Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
----------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT-TỈNH ĐẮK LẮK
TRONG GIAI ĐOẠN 2011 -2015
GVHD
: THẦY : TRẦN ĐÌNH VINH
SVTH
: NGUYỄN CAO CƢỜNG
LỚP
: NHÂN LỰC 2- KHOÁ 33
NGÀNH : KTLĐ & QLNNL
MSSV
Trang 1
Buôn Ma Thuột, tháng 4 năm 2011
SINH VIÊN THỰC HIỆN
NGUYỄN CAO CƢỜNG
Trang 2
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
Nhận xét của cơ quan thực tập
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Trang 4
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
1
1
2
2
2
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM - THẤT
NGHIỆP
3
3
3
3
3
4
5
5
5
6
6
7
7
9
9
9
10
10
10
11
12
12
12
13
22
22
Chuyên đề tốt nghiệp
CHUƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT GIAI
ĐOẠN 2011- 2015
3.1 Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo
3.1.2 Đối tượng đào tạo nghề
3.1.3 Chỉ tiêu
3.1.4 Giải pháp thực hiện
3.1.5 Tổ chức thực hiện
3.1.6 Kinh phí
3.2 Các biện pháp, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh
tế, phát triển cơ sở hạ tầng và chính sách huy động đầu tư trên địa bàn
3.2.1 Về phát triển kinh tế
Trang 6
22
22
22
23
24
26
26
27
32
32
32
32
33
34
34
3.2.1.2 Về Thương mại - dịch vụ
3.2.1.3 Về Nông nghiệp, nông thôn
3.2.2 Về Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
3.2.3 Về giải pháp huy động vốn đầu tư
3.3 Về công tác cải cách hành chính
3.4 Kiến nghị, đề xuất
45
46
47
47
48
49
51
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
52
Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Việc làm là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn
các năm, chưa được sử dụng hết là một sức ép rất lớn về việc làm , ảnh hưởng đến đời
sống kinh tế xã hội trong toàn thành phố.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm ở thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay
nhằm đánh giá đúng thực trạng, tìm ra phương hướng và những giải pháp hữu hiệu để sử
dụng hợp lý nguồn lao động đó đang là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa thiết thực cả về
lý luận và thực tiễn. Do đó, em chọn đề tài: "THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT - TỈNH ĐẮK LẮK
TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 " làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 8
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là thị trường lao động, các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến
việc tạo việc làm, gắn kết cung và cầu lao động. Số liệu sử dụng trong chuyên đề chủ yếu
lấy tại thành phố Buôn Ma Thuột.
Phạm vi nghiên cứu: Vì vấn đề việc làm, thị trường lao động tương đối rộng, nên
chuyên đề chỉ giới hạn xem xét vấn đề hiện tại giữa cung - cầu lao động, sử dụng thời
gian lao động theo hành lang pháp lý của Việt Nam về lao động.
Phƣơng pháp nghiên cứu:
Chuyên đề này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp phân tích đánh giá thực trạng
để bổ sung lý luận, gắn lý luận với thực tiễn dưới sự hướng dẫn giúp đỡ của thầy Trần
Đình Vinh.
Chuyên đề sử dụng thu thập số liệu thống kê và kết quả điều tra khảo sát từ các báo
cáo tổng kết, các tạp chí về các mô hình tạo mở việc làm.
Nội dung nghiên cứu:
thời gian làm việc cam kết. Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho người khác sử
dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa, sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi
thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao.
Theo nghĩa rộng, người lao động là người làm công ăn lương. Công việc của người lao
động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động. Thông qua kết
quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà người lao động
được hưởng lương từ người chủ thuê lao động. Ở nghĩa hẹp hơn, người lao động còn là
người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
(cách hiểu này ảnh hưởng từ quan niệm cũ: phân biệt người lao động với người trí thức).
Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động, có khả
năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao
động. Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người
lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp
đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc. (Link sang Luật
lao động).
Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấp sức lao động
- một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ, hàng hóa cơ bản của
nền kinh tế. Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm
lao động đối với tổ chức, người khác.
