tổ chức khai thác
kênh hình trong các bài học địa lí 10.
Ngoài ra, tác giả còn dùng một số phương pháp khác kết hợp với các
phương pháp trên trong việc hình thành kiến thức địa lí cho học sinh THPT
tỉnh Thái Nguyên.
Tóm lại, muốn khai thác kênh hình được thuận lợi và có kết quả, chúng
tôi thường vận dụng các phương pháp dạy học trên đây để hình thành khái
niệm địa lí.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên có diện tích tự nhiên khoảng 3547 km 2, với dân số
1137,7 nghìn người (2007), có vị trí địa lí quan trọng. Có thế mạnh về tài
nguyên khoáng sản, khả năng phát triển cây công nghiệp dài ngày. Thành
phố Thái Nguyên là trung tâm công nghiệp luyện kim lớn; đồng thời là
một trong những trung tâm giáo dục lớn của khu vực. Bên cạnh đó, Thái
Nguyên cũng gặp không ít khó khăn, địa hình phức tạp, địa bàn cư trú của
17 dân tộc thiểu số, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, cơ sở hạ tầng chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Chất lượng cuộc sống,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 23 of 166.

21

thiết bị dạy và học địa lí đã được các trường mua sắm. Tuy nhiên, vẫn còn
thiếu khá nhiều và chất lượng các thiết bị chưa đảm bảo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

Footer Page 24 of 166.

22




Header Page 25 of 166.
Theo điều tra, khảo sát một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên, cơ sở
vật chất và phương tiện dạy học nhìn chung còn thiếu nhiều các phương tiện,
thiết bị dạy học địa lí, điều đó thể hiện cụ thể trong bảng điều tra sau:
Trường

ChuVăn An


Hồng Phong

Sông Công

Vùng cao
Việt Bắc

Quả Địa Cầu

04


50

65

50

Máy vi tính

50

30

50

45

Phòng địa lí

01

0

0

0

Bảng 1.1. Phƣơng tiện, thiết bị dạy học ở các trƣờng THPT
tỉnh Thái Nguyên
1.2.3. Tình hình giảng dạy và học tập địa lí hiện nay ở các trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status