1.1.1.2 Nguồn lao động.
Nguồn lao động là toàn bộ nhóm dân cư có khả năng lao động đã hoặc chưa tham gia
vào các hoạt động sản xuất xã hộ. Bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế.
- Quy mô nguồn lao động ở các quốc gia khác nhau thì khác nhau tuy nhiên nó đều
phụ thuộc vào 3 yếu tố sau:
+ Quy mô phát triển dân số, dân số càng phát triển nhanh thì nguồn lao động càng lớn
+ Tỷ lệ nguồn lao động trong dân số.
+ Chế độ chính trị, xã hội, điều kiện tự nhiên của đất nước.
- Nguồn lao động được thể hiện khả năng lao động xã hội nói lên lực lượng xã hội trong
Trang 10
nghề, cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn đại học và trên đại học chưa được bố trí
sử dụng hợp lý. Đó chính là vấn đề đặt ra đối với mọi cấp, mọi ngành quan tâm nghiên
cứu, đặc biệt các ngành chuyên môn về tổ chức lao động, giải quyết việc làm và dân số ở
nước ta.
1.1.1.3 Lực lƣợng lao động.
Lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động
(thường là lớn hơn một độ tuổi nhất định (trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi)) và chưa đến
tuổi nghỉ hưu (thường trong khoảng 65 tuổi) đang tham gia lao động. Những người
không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha
mẹ ở nhà, những người trong tù, những người không có ý định tìm kiếm việc làm. Ở Hoa
Kỳ, lực lượng lao động được xác định là những người từ 16 tuổi trở lên, đã có việc làm
hoặc đang tìm kiếm việc làm. Các Luật lao động trẻ em ở Hoa Kỳ cấm việc thuê người
dưới 18 tuổi trong các nghề nguy hiểm.
Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
1.1.1.4 Việc làm - Phân loại việc làm.
1.1.1.4.1 Việc làm.
Theo điều 13 của Bộ Luật Lao Động thì: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào
các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Một người lao động có việc làm khi người ấy
chiếm được một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm
để người ấy thực hiện quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập của người ấy.
Mỗi một hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội thì khái niệm việc
Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
tối thiểu cho người lao động ( Nước ta hiện nay quy định mức lương tối thiểu cho một
người lao động trong một tháng là: 730.000 đồng).
Vậy với những người làm việc đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn tiền
lương tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ.
+ Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những
việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quỹ thời gian
lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành
việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm.
Theo tổ chức lao động thế giới ( Viết tắt là ILO ) thì khái niệm “thiếu việc làm” được
biểu hiện dưới hai dạng sau:
- Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn
quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kĩ năng lao động thấp, điều kiện
lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường có mong muốn
tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn.
Thước đo của thiếu việc làm vô hình là:
Thu nhập thực tế
K=
x 100%
Mức lương tối thiểu hiện hành
- Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn
quỹ thời gian quy định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm
và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thược đo của thiếu việc làm hữu hình là:
+ Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do không
phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu
lao động (số chỗ làm việc). Sự không phù hợp có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu
cầu hoặc do biến đổi từ phía cung của lực lượng lao động. Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu
biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng
cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm chí còn trầm trọng hơn với một số đối
tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn.
+ Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn hạn hoặc dài hạn do giảm
tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc
không tăng số việc làm.
Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế ở nước
ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ đọng sản phẩm ở một số
ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá
trình cải cách doanh nghiệp nhà nước và dôi dư lao động.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến tạo việc làm.
Tạo việc làm cho người lao động là một công việc hết sức khó khăn và nó chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố như: Vốn đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị trường về sản phẩm.
Bởi vậy tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố trên thông qua nó để người lao
động tạo ra các của cải vật chất (số lượng, chất lượng), sức lao động (tái sản xuất sức lao
động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác.
Ta có thể biểu thị mối quan hệ giữa việc làm với một số nhân tố cơ bản qua hàm số
sau.
Y= F (x,z,k,..,n)
Trong đó:
Y: số lượng việc làm được tạo ra.
x : số vốn đầu tư.
z : sức lao động.
k : nhu cầu của thị trường về sản phẩm.
Ta nhận thấy rằng: Khối lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các yếu tố trên.
Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở rộng quy mô sản
đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và
ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên: Việc làm ổn định luôn tạo cho người lao động
một tâm lý yên tâm trong công việc để lao động hiệu quả hơn.
+ Tạo việc làm không ổn định: Được hiểu theo hai nghĩa. Đó là: Công việc làm ổn định
nhưng người thực hiện phải liên tục năng động theo không gian, thường xuyên thay đổi
vị trí làm việc nhưng vẫn thực hiện cùng một công việc. Công việc làm không ổn định
mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn.
Mục đích ý nghĩa của tạo việc làm:
Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu
sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động. Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng, nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng
lớn lao đối với từng người lao động và toàn xã hội.
Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các
tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội. Về mặt xã hội tạo việc làm nhằm mục
đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm
được tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Không có việc làm là một trong những nguyên
nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút...giải quyết việc làm
cho người lao động nhất là các thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có ăn
việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đòi hỏi. Về mặt kinh tế khi con
người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để
thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời sống của người lao động.
Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập. Người lao động không muốn làm ở những nơi
Trang 15
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
trò của xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh
thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội và người.
Việc làm là nơi diễn ra những hoạt động của người lao động, những hoạt động này được
công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thể hiện những kết
quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn.
Tạo việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm và có thu nhập để tái sản
xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và do đó hạn chế được những phát sinh
tiêu cực do thiếu việc làm gây ra.
Tạo việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc nhu cầu lao động của con người vì lao động là
phương tiện để tồn tại chính của con người.
Trang 16
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
Do đó mọi chủ trương chính sách đúng đắn là phải phát huy cao độ khả năng nguồn
lực con người, nếu có sai phạm thì nguồn lao động sẽ trở thành gánh nặng, thậm trí gây
trở ngại, tổn thất lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội. Vì vậy một quốc gia giải quyết tốt
vấn đề việc làm cho người lao động là thành công lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội, chính tri của mình.
1.1.4 Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
1.1.4.1 Năng suất lao động.
Năng suất lao động là một phạm trù kinh tế nói lên hiệu quả kinh doanh của con
người. Được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay lượng
thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng bởi quan hệ
so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
1.1.4.3 Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề.
Mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực, nó được biểu hiện bởi yêu cầu của ngành nghề lao động hiện có trong
ngành nghề đó.
Bất kỳ một ngành nghề nào đó cũng có một số chỗ làm việc nhất định, muốn các
ngành nghề đó đi vào hoạt động thì phải cần có hoạt động của người lao động trong đó
người lao động tham gia vào trong ngành nghề đó thông qua các chỗ làm việc và được
biểu hiện bởi quy mô ngành nghề và hiệu quả ngành nghề đó khi nó đi vào hoạt động.
Chỉ tiêu mức độ phù hợp của cơ cấu ngành nghề chủ yếu nhằm đánh giá hiệu quả của
quá trình sử dụng nguồn nhân lực của ngành nghề đó và được biểu hiện bởi hai chỉ tiêu
nhỏ đó là:
+ Chỉ tiêu phù hợp về số lƣợng lao động:
Đó là chỉ tiêu biểu hiện sự so sánh giữa nhu cầu về số lượng của một ngành nghề nào
đó, một bộ phận nào đó với số lao động hiện có đang thực hiện lao động trong ngành
nghề, bộ phận đó:
k= N/D (%)
Trong đó:k: Hệ số phù hợp về số lương lao động của một ngành nghề hay một bộ
phận.
D: Số lượng lao động mà ngành nghề hay bộ phận cần có để có thể hoạt
động được.
N: Số lượng lao động thực tế đang làm việc trong một ngành nghề hay bộ
phận đó.
Chỉ tiêu này chỉ phản ánh được quy mô lao động trong một ngành nghề có phù hợp
với nhu cầu lao động của ngành nghề đó hay không, qua chỉ tiêu này ta có thể xem xét
được ngành nghề, bộ phận đó có sử dụng hiệu quả lao động hay không, có thể thừa hoặc
thiếu lao động, cả hai khả năng này phản ánh sự lãng phí và thiếu hụt sức lao động và là
nguyên nhân chính nói lên sự mất cân đối giữa các ngành, bộ phận lao động.
+ Chỉ tiêu phù hợp về chất lƣợng lao động:
trong một tổ chức.
1.2 Thực Trạng Lao động- việc làm ở Việt Nam.
1.2.1 Dân số, lao động, việc làm
Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm
2009, bao gồm dân số nam 42,97 triệu người, chiếm 49,4% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%;
dân số nữ 43,96 triệu người, chiếm 50,6%, tăng 1%.
Trong tổng dân số cả nước năm 2010, dân số khu vực thành thị là 26,01 triệu người,
chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,92
triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63%. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2010 ở mức 97,7 nam
trên 100 nữ (Năm 2009 tỷ lệ này là 97,6/100).
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2010 là 50,51 triệu người, tăng 2,68% so với
năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,21 triệu người, tăng
2,12%. Tỷ lệ dân số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm
2009 lên 77,3% năm 2010.
Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 51,9% năm 2009 xuống
48,2% năm 2010; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,6% lên 22,4%; khu vực dịch
vụ tăng từ 26,5% lên 29,4%.
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó khu vực thành
thị là 4,43%, khu vực nông thôn là 2,27% (Năm 2009 các tỷ lệ tương ứng là: 2,9%; 4,6%;
2,25%). Tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,50%, trong đó khu
vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47% (Năm 2009 các tỷ lệ tương ứng là:
5,61%; 3,33%; 6,51%).
Trang 19
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
2006
2007
2008
Sơ bộ 2009
4967,4
204,2
3,7
123,1
618,5
4916,0
197,6
3,3
121,6
595,1
4988,4
194,3
2,5
120,2
566,7
5059,3
190,9
2,3
106,5
94,0
94,5
94,7
34,2
33,7
36,7
38,6
40,0
195,9
193,3
209,2
214,8
215,7
70,2
1493,8
1491,1
1070,1
220,2
39,3
1096,4
227,4
43,3
1165,2
233,0
43,9
1205,2
240,9
46,0
1211,5
241,4
48,2
105,3
110,2
112,6
2004
2005
2006
2007
2008
2009
39535,5
40042,6
40522,2
40999,9
41448,6
41957,8
42597,2
9116,3
9213,1
9177,7
9206,9
9269,0
9348,8
Tây Nguyên
2286,9
2349,0
2406,9
2454,4
2491,8
2526,5
2592,3
Đông Nam Bộ
5674,2
5854,7
sông Hồng
Trung du, miền
núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ,
Duyên hải miền
Trung
Bảng 3: Dân số nữ trung bình phân theo địa phƣơng:
Nghìn người
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
40932,9
41395,1
41871,3
42313,1
5538,2
5551,5
9395,3
9429,3
9466,0
9489,7
9522,2
9528,9
9521,6
Tây Nguyên
2274,3
2315,2
2361,3
2406,5
2456,2
8645,2
8684,0
8666,5
8650,7
CẢ NƢỚC
Đồng Bằng
sông Hồng
Trung du, miền
núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ,
Duyên hải miền
Trung
Tổng cục Thống kê vừa cho biết, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ
tuổi là 2,88%, trong đó tình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và
nông thôn là 2,27%. So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất
nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02%. Năm
2009, các tỷ lệ này tương ứng là 2,9%; 4,6%; 2,25%.
Trang 21
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010
4988,4
5059,3
Trung ương
2584,8
2559,7
2570,4
2577,7
Địa phương
2382,6
2356,3
2418
2481,6
Kinh tế ngoài nhà nước
36694,7 37742,3 38657,4 39707,1
Tập thể
294,2
279,1
275,1
149,6
Tư nhân
2355,6
2730,8
3060,5
3873,4
Cá thể
34044,9 34732,4 35321,8 35684,1
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
1112,8
1322
1562,2
4523,5
4754,2
4984,1
5131,5
Khách sạn và nhà hàng
703,8
728,2
766,6
793,7
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc
1107,9
1128,4
1146,6
1167
Tài chính tín dụng
143,3
169,9
197,7
210,3
Hoạt động khoa học công nghệ
22,6
25
25,8
26,8
Hoạt động kinh doanh tài sản, tư vấn
138,8
166,1
203,4
240,2
Quảnlí nhà nước;bảo đảm xãhội bắt buộc
Trang 22
5031,1
2538,2
2492,9
41100,8
140,2
3038,3
37922,3
1611,7
23022
1766,5
477,4
6851,2
262,6
2692,8
5275,7
816,4
1198,4
219,6
27,3
257,8
1818
1375
391,5
133,7
198,1
959,6
thuộc tính, thể hiện chất lượng lao động của một quốc gia, một địa phương, đó là:
- Nhóm thể hiện “năng lực xã hội của lao động” (thể lực, trí lực, và nhân cách).
- Nhóm thể hiện “tính năng động xã hội của lao động” (năng lực hành nghề, khả năng
cạnh tranh, khả năng thích ứng và phát triển…).
Trang 23
Chuyên đề tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Cao Cƣờng
Chất lượng lao động được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định lượng. Hệ thống chỉ
tiêu này có thể bao gồm các nhóm sau:
- Các chỉ tiêu đánh giá về thể lực của lao động (phản ánh tình trạng sức khoẻ, khả năng
lao động).
- Các chỉ tiêu đánh giá về trí tuệ của lao động (trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật).
- Các chỉ tiêu đánh giá về nhân cách (đạo đức, lối sống, tác phong trong lao động…).
- Các chỉ tiêu đánh giá về tính năng động xã hội của lao động (khả năng sẵn sàng làm
việc, tình trạng việc làm, khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng trong công việc…).
Trong kinh tế thị trường và hội nhập, vấn đề nâng cao chất lượng lao động là yếu tố quyết
định và là giải pháp có tính đột phá, then chốt để tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao khả
năng cạnh tranh các sản phẩm của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, đi vào kinh
tế tri thức.
Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta luôn duy trì tăng trưởng ở mức
cao và ổn định (7,5%/năm), một trong những nhân tố quan trọng đóng góp cho tăng
trưởng là yếu tố lao động. Theo đánh giá của tổ chức quốc tế, yếu tố lao động Việt Nam
tham gia vào thị trường khoảng 20%, yếu tố vốn 57,5%, yếu tố các nhân tố tổng hợp
22,5%.
Năm 2010, cả nước đưa 85.546 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó
thị
thôn
CẢ NƢỚC
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
%
Tỷ lệ thiếu việc làm
Thành Nông
Chung
thị
thôn
2,38
2,29
1,13
4,65
5,35
4,17
1,53
1,29
0,61
4,12
1,00
2,05
2,35
5,12
2,13
6,39
3,72
1,03
3,59
5,65
3,69
7,11
Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế, đến cuối năm 2009, cả nước đã có 133.262 lao động bị mất việc làm chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp (DN) có báo cáo, chưa kể 40.348
lao động ở các làng nghề bị mất việc làm và khoảng 100.000 người phải giảm giờ làm,
nghỉ luân phiên.
Báo cáo "Xu hướng việc làm Việt Nam" do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
công bố cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người trong độ tuổi 15 đến 24 tăng mạnh
từ 4,7% lên 6% trong khoảng thời gian từ 1997-2007. Vấn đề việc làm thanh niên càng
trở nên quan trọng khi tính tới yếu tố tăng trưởng nhờ dân số.
Năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là trên 2,8% Ngày 31/12, Tổng cục Thống
kê cho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đó tình
trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%